1. Chia di sản thừa kế theo quy định mới nhất?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi sau xin được giải đáp: Ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp có tài sản chung là 600 triệu, bà B có tài sản riêng là 180 triệu, 2 người có con chung là C 17 tuổi, D 15 tuổi.
Bà B có con riêng là E 20 tuổi. Hãy chia tài sản của bà B trong trường hợp sau:
TH 1: trước khi chết bà B lập di chúc hợp pháp cho M (em họ) 50 triệu, từ thiện 50 triệu.
TH 2: cho M (em họ) 100 triệu, quỹ từ thiện 200 triệu.
Mong luật sư giải đáp giúp em!
Người gửi: Hao

>> Luật sư tư vấn luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp có tài sản chung là 600 triệu, bà B có tài sản riêng là 180 triệu, Sau khi bà B chết về nguyên tắc tài sản chung giữa ông A và bà B sẽ được chia đôi, như vậy tổng di sản mà bà B để lại chia thừa kế sẽ là 480 triệu.

* Trường hợp 1: trước khi chết bà B lập di chúc hợp pháp cho M (em họ) 50 triệu, từ thiện 50 triệu:

Theo như bạn trình bày thì bà B khi chết chỉ để lại di chúc cho M và cho từ thiện như vậy phần di sản còn lại của bà B sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà B lập di chúc hợp pháp cho M (em họ) 50 triệu, từ thiện 50 triệu, di sản thừa kế của bà B để lại chia cho A, C, D, E sẽ là: 480 - 100 = 380 triệu.

Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại....."

Như vậy, di sản chia cho A, C, D, E là: A = C = D = E = 380 : 4 = 95 triệu.

Theo như bạn trình bày thì ông A là chồng hợp pháp của bà B và ông bà có hai người con chưa thành niên là C 17 tuổi, D 15 tuổi, điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động....."

Trong trường hợp này 95 triệu đã lớn hơn 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật như vậy, Tòa sẽ thực hiện chia thừa kế theo di chúc của bà B, những di sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật như trên.

* Trường hợp 2: cho M (em họ) 100 triệu, quỹ từ thiện 200 triệu.

Theo như bạn trình bày thì bà B khi chết chỉ để lại di chúc cho M và cho từ thiện như vậy phần di sản còn lại của bà B sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà B lập di chúc cho M 100 triệu, quỹ từ thiện 200 triệu, di sản thừa kế bà để lại cho A, C, D, E sẽ là: 480 - 300 = 100 triệu.

Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại...."

Như vậy, di sản chia cho A, C, D, E là: A = C = D = E = 100 : 4 = 25 triệu.

Theo như bạn trình bày thì ông A là chồng hợp pháp của bà B và ông bà có hai người con chưa thành niên là C 17 tuổi, D 15 tuổi, điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.....
"

Trong trường hợp này, 25 triệu chưa bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật: (480 : 4) x 2/3 = 80 triệu. Vì vậy, Tòa sẽ chia thừa kế như sau:

A = C = D = 80 (tổng di sản cả ba người nhận là 240 triệu)

di sản còn lại là: 480 - 240 = 240 triệu Tòa sẽ ra quyết định chia cho E, M và quỹ từ thiện sao cho phù hợp nhất có thể là chia đều thành ba phần hoặc cũng có thể chia theo tỷ lệ.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Chia di sản thừa kế theo di chúc?

Xin chào luật sư. Tôi có một câu hỏi về chia di sản thừa kế xin được giải đáp: Ông A và bà B kết hôn năm 1980 có tài sản chung vợ chồng là 1 tỷ đồng. Ngoài ra, ông A có tài sản riêng là 200 triệu đồng. Ông A và bà B có hai người con là C và D. Trước khi chết, ông A có lập di chúc để lại cho C và D mối người 100 triệu đồng, và truất quyền hưởng di sản thừa kế của bà B.
Trong trường hợp này, di sản thừa kế được phân chia như thế nào?
Tôi xin cảm ơn!

Chia di sản thừa kế theo di chúc?

Thủ tục phân chia tài sản thừa kế theo du chúc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Vì 200 triệu là tài sản riêng của ông A, do đó, ông có quyề định đoạt toàn bộ số tài sản đó bằng cách chia theo di chúc cho 2 con là C và D.

- Tuy nhiên. 1 tỷ đồng là tài sản chung của 2 vợ chồng ông A và bà B, sau khi ông A mất sẽ phải chia theo pháp luật.

+ Theo khoản 1, điều 66, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản".

Với những thông tin mà bạn cung cấp, có thể hiểu rằng, phần di sản chung của ông A trong khối tài sản chung vợ chồng chưa chỉ định ai là người thừa kế, tức là trong di chúc không đề cập đến phần di sản này, và ông B đã truất quyền hưởng di sản của vợ mình là bà B.

+ Theo điểm a, khoản 2, điều 650, Bộ luật dân sự năm 2015, phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ chia thừa kế theo pháp luật.

+ Căn cứ khoản 2, điều 66, Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế".

Do đó, bà B theo nguyên tắc sẽ hưởng 1/2 giá trị tài sản trong khối tài sản chung vợ chồng, tức 500 triệu đồng.

Phần di sản còn lại của ông A sẽ chia theo pháp luật, tức chia đều cho 3 người ở hàng thừa kế thứ nhất là B,C,D (theo điểm a, khoản 1, điều 676, Bộ luật dân sự 2005). Tuy nhiên, bà B bị truất quyền hưởng di sản (nếu có đầy đủ giấy tờ hoặc chứng cứ chứng minh) do đó, phần di sản 500 triệu còn lại của ông A sẽ chỉ chia đôi cho C và D mỗi người 250 triệu đồng.

Vậy sau khi chia toàn bộ di sản, C và D mỗi người có 350 triệu, và bà B giữ phần tài sản của mình trong khối tài sản chung vợ chồng là 500 triệu.

Trân Trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Cách chia di sản thừa kế và thủ tục thực hiện?

Thưa luật sư, xin hỏi: Thủ tục phân chia tài sản thừa kế thực hiện như thế nào cho đúng ạ? Cảm ơn!

Luật sư phân tích:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại......"

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
"

"Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."

Thưa luật sư, Ông PT sinh ra 2 người con là PD và PC. Năm 2007 PD cưới chị LH và sinh ra cháu PTD. Năm 2010 PD bị tai nạn giao thông chết, trước khi chết PD có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản chia đều cho em trai PC và con gái PTD. Năm 2013 ông PT chết và không lập di chúc. Tính số tài sản mà mỗi người thừa kế hưởng được biết tài sản của PD để lại là 900tr, ông PT để lại 1tỉ tính luôn cả tiền được thừa kế ?

=> + PD để lại di sản là 900 triệu cho PC và PTD vậy PC = PTD = 450 triệu.

Tuy nhiên lúc này có PT và LH là 2 người được thừa kế không phụ thuộc vào di chúc.

PT = LH = (900 : 4) x 2/3 = 150 triệu lấy từ di sản thưà kế của PC và PTD.

Vậy PC = PTD = 300 triệu, PT = LH = 150 triệu.

+ PT chết để lại di sản là 1 tỷ đã tính cả tiền thưà kế.

Lúc này PD đã chết nhưng có con là PTD là người thừa kế thế vị.

Vậy PC = PTD = 1 tỷ : 2 = 500 triệu

Vậy tổng cộng: PC = PTD = 800 triệu, LH = 150 triệu.

Thưa luật sư, Nhà tôi có 10 anh em, 05 trai và 05 gái, nhà tôi có được 36 công đất, trước đây khi cha tôi còn sống có chia 05 công đất cho anh thứ 2 và anh thứ 5 làm chùng nhưng không có làm giấy tờ. Đến năm 2005 cha tôi qua đời mà không để lại di chúc nên anh em tôi có làm giấy ký xác nhận chuyển tên sang cho mẹ tôi đứng tên. Mẹ tôi ở chung nhà với a trai thứ 7, vì nhà nghèo nên tôi đi làm công nhân ở xứ xa, đến năm nay tháng 8/2016 vợ chồng anh 7 nói gạt me sang tên toàn bộ đất cho vợ chồng anh ấy (kể cả phần đất của anh 2 và anh 5 tôi), anh ấy hứa sẽ xây nhà lại và phụng dưỡng cho mẹ tôi. Mẹ tôi vì tin vợ chồng a ấy nên đã đồng ý sang tên. Trong khi tôi đi làm xa không hề hay biết gì, đến khi vợ chồng a không lo cho mẹ, đối xử tệ bạc với mẹ thì mẹ mới nói cho anh chị tôi và tôi biết (anh 7 tôi không biết chữ bị vợ xúi dục và lo mọi giấy tờ), sau khi lấy được đất thì vợ chồng anh ấy đã chuyển hộ khẩu về bên vợ hết, về bên vợ làm ăn. (Trong sổ hộ khẩu hiện tại chỉ còn tên của mẹ tôi và tôi, đất thì anh ấy đã đứng tên và anh ấy đã chuyển khẩu đi thì tôi sẽ ở phải ở hộ khẩu nào? và ở đâu?) Vậy mong luật sư tư vấn giúp tôi trường hợp này mẹ tôi tự ý sang tên toàn bộ đất cho anh 7 tôi là đúng hay sai? Mẹ tôi có lấy đất lại được không? Tôi cũng không biết mẹ tôi đã ký hợp đồng gì với vợ chồng anh 7 , tôi chỉ thấy anh 7 tôi đem sổ đỏ ra cho tôi xem thôi.

=> Vào thời điểm năm 2005 anh em bạn đã làm giấy ký xác nhận cho mẹ bạn đứng tên toàn bộ mảnh đất thì mẹ bạn tự ý sang tên toàn bộ đất cho anh 7 là phù hợp với quy định pháp luật, không cần có ý kiến của những người anh em còn lại.

Nếu tại thời điểm mẹ bạn sang tên mảnh đất cho vợ chồng anh 7, bạn có lý do chứng minh lúc đó mẹ bạn bị lừa gạt, đe dọa, tinh thần không minh mẫn,... thì mẹ bạn có thể khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì có thể đòi lại đất. Nếu không có bằng chứng thì không thể đòi lại được.

Thưa luật sư, Ông Bà em sinh được 3 người con 1 trai và 2 gái nhưng không may Ông và Bác em đã hi sinh trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ.Một thời gian sau 2 người con gái của Ông Bà lập gia đình và đều ở gần nhà Ông Bà ,Mẹ em là con thứ nên sau khi lấy chồng thì đã chuyển về ở cùng với Bà để tiện chăm no sức khỏe cho Bà. Đến năm 2004 bà em có cắt 1 xuất đất và chia cho người con lớn của chị gái Mẹ em và đã làm sổ đỏ đứng tên . - Hiện tại Bà em đã mất một thời gian và đến bây giờ đang có những tranh chấp đất đai ,và chị gái của Mẹ em đang có những tranh chấp muốn chia đôi giá trị mảnh đất mà Bà để lại ro không có di chúc. Và không tính 1 suất đất mà Bà đã cắt cho người con lớn của Chị gái Mẹ em. Vậy luật sư có thể tư vấn giúp em được không ak

=> Trường hợp này phần đất còn lại của bà mà chưa có di chúc thì theo pháp luật sẽ được chia đôi mảnh đất cho bạn và chị gái vì bạn là thừa kế thế vị của bố bạn. Còn mẹ bạn là con dâu nên không được hưởng thừa kế.

Thưa luật sư, Mẹ tôi mất cách đây khoảng vài tháng. Trước khi mất, mẹ tôi được ông bà ngoại tăng riêng 1 căn nhà (có công chứng) trong thời kỳ hôn nhân - khi mất căn nhà này di chúc cho em trai tôi. Ngoài ra, 1 căn nhà khác thì di chúc cho 2 anh em tôi. Cả 2 căn nhà này ba tôi đều làm giấy khước từ tài sản (có công chứng) nên chủ quyền đều đứng tên mẹ tôi. Hàng thừa kế thứ 1 gồm ông ngoại, ba tôi và 2 anh em tôi. Xin hỏi ba tôi và ông ngoại tiến hành tranh chấp thì được phân chia như thế nào theo luật, ước lượng án phí là bao nhiêu

=> Vì ba bạn đã làm đơn khước từ tài sản và có công chứng nên trường hợp này ba bạn tranh chấp cũng không thể có được quyền thừa kế tài sản. Vậy nếu ông ngoại có tiến hành tranh chấp tài sản thì còn ông bạn sẽ được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật tức là 2/3 suất của 1 trong 4 người.

Án phí phụ thuộc vào giá trị tài sản tranh chấp, bạn có thể tham khảo Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Phân chia di sản thừa kế không có di chúc?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Thừa kế không di chúc bà cố tôi có 5 người con: ngoại tôi, ông Tư (ở nước ngoài), Bà Chín và bà Út, bà Mười (mất trước bà cố, có 1 người con gái). Năm 2010 bà cố mất không để lại di chúc. Bây giờ chia tài sản như thế nào?
Bà Chín và bà Út kêu ngoại tôi phải kí tên vào giấy quyền thừa kế. Nếu bà ngoại không kí có ảnh hưởng tới quyền thừa kế hay vi phạm pháp luật gì không?
Mong luật sư giải đáp giúp tôi. Xin cám ơn.
Người gửi: Nguyen

Phân chia di sản thừa kế không có di chúc ?

Luật sư tư vấn phân chia di sản thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định các trường hợp thừa kế theo pháp luật, bao gồm cả trường hợp không có di chúc. Như vậy, trường hợp của bạn di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật.

Theo quy định tại điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì 5 người con của bà cố bạn sẽ được chia thừa kế theo hàng thứ nhất, mỗi người đều được hưởng phần di sản bằng nhau.

Theo như bạn trình bày thì bà Mười - con bà cố bạn, mất trước bà cố và có một người con gái, theo quy định tại điều 677 Bộ luật Dân sự thì con bà Mười sẽ được nhận phần di sản thừa kế của bà cố bạn để lại:

"Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống...."

Trong trường hợp này, bà ngoại bạn thuộc hàng thừa kế di sản mà bà cố bạn để lại vì vậy bà ngoại bạn phải ký tên vào giấy quyền thừa kế để cơ quan có thẩm quyền xác định người được hưởng thừa kế và chia thừa kế cho đúng quy định.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Chia di sản thừa kế theo pháp luật như thế nào cho đúng?

Thưa Luật sư, luật sư có thể tư vấn cho tôi về trường hợp của gia đình mình, cụ thể như sau: Gia đình tôi vào sống ở Đăk Lăk từ năm 1983 với bố mẹ và 6 anh em tôi. Tài sản của gia đình là mảnh đất và nhà ở trên đất được thiết lập từ 1983, có sổ đỏ mang tên chủ hộ là bố tôi. Năm 1987, một người em tôi mất, năm 2003 mẹ tôi mất, năm 2007 bố tôi lấy vợ 2 (có đăng ký kết hôn). Đến năm 2017 bố tôi mất không để lại di chúc thừa kế tài sản.
Vậy, xin Luật sư tư vấn giúp tôi những nội dung sau: 1. Cách làm thủ tục thừa kế tài sản theo pháp luật. 2. Các đối tượng được hưởng thừa kế trong gia đình tôi như thế nào? Phần được hưởng của từng đối tượng trong gia đình tôi (gồm 6 anh em tôi và vợ 2 của bố) ?
Xin trân trọng cảm ơn Luật sư và mong được hồi đáp, trân trọng!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

1. Thủ tục hưởng di sản thừa kế theo pháp luật

Để được hưởng di sản là ngôi nhà nêu trên bạn cần tiến hành theo trình tự, thủ tục sau:

Bước 1. Liên hệ với văn phòng công chứng để thực hiện:

- Những người được hưởng di sản thừa liên hệ với phòng công chứng để lập thông báo về việc khai nhận di sản.

- Niêm yết công khai thông báo mở thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại UBND phường, xã nơi có di sản hoặc nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản trong vòng 15 ngày.

- Nếu sau thời gian niêm yết không có tranh chấp hay khiếu nại, người được hưởng di sản tiến hành khai nhận di sản tại phòng công chứng.

Bước 2. Hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị bao gồm:

- Giấy tờ chứng minh tài sản của người để lại di sản thừa kế;

- Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

- Giấy tờ cá nhân của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất;

- Bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi (sổ hộ khẩu, CMND), nếu đã chết thì phải có giấy chứng tử hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền xác nhận đã chết trước thời điểm người để lại di sản thừa kế chết;

- Con đẻ, con nuôi (sổ hộ khẩu, CMND, giấy khai sinh);

- Sơ yếu lý lịch của 1 người nói trên có xác nhận của chính quyền địa phương;

- Thời gian niêm yết công khai là 30 ngày, nếu không có khiếu nại gì thì sẽ tiến hành phân chia thừa kế theo di chúc hoặc phân chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Bước 3. Nộp thuế

Người được hưởng di sản liên hệ với cơ quan thuế có thẩm quyền để làm thủ tục nộp thuế, lệ phí trước bạ (nếu có).

Bước 4. Sang tên tài sản cho người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc

- Nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ UBND quận, huyện nơi có di sản.

- Cán bộ tiếp nhận hồ sơ ghi phiếu hẹn, nhận phiếu biên nhận có hẹn ngày giải quyết.

2. Phần di sản thừa kế được chia cho từng người:

Theo thông tin bạn cung cấp, sổ đỏ chứng nhận quyền sở hữu ngôi nhà và mảnh đất của gia đình bạn do bố bạn đứng tên chủ hộ, do đó, phần đất và ngôi nhà đó được coi là tài sản chung của bố mẹ và 6 anh chị em bạn. Sau khi mẹ bạn mất, không để lại di chúc thì phần di sản của mẹ bạn để lại (1/8 giá trị ngôi nhà và mảnh đất sở hữu chung của hộ gia đình) sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ Điều 651Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Những người thừa kế theo pháp luật.

Di sản của mẹ bạn sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là bố bạn và 6 anh chị em bạn.

Bố bạn mất, không để lại di sản. Lúc này những người được hưởng phần di sản do bố bạn để lại gồm người vợ thứ hai của bố bạn và 6 anh chị em bạn. Phần di sản của bố bạn được xác định là 1/7 giá trị ngôi nhà và mảnh đất sở hữu chung. Phần di sản do bố bạn để lại sẽ được chia đều cho những đồng thừa kế ở hàng thứ nhất theo quy định nêu trên của Bộ luật dân sự năm 2015.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp Thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?