CHỈ THỊ

CHỈ THỊ

CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN SỐ 77/2007/CT-BNN NGÀY 06 THÁNG 9 NĂM 2007 VỀ VIỆC TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT HÓACHẤT, KHÁNG SINH CẤM TRONG NUÔI TRỒNG,
KHAI THÁC, BẢO QUẢN THUỶ SẢN SAU THU HOẠCH VÀ KIỂM SOÁT
DƯ LƯỢNG HÓA CHẤT, KHÁNG SINH TRONG CÁC LÔ HÀNG
THỦY SẢN XUẤT NHẬP KHẨU

Trong nhiều năm qua,Bộ Thủy sản nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chủ trì phối hợpvới các Bộ, ngành liên quan triển khai nhiều biện pháp tăng cường quản lý chấtlượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đặc biệt là dư lượng hoá chất, kháng sinh cấmtrong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản, qua đó, chất lượng, an toàn thực phẩm thuỷsản đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của hầu hết các thị trường nhập khẩu, kim ngạchxuất khẩu thuỷ sản liên tục tăng trưởng, đạt trên 3,3 tỷ USD năm 2006 và dựkiến đạt 3,6 tỷ USD năm 2007.

Từ đầu 2006 đến nay,tiếp tục có thêm một số thị trường lớn công bố các biện pháp kiểm soát chặt chẽvề chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm (Nhật Bản, Liên bang Nga, ĐàiLoan...). Mặc dù các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương, các Hội,Hiệp hội Thủy sản đã triển khai nhiều biện pháp như: tuyên truyền về tác hạicủa hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, tăng cường kiểm soát toàn bộ quá trìnhsản xuất và kiểm tra lô hàng trước khi xuất khẩu, đến nay số lô hàng xuất khẩubị cảnh báo về kháng sinh đã giảm đáng kể nhưng vẫn còn những lô hàng chưa đápứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Nguyên nhân của tìnhtrạng trên là do một số cơ sở nuôi trồng nhỏ lẻ, một số tàu đánh cá đã lạm dụnghóa chất, kháng sinh cấm trong quá trình nuôi trồng, bảo quản thủy sản nguyênliệu sau đánh bắt. Mặt khác, trong khâu chế biến vẫn còn một số doanh nghiệp,đặc biệt là các doanh nghiệp chưa đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện đảm bảo vệsinh an toàn thực phẩm; một số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ngành nhưng vì lợiích trước mắt, không chú trọng giữ gìn uy tín chất lượng, đã không thực hiệntốt việc kiểm soát dư lượng hoá chất kháng sinh trong nguyên liệu trước khi đưavào chế biến, không thực hiện kiểm tra về dư lượng kháng sinh các lô hàng trướckhi xuất khẩu.

Để tiếp tục đẩy mạnhcác giải pháp đã được triển khai từ trước đến nay, nhằm nâng cao hơn nữa hiệuquả của việc kiểm soát, giữ vững uy tín chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩmthủy sản đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng và ổn định xuất khẩu, Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ thị:

1. Giám đốc các SởThuỷ sản/Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộcTW:

- Tham mưu cho UBND tỉnh/thành phố chỉ đạo các Sở, Ban ngànhliên quan cùng phối hợp triển khai kiểm soát ngăn chặn việc sử dụng hóa chấtkháng sinh cấm trong đánh bắt, nuôi trồng, bảo quản và vận chuyển thủy sản.

- Chủ trì, phối hợp với Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệsinh và Thú y thủy sản, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam(VASEP), Hội Nghề cá Việt Nam (VINAFIS) tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu,rộng về tác hại của dư lượng hóa chất kháng sinh cấm trong thủy sản đồng thờisử dụng sức mạnh cộng đồng lên án mạnh mẽ các trường hợp vi phạm đi đôi vớiviệc hướng dẫn triển khai chương trình thực hành nuôi thủy sản tốt (BMP, GAPP,COC), ứng dụng các kỹ thuật bảo quản thủy sản sau thu hoạch không sử dụng hóachất kháng sinh.

Chỉ đạo cơ quan quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thủ ythủy sản tỉnh/thành phố triển khai ngay đợt kiểm soát việc sử dụng hóa chất,kháng sinh cấm trong nuôi trồng thủy sản; trong bảo quản thủy sản sau đánh bắttrên các ràu đánh cá; trong thu mua, bảo quản thủy sản sau thu hoạch của cácđại lý thu mua và sơ chế thủy sản. Xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm theo Nghịđịnh số 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 và Nghị định số 154/2006/NĐ-CP ngày25/12/2006 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản;kiến nghị cơ quan có chức năng rút Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ sởkhông thực hiện nghiêm quy định của pháp luật cề điều kiện kinh doanh thủy sản.

2. Cục Quản lý chấtlượng, An toàn vệ sinh và Thú y thủy sản:

2.1. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động kiểm soát chất lượng vàan toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thủy sản:

a) Khẩn trương xây dựng, trình Bộ ban hành và tổ chức triểnkhai Quy chế ứng dụng và đánh giá công nhận cơ sở vùng nuôi đạt quy chuẩn thựchành nuôi tốt theo BMP, GAQP, COC; kiểm tra và chứng nhận sản phẩm đạt tiêuchuẩn an toàn thực phẩm đi đôi với việc thực hiện mã hóa và truy xuất nguồn gốcnguyên liệu thủy sản.

b) Trong Quí 4/2007 hoàn thiện trình Bộ trưởng ban hành quyđịnh sửa đổi về kiểm tra, công nhận điều kiện đảm bảo an toàn-vệ sinh thủy sảncơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản và kiểm tra chứng nhận chất lượng lô hàngtheo hướng tăng cường kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp chưa đạt tiêu chuẩn,đồng thời miễn giảm kiểm tra cho những doanh nghiệp có truyền thống đảm bảochất lượng tốt.

c) Triển khai mạnh mẽ chương trình kiểm soát chất lượng thuỷsản sau thu hoạch (tập trung vào kiểm soát hoá chất bảo quản, dư lượng khángsinh và tạp chất lạ) xử lý nghiêm, bao gồm cả việc đề nghị rút giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh đối với những cơ sở vi phạm nghiêm trọng hoặc tái phạm nhiềulần.

d) Thực hiện kiểm soát dư lượng hóa chất kháng sinh 100% cáclô hàng thủy sản cá da trơn, giáp xác (tôm, cua...), thủy sản chân đầu (mực,bạch tuộc) nhập khẩu vào Việt Nam để chế biến xuất khẩu hoặc tiêu thụ nội địa.

2.2. Tăng cường năng lực kiểm soát của hệ thống:

a) Tiếp tục triển khai đào tạo nâng cao kỹ năng kiểm soátđiều kiện sản xuất an toàn vệ sinh tàu cá, cảng cá, chợ cá, cơ sở sản xuất thứcăn, cơ sở sản xuất giống, cơ sở nuôi trồng thủy sản, các đại lý thu gom, bảoquản thủy sản sau thu hoạch cho cơ quan quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh vàthú y thủy sản các tỉnh thành phố, các doanh nghiệp chế biến thủy sản và hướngdẫn- kiểm tra quá trình thực hiện.

b) Tổ chức thẩm định tính năng kỹ thuật, khả năng ứng dụngcủa các kít thử nhanh các loại kháng sinh cấm, các hoá chất bảo quản thực phẩm,nhất là để phát hiện những loại hóa chất, kháng sinh không được phép sử dụngtrong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản; tổ chức các khóa đào tạo kỹ thuật cho cáctỉnh thành phố triển khai kiểm tra nhanh hóa chất bảo quản, kháng sinh, tạpchất trong thủy sản.

- Triển khai nhanh các dự án đầu tư mua sắm bổ sung trangthiết bị kiểm nghiệm dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm đã được phê duyệt.

3. Hiệp hội Chế Biếnvà Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, Hội Nghề cá Việt Nam:

a) Hướng dẫn doanh nghiệp mở rộng liên kết từ sản xuấtnguyên liệu đến chế biến và đưa sản phẩm ra tiêu thụ trên thị trường. Vận độngdoanh nghiệp tự giác phối hợp cùng với cơ quan quản lý chất lượng, an toàn vệsinh và thú y thủy sản tỉnh, thành phố đào tạo về nuôi trồng thuỷ sản tốt, bảoquản thuỷ sản không sử dụng hoá chất, kháng sinh. Kịp thời phát hiện các trườnghợp cố tình làm ăn gian dối để đề nghị cơ quan nhà nước tăng cường kiểm tra vàthông qua công luận lên án mạnh mẽ các trường hợp tái phạm nhiều lần.

b) Chủ động tìm kiếm giải pháp mở rộng thị trường, kịp thờithông báo cho hội viên những yêu cầu mới của các thị trường nhập khẩu để nhanhchóng có giải pháp đáp ứng.

4. Các doanh nghiệpchế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam:

a) Chủ động tăng cường hoạt động đảm bảo chất lượng và antoàn thực phẩm trong sản xuất của đơn vị, đặc biệt là kiểm soát dư lượng hoáchất kháng sinh trong từng lô nguyên liệu thuỷ sản nhận vào nhà máy.

b) Thực hiện nghiêm việc kiểm tra tra dư lượng, hóa chấtkháng sinh đối với 100% số lô hàng thủy sản nhập khẩu để chế biến: chấp hànhnghiêm túc các quy định về ghi mã số lô hàng, thực hiện kiểm tra đủ các chỉtiêu chất lượng bắt buộc phải kiểm tra theo yêu cầu của từng thị trường.

c) Tích cực tham gia các khóa đào tạo giảng viên an toànthực phẩm trong các công đoạn của chuỗi sản xuất thủy sản do Cục Quản lý, Chấtlượng, An toàn vệ sinh và Thú y thủy sản tổ chức, để sau đó doanh nghiệp tự đàotạo cho ngư dân, chủ đầm nuôi, cơ sở thu gom, bảo quản, cung cấp nguyên liệucho doanh nghiệp.

BỘ TRƯỞNG

Cao Đức Phát