Biết rằng ngoài ngôi nhà tại Nhật thì ông A còn có một ngôi nhà tại Quận Hai Bà Trưng ( Hà Nội) và hai sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Agribank (Cầu Giấy) và một sổ tại Ngân hàng của Nhật Bản. Nay bà M muốn làm đơn kiện ra Tòa án yêu cầu chia tài sản chung của Bà với ông A.

Hãy xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong trường hợp này là Tòa án nào?  Yêu cầu chia tài sản của bà M sẽ được giải quyết như thế nào?

Chị H cũng làm đơn yêu cầu Tòa án chia tài sản của ông A cho chị. Vậy yêu cầu của chị H có được Tòa án chấp nhận hay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc của mình đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin chị cung cấp xin được tư vấn cho chị  như sau:

Cơ sở pháp lý

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

- Bộ luật dân sự 2005

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

- Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định trong phần thứ nhất “ Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung

Nội dung phân tích

  1. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong trường hợp này ?

Theo như thông tin mà đề bài cung cấp thì ông A và bà M tuy đã sống ly thân nhưng chưa làm thủ tục ly hôn, chưa có quyết định / bản án có hiệu lực của Tòa án nên trong trường hợp này giữa bà M và ông A vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận.

Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về giải quyết tài sản của vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:

“Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.”

Như vậy, khi ông A chết, bà M là người quản lý tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.. Khi bà M có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của ông A và bà M sẽ được chia đôi trừ trường hợp 2 vợ chồng ông bà có thỏa thuận về chế độ tài sản.

Về tòa án có thẩm quyền giải quyết :

Theo khoản 4, điều 8 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP thì “4. Trong vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,... mà có tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 của BLTTDS.”

Mặt khác, ông A kể từ tháng 12/2014 có chuyển sang Nhật chung sống với chị H. Nghĩa là theo quy định tại khoản 3, điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 thì “3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.”

Như vậy, nhận thấy tài sản chung của ông A và bà M bao gồm nhà, sổ tiết kiệm cho nên thẩm quyền giải quyết được xác định trong trường hợp này là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi ông A cư trú, làm việc trước khi mất. Nơi cư trú được xác định là nơi tạm trú hoặc thường trú của ông A

2. Bà M được chia tài sản như thế nào ?

Để xác định bà M được chia tài sản như thế nào thì phải xác định được tài sản chung của ông A và bà M bao gồm những gì? Theo thông tin đề bài cung cấp thì tài sản được xác định trong trường hợp này bao gồm: ngôi nhà tại Nhật, một ngôi nhà tại Quận Hai Bà Trưng ( Hà Nội) và hai sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Agribank (Cầu Giấy) và một sổ tại Ngân hàng của Nhật Bản.

Để biết đây có phải là những tài sản chung của vợ chồng ông A bà M hay không thì phải căn cứ vào các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, Sổ tiết kiệm đứng tên ai, giữa vợ chồng ông A bà M có tồn tại thỏa thuận nào về tài sản hay không), và công sức đóng góp trong việc xây dựng, tạo lập, duy trì khối tài sản chung.

Sau khi xác định được tài sản chung thì bà M sẽ được phân chia tài sản như sau: tài sản riêng của bà M thuộc về bà M, tài sản chung của bà và ông A thì bà sẽ được chia đôi.

Đối với phần tài sản của ông A khi ông A mất sẽ được chia thừa kế theo pháp luật ( do ông mất không để lại di chúc). Theo đó, người được hưởng phần tài sản của ông A bao gồm những người theo điều 676 Bộ luật dân sự 2005, cụ thể:

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, bà M được chia ½ tài sản trong khối chung với ông A và phần di sản ông A để lại, cụ thể là ¼ tài sản ông A để lại ( do xác định có 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất: Bao gồm: Bà M, 3 người con là C, D, E)

3. Chị H cũng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung có được chấp nhận không ?

Việc ông A và chị H sống chung trong khi ông A chưa ly hôn với bà M là trái quy định của pháp luật. Song pháp luật chỉ không công nhận quan hệ hôn nhân, đối với quan hệ tài sản thì Tòa án vẫn tiến hành giải quyết, cụ thể :

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.”

Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về quan hệ tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng như sau:

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Theo quy định này, thì khi nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quan hệ hôn nhân cũng nhưng không phát sinh quan hệ tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp này, nếu chị M chứng minh được chị cũng có đóng góp vào phần tài sản của ông A thì chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị theo chế độ tài sản chung được quy định tại Bộ luật dân sự.

Như vậy, nếu chị H làm đơn yêu cầu chia tài sản với ông A thì trong trường hợp này Tòa án vẫn chấp nhận đơn yêu cầu chia tài sản của bà H vì bà H trong trường hợp này hoàn toàn có quyền gửi đơn đến Tòa để yêu cầu giải quyết quyền lợi của mình.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ