ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------

Số: 97/CT-UB

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 06 năm 1979

CHỈ THỊ

VỀVIỆC GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC LÀM CHO NHỮNG NGƯỜI HIỆN NAY CHƯA CÓ VIỆC

Từ sau ngày giải phóng đến nay, Đảng và chính quyềncác cấp ở thành phốđã có nhiều cố gắng giải quyết nạn thất nghiệp trầm trọng do chế độ cũ để lại.Hàng chục vạn người đã đượctổ chức đi hồi hương, xây dựng vùng kinh tế mới, thu nhận vào làm việc ở các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị Nhànước. Những người mắc các bệnh tật, tệ nạn xã hội cũ được chữa trị, giáo dục,cải tạo, đưa vào đội ngũ những người lao động chân chính. Tuy nhiên, cho đếnnay, vẫn còn khoản 25 vạn người chưa có việc làm. Đây là một lực lượng lao độngquan trọng, trong đó có nhiều người có sức khoẻ, có tay nghề, chịu lao động,nếu khéo sắp xếp tổ chức, khai thác các nguồn vật tư, nguyên liệu, phế liệu,phế phẩm, đất đai, tài nguyên của thành phố và của các tỉnh bạn thì có thể đưalực lượng lao động này vào sản xuất ra của cải vật chất, chẳng những bảo đảmđược đời sống cho bản thân họ, mà còn tạo điều kiện cho họ góp phần xây dựngchủ nghĩa xã hội, hạn chế một số mặt tiêu cực cùa đời sống xã hội, đảm bảo trậttự trị an của thành phố.

Quán triệt tinh thần nghị quyết số 201-CP của Hội đồngChính phủ và chỉ thị số 85/TTg ngày 12-3-1979 của Thủ tướng Chính phủ, để giảiquyết công việc làm cho những người có khả năng lao động còn chưa có việc làm ởthành phố, Ủy ban nhân dân thành phố chỉ thị:

I. PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC LÀM:

1/ Mọi người trong độ tuổi lao động, có khả năng laođộng, đều có quyền có công ăn việc làm và đều có nghĩa vụ lao động. Đảng và chínhquyền các cấp chịu trách nhiệm nắm chắc lực lượng lao động, bố trí tổ chức, sắpxếp công việc làm cho người lao động, phát huy tài, sức của họ, cống hiến mộtcách có lợi nhất cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước mắt, phải tập trunggiải quyết, sắp xếp công việc làm cho những người chưa có việc để từng bước ổnđịnh đời sống của nhân dân.

2/ Chính quyền nhân dân các cấp, nhất là Ủy ban nhândân phường, xã phải điều tra nắm lại lực lượng lao động về tuổi, giới tính, taynghề, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình từng người để làm cơ sở cho việc sắp xếpcông việc làm. Phải phát huy tinh thần tự lực tự cường, khai thác triệt để mọitiềm năng sẵn có của địa phương, phát triển thêm nhiều cơ sở sản xuất, giacông, chế biến tiểu thủ công nghiệp, các cơ sở dịch vụ, sửa chữa... tạo thêmnhiều công việc làm tại chỗ để sắp xếp cho những người nội trợ, yếu sức,gia đình thương binh liệt sĩ, neo đơn, những người có tay nghề phù hợp với cácngành sản xuất ở thành phố và chuyển một số tiểu thương sang sản xuất.

3/ Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố đã có kế hoạchmở ra nhiều công trường, nông trường, lâm trường tại thành phố và ở các tỉnh,có khả năng thu hút hàng vạn lao động, vừa để giải quyết đời sống cho họ, vừacung cấp nguyên vật liệu, lâm sản, thực phẩm cho các ngành sản xuất và đời sốngcủa nhân dân thành phố. Cần tích cực huy động lao động, chú trọng những ngườicó sức khỏe, có tay nghề phù hợp, tổ chức những tổ, đội lao động chuyên nghiệpđi làm lao động thủy lợi, khai hoang xây dựng nông trường và vùng ven thànhphố, khai thác lâm sản ở Lòng Hồ, Sông Bé, Đồng Nai, xây dựng cơ sở nông nghiệpở Đaknong, Lâm Đồng, v.v...

4/ Sau khi đã tích cực vận động, giáo dục, sắp xếpcông việc làm phù hợp, còn có những người chây lười lao động, làm ăn phi pháp (buônbán chợ trời, buôn vé chợ đen, ..), mặc dầu có khuyên răn, giáo dục nhưng vẫnkhông chịu tham gia lao động thì thực hiện biện pháp bắt buộc lao động. Cần phảiquán triệt chủ tương của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố: Tập trung tổchức giải quyết công việc làm cho những người chưa có việc là chủ yếu, áp dụngbiện pháp bắt buộc lao động trong những trường hợp hết sức cần thiết, đúng đốitượng, tránh tràn lan, cũng là nhằm mục đích giáo dục, thúc đẩy những ngườicố tình trốn tránh lao động hiểu rõ và tự nguyện làm nghĩa vụ lao động đểchuyển hướng theo con đường lao động làm ăn chân chính.

5/ Đối với bọn phạm pháp hình sự, bọn lưu manh, cônđồ du đãng, đầu cơ, buôn lậu và những người mắc các tệ nạn xã hội không thuộcdiện nói trên, thì phải tiếp tục tập trung giáo dục, cải tạo, điều trị bịnhtheo chủ trương của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành.

Riêng đối với bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn can ánhình sự nhiều lần, Sở Công an phải tổ chức quản lý đưa đi giáo dục cải tạolâu dài xa thành phố.

II. BIỆN PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ:

1/ Chi cục Thống kê cùng Sở Lao động dựa vào tổ dânphố từng phường có kế hoạch tiến hành điều tra nắm chắc lực lượng lao động củathành phố nhằm phục vụ cho việc bố trí lại lực lượng lao động, ổn định dân cư,phát triển kinh tế, giải quyết đời sống cho nhân dân. Công tác điều tra cơ bảntình hình lao động thành phố phải hoàn thành trong năm 1979.

Trước mắt, phải hướng dẫn cho Ủy ban nhân dân phường,xã tiến hành điều tra lập danh sách những người chưa có việc làm: tuổi, nghềnghiệp, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, v.v.. làm cơ sở cho việc giải quyết côngviệc làm.

2/ Đảng ủy và Ủy ban nhân dân phường, xã cần tập trungchỉ đạo có kế hoạch phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể làm tốt một đợt tuyêntruyền giáo dục sâu rộng trong nhân dân, làm cho những người chưa có việc làmthực sự tự nguyện lao động, làm ăn chính đáng ; tiến hành vận động nhân dân,phát huy tinh thần làm chủ tập thể, đoàn kết tương trợ lẫn nhau, phát huy sángkiến, huy động khả năng sẵn có của nhân dân tự tổ chức công việc làm ăn với sựgiúp đỡ của chính quyền.

Các cơ quan thông tin, báo chí cần tích cực hỗ trợcho phường, xã trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

3/ Sở Lao động và Ủy ban nhân dân các quận, huyện cầnnghiên cứu rút kinh nghiệm những nơi đã làm tốt như phường 10 (quận 3), phường22 (quận 6), phường 7 (quận 11), phường 5 (quận Bình Thạnh), phường 4 (quận GòVấp).. để phổ biến, hướng dẫn cho các phường, xã tiến hành giải quyết công việclàm cho nhân dân. Sau đó, định kỳ sơ kết và tiếp tục chỉ đạo thực hiện chủtrương của Ủy ban nhân dân thành phố. Cần nghiên cứu có biện pháp tập trung vàomột số phường ở một số quận còn nhiều lực lượng lao động để giải quyết cho đượctrong một thời gian ngắn nhất.

4/ Các ngành chức năng của thành phố và Ủy ban nhândân các quận, huyện phải thường xuyên theo dõi, kịp thời giải quyết những khókhăn cho phường, xã trong việc cung cấp vật tư, nguyên liệu, phế liệu, phế thải,giải quyết các chính sách gia công, giá cả, thu mua, tiêu thụ sản phẩm, tiềncông. Đối với những cơ sở tiểu thủ công có trang bị máy móc, kỹ thuật, cần cóđịa điểm, Sở Quản lý nhà đất phải ưu tiên giải quyết chỗ cho cơ sở sản xuấtnày.

5/ Đối với những người trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động, sau khi đã được Ủy ban nhân dân phường, xã giáo dục, giải thích,sắp xếp công việc làm phù hợp rồi, mà vẫn trốn tránh, lười biếng không chịu laođộng hoặc tiếp tục làm ăn phi pháp thì Ủy ban nhân dân phường, xã mời đến cảnhcáo, quy định thời hạn 15 ngày phải tham gia lao động theo sự sắp xếp của chínhquyền địa phương hoặc tự kiếm công việc làm và báo cáo với chính quyền phường,xã. Nếu quá hạn, vẫn không chịu làm việc thì áp dụng biện pháp bắt buộc laođộng.

Ủy ban nhân dân quận, huyện xét duyệt danh sách vàký lệnh bắt buộc lao động tại chỗ theo đề nghị của Ủy ban nhân dân phường, xã.

Ủy ban nhân dân thành phố xét duyệt và ký lệnh bắtbuộc lao động xa thành phố và lệnh tập trung cải tạo theo đề nghị của Ủy ban nhândân các quận, huyện.

Việc phân loại, xét duyệt danh sách, thời hạn bắt buộclao động hoặc tập trung cải tạo phải theo đúng quy định trong chỉ thị số 85-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ và quyết định số 1531/QĐ-UB ngày 25-11-1977 của Ủy bannhân dân thành phố. Phải làm thận trọng, không để sai sót, nhầm lẫn.

Những người bị bắt buộc lao động tại chỗ hoặc xa thànhphố vẫn được hưởng mọi quyền lợi như những người công dân khác. Người được xóakỷ luật thì không ghi lý lịch việc bị bắt buộc lao động.

Những người bị bắt buộc lao động tại chỗ do Ủy bannhân dân phường, xã giao việc, do Công an, Đoàn thanh niên và Lao động phường, xãquản lý.

Những người bị bắt buộc lao động xa thành phố do Ủyban nhân dân quận, huyện giao việc, Công an quận, huyện kết hợp với Đoàn thanhniên Cộng sản quận, huyện quản lý và tổ chức cho họ lao động.

6/ Sở Công an cùng với Sở Lao động, Sở Thương binhvà xã hội, Thành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các cơ quan hữu quan chịutrách nhiệm nghiên cứu rút kinh nghiệm các trại lao động cải tạo tập trung đãlàm tốt, xây dựng đề án chấn chỉnh các trại hiện có, giải quyết các chế độ, chínhsách đối với trại viên, đào tạo bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý trại và kiếnnghị đầu tư xây dựng những trại mới, trình Ủy ban nhân dân thành phố duyệttrong tháng 7-1979.

III. TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN:

Để thực hiện phương hướng nhiệm vụ và các biện phápnói trên cần thành lập ở thành phố, quận, huyện, phường, xã mỗi nơi một “Banchỉ đạo sắp xếp việc làm” để chuyên lo vấn đề này.

Ở cấp thành phố: Ban chỉ đạo gồm:

- Truởng ban: đ/c Phan Văn Khải, Phó Chủ tịch Ủy bannhân dân thành phố,

- Phó ban thường trực: đ/c Lâm Văn Sáu, Giám đốc SởLao động.

- Phó ban: đ/c Cáp Xuân Diệm, Phó Giám đốc Sở Côngan.

- Ủy viên: đại diện Ban Cải tạo thành phố, Liên hiệpxã thành phố, Công ty vật tư tổng hợp, Sở Thương nghiệp, Liên hiệp Công đoàn,Thành đoàn Thanh niên, Thành hội phụ nữ, Nông hội thành phố.

Ở cấp quận, huyện:

- Truởng ban: một đ/c Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dânquận, huyện.

- Phó ban thường trực: một đ/c phụ trách lao động quậnhuyện.

- Phó ban: một đ/c phụ trách Công an quận, huyện.

- Ủy viên: đại diện các đoàn thể cấp quận, huyện vàmột số ban chuyên môn cần thiết.

Ở cấp phường, xã:

- Truởng ban: đ/c Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy bannhân dân phường, xã.

- Phó ban: đ/c phụ trách Công an phường, xã.

- Ủy viên: đại diện các đoàn thể và cán bộ lao động.

Các Ban chỉ đạo cấp thành và quận, huyện chủ yếu sửdụng bộ máy sở, ban lao động giúp việc, khi cần có thể lấy thêm một vài cán bộbiệt phái của các ngành chuyên môn.

Nhận được chỉ thị này, Sở Lao động, Sở Công an,các ban, ngành, sở, chính quyền các cấp cùng với các đoàn thể chịu trách nhiệmthi hành và báo cáo kết quả cho Ủy ban nhân dân thành phố.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC




Lê Đình Nhơn