1. Chia tài sản vợ chồng sau ly hôn khi cùng góp vốn kinh doanh ?

Chào Luật Minh Khuê!. Anh trai tôi trước khi cưới vợ có mua 1 mảnh đất, nhưng do chưa có sổ hộ khẩu TPHCM nên anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên (có giấy xác nhận nhờ Dì chú đứng tên dùm bằng tay giữa anh và Dì chú nhưng không thông qua văn phòng công chứng).

Sau khi cưới vợ anh chuyển tên của vợ chồng Dì thành tên anh ( không có tên của vợ cũ). Và hàng xóm nơi anh ở cũng như người bán đất cũng biết mảnh đất anh mua trước khi cưới là hoàn toàn bằng tiền của anh và anh nhờ Dì chú đứng tên giúp trong thời gian chưa có hộ khẩu TPHCM.

Hôm mua đất có mặt vợ chồng Dì chú ruột, anh và người bán đất. Sau khi cưới vợ, anh vay mượn tiền, góp vốn cùng 3 người khác thành lập công ty cổ phần có đứng tên anh và vợ cũ. Nhưng anh không làm trực tiếp mà chỉ để mình vợ cũ và 3 người khác làm. Tiền đi vay nợ, anh vay và anh trả, giờ anh vẫn còn lưu giấy đi vay nợ do anh đứng tên. Vợ chồng anh sống với nhau được 10 năm có 1 cháu gái thì ly hôn. Sau khi ly hôn, vợ cũ anh muốn nuôi con nên anh nhường phần nuôi con cho vợ cũ. Vậy xin luật sư cho em hỏi là:

1- Số tài sản chung phát sinh do 2 anh chị để dành được trong 10 năm được chia như thế nào ?

2- Mảnh đất anh mua trước khi cưới, anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên, nhưng sau khi kết hôn anh mới đứng tên (không có tên vợ cũ) thì được chia như thế nào?

3- Số tài sản do anh đi vay thành lập công ty cổ phần do anh đứng tên sau khi ly hôn được chia như thế nào ?

4- Số tiền chu cấp cho con gái được tính như thế nào ?

Chia tài sản vợ chồng sau ly hôn khi cùng góp vốn kinh doanh ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình gọi 1900.6162

Trả lời:

1 Số tài sản chung phát sinh do 2 anh chị để dành được trong 10 năm được chia như thế nào?

Việc phân chia tài sản sau khi ly hôn được quy định theo nguyên tắc tại các Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 và 3 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì số tài sản chung phát sinh do 2 anh chị bạn để dành được trong 10 năm được chia sẽ chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố theo quy định của pháp luật.

2. Mảnh đất anh mua trước khi cưới, anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên, nhưng sau khi kết hôn anh mới đứng tên (không có tên vợ cũ) thì được chia như thế nào?

Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

Anh trai bạn trước khi cưới vợ có mua 1 mảnh đất, nhưng do chưa có sổ hộ khẩu TPHCM nên anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên (có giấy xác nhận nhờ Dì chú đứng tên dùm bằng tay giữa anh và Dì chú nhưng không thông qua văn phòng công chứng). Sau khi cưới vợ anh chuyển tên của vợ chồng Dì thành tên anh (không có tên của vợ cũ). Và hàng xóm nơi anh ở cũng như người bán đất cũng biết mảnh đất anh mua trước khi cưới là hoàn toàn bằng tiền của anh và anh nhờ Dì chú đứng tên dùm trong thời gian chưa có hộ khẩu TPHCM. Hôm mua đất có mặt vợ chồng Dì chú ruột, anh và người bán đất. Như vậy mảnh đất chlà tài sản riêng của anh bạn khi anh bạn có căn cứ rõ ràng là do mình sở hữu trước hôn nhân.

3. Số tài sản do anh đi vay thành lập công ty cổ phần do anh đứng tên sau khi ly hôn được chia như thế nào?

Sau khi cưới vợ, anh vay mượn tiền, hùn vốn cùng 3 người khác thành lập công ty cổ phần có đứng tên anh và vợ cũ. Nhưng anh không làm trực tiếp mà chỉ để mình vợ cũ và 3 người khác làm. Tiền đi vay nợ, anh vay và anh trả, giờ anh vẫn còn lưu giấy đi vay nợ do anh đứng tên. Điều đó cho thấy khi anh bạn vay mượn tiền để thành lập công ty thì chị vợ cũng biết nên có thể coi đây là tài sản chung của hai người, theo đó số tài sản do anh đi vay thành lập công ty cổ phần do anh đứng tên sau khi ly hôn được chia theo Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác."

4. Số tiền chu cấp cho con gái được tính như thế nào?

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Vì anh bạn nhường quyền nuôi con cho vợ bạn nên nghĩa vụ, quyền của anh bạn khi không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó".

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con".

Như vậy, số tiền chu cấp cho con do hai vợ chồng anh chị bạn thỏa thuận với nhau dựa trên sự phát triển và nhu cầu của con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn quy trình và thủ tục ly hôn đơn phương mới nhất tại Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội ?

2. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Chị tôi hiện nay đã ly hôn được 2 năm có dc 2 cháu gái, 1 cháu 13 tuổi và 1 cháu 6 tuổi. Sau khi ly hôn thì 2 cháu vẫn còn ở bên nhà nội nhưng hiện tại thì bà nội đã lớn tuổi và không còn đủ khả năng chăm sóc 2 cháu và chồng cũ thì công việc không ổn định lại lại hay ngược đãi 2 cháu. Nay chị tôi muốn được dẫn 2 cháu về ngoại để có thể gần gũi và chăm sóc 2 cháu một cách tốt hơn thì cách giải quyết như thế nào ?
Mong quý luật sư hướng dẫn.

Luật sư trả lời:

Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Như vậy, bạn có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con thuộc về mình dựa vào các căn cứ:

Thứ nhất, gia đình chồng cũ không còn đủ điều kiện đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho hai con. Bạn có thể đưa ra những chứng chứng minh như bà nội của 2 bé đã già yếu không đủ sức khỏe chăm sóc 2 cháu; công việc và thu nhập của chồng bạn thì không ổn định; ....

Thứ hai, bạn đủ điều kiện vật chất và tinh thần để đảm bảo sự phát triển của con bằng việc có nhiều thời gian chăm con, điều kiện về thu nhập, cũng như việc con gái của bạn đang tuổi mới lớn khi ở với mẹ sẽ tốt hơn, ...

Thứ ba, căn cứ vào nguyện vọng của con khi con từ đủ 7 tuổi trở lên.

=> Bạn nên thỏa thuận trước với chồng về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu chồng cũ của bạn không đồng ý thì lúc đó bạn mới gửi yêu cầu lên tòa án, tránh mất thời gian cũng như ảnh hưởng đến tam sinh lý của trẻ ở tuổi mới lớn.

Hồ sơ khởi kiện thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Bản án/Quyết định ly hôn;

- Sổ hộ khẩu, CMND (bản sao chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực);

- Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là có căn cứ và hợp pháp.

Thẩm quyền Tòa án giải quyết:

- Bạn có thể nộp hồ sơ khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con tại Tòa án nhân dân quận/huyện trước kia giải quyết ly hôn của hai bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2020 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

3. Cách thức nào để tiến hành ly hôn và chia tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi mong được giải đáp: Tôi năm nay 43 tuổi, sinh quán Chương Mỹ, Hà Nội mới mở rộng. Vợ chồng tôi lấy nhau 20 năm nay rồi có đăng ký kết hôn tại nơi ở của tôi sau 5 năm sinh sống ở bên ngoại, sau đó chúng tôi về Hải Phòng sinh sống, có hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng. Chúng tôi có một cháu trai năm nay 19 tuổi. Bản chất của chồng tôi rất rượu chè bê tha, không làm ăn gì cả, con cũng không quan tâm, dạy dỗ, bạo hành đánh đập vợ con không thể kể xiết. Mẹ con tôi đã nhiều lần phải bỏ nhà đi và thuê nhà sinh sống nhưng không ổn, nay mẹ con tôi phải bỏ đi lên Hà Nội kiếm miếng ăn qua ngày.
Con trai tôi bảo mẹ ly hôn với nếu không con sẽ viết đơn ly hôn thay cho mẹ. Tôi cũng muốn ly hôn nhưng đăng ký kết hôn bị mất, tôi về xã nơi ngày xưa đăng ký xin cấp lại nhưng không được, xã nói là ngày xưa không lưu vào sổ gốc bây giờ muốn cấp thỉ phải đăng ký lại ... sổ hộ khẩu gia đình chồng tôi đã đốt bỏ rồi, tôi không biết cậy nhờ ai.
Vậy xin Công ty giúp tôi xem làm cách nào tôi để tôi ly hôn được và được chia tài sản chung vì hiện tại tôi không có giấy tờ gì ?
Trân trọng!

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 :

"Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn."

Theo quy định tại Điều 18 Luật hộ tịch năm 2014 :

"Điều 18. Thủ tục đăng ký kết hôn

1. Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.

2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc."

Căn cứ vào quy định trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đăng ký kết hôn ngoài việc phải cấp giấy đăng ký kết hôn cho người đến đăng ký kết hôn thì phải lưu lại trong hồ sơ của cơ quan đó. Đối với trường hợp của bạn, vợ chồng bạn đã đăng ký kết hôn tại Chương Mỹ, Hà Nội thì cơ quan này có trách nhiệm phải ghi lại việc đăng ký kết hôn của vợ chồng bạn, do đó, bạn có thể trích lục được giấy đăng ký kết hôn tại cơ quan này.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, giấy đăng ký kết hôn mà vợ chồng bạn được cấp đã mất, các giấy tờ khác như sổ hộ khẩu cũng không còn, tại cơ quan đăng ký kết hôn thì việc kết hôn của vợ chồng bạn cũng không được lưu vào sổ gốc. Do đó, trước khi tiến hành ly hôn thì bạn cần tiến hành thủ tục đăng ký lại việc kết hôn.

Nếu bạn không đăng ký lại việc kết hôn thì áp dụng giống như trường hợp chưa đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành luật hôn nhân gia đình :

"4. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Theo quy định tại Điều 16 Luật HNGĐ:

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Như vậy, về mặt tài sản chung của vợ chồng bạn thì tòa án sẽ vẫn giải quyết theo các trường hợp của ly hôn thông thường, phần tài sản chung đã góp của ai thì thuộc về người đó.

Về mặt thủ tục, bạn nộp hồ sơ xin ly hôn đến Tòa án cấp huyện nơi chồng bạn cư trú.

Hồ sơ gồm:

- Đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Bản sao Giấy khai sinh của con

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thời gian ly thân bao lâu thì có thể tiến hành thủ tục ly hôn ? Nộp đơn ly hôn ở đâu ?

4. Ly hôn không có sổ hộ khẩu của chồng có được không ?

Thưa Luật sư, tôi và chồng hiện đang ly thân từ 07/2015 đến nay. Và hiện tại tôi không thể kéo dài cuộc hôn nhân này. Trong quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chồng tôi thường xuyên rượu chè, ghen tuông vô cớ, không đúng trách nhiệm của người chồng và chửi với những lời xúc phạm tôi với 1 người bạn trên facebook....và 1 số mâu thuẫn khác.

Như vậy, tôi có được Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương không, và trong thời gian bao lâu? Tôi và chồng hiện đang sinh sống và làm việc tại Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ. Hộ khẩu thường trú của tôi ở Quận Ô Môn - TPCT, hộ khẩu thường trú của chồng tại TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre; thì tôi có phải gửi hồ sơ về Tòa Án ND TP. Bến Tre không ạ? - Hồ sơ ly hôn tôi không có được hộ khẩu công chứng của chồng (vẫn còn hộ khẩu ở Bến Tre) thì có hợp lệ không?
Mong sớm nhận được mail của Luật Sư.

Ly hôn không có sổ hộ khẩu của chồng có được không ?

Luật sư tư vấn hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Để làm thủ tục ly hôn đơn phương bạn phải nộp hồ sơ xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú, làm việc của chồng bạn. Nơi cư trú ở đây là nơi thường xuyên sinh sống của chồng bạn (Tòa án nhân dân TP Cần Thơ) theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bạn phải chuẩn bị hồ sơ bao gồm:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

Tuy nhiên vì phía chồng bạn giữ hộ khẩu nên bạn không có hộ khẩu để nộp. bạn có thể liên hệ với công an cấp phường, xã nơi anh thường trú nhờ nơi đây xác nhận rằng anh là nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này anh có thể làm một đơn riêng, cũng có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục đơn phương ly hôn khi không cùng hộ khẩu với chồng ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Thủ tục ly hôn và phân chia tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: vợ chồng tôi đã sống với nhau khoảng 10 năm. Trước đó tôi có đi xuất khẩu lao động tại Malaysia khoảng 5 năm.. Trong khoảng thời gian này thì vợ tôi đã quan hệ ngoại tình với nhiều người đàn ông và đánh đập con trai khiến con sợ phải về ở với ông bà nội.
Sau khi hết thời hạn hợp đồng tôi về nước và vợ tôi vẫn chứng nào tật đấy, hơn nữa không coi tôi ra gì và đuổi tôi ra khỏi nhà. Hiện tại bố mẹ và các anh chị khuyên tôi li dị và thực lòng tôi cũng muốn giải quyết nhanh để con cái có thể yên tâm học hành. Tôi có 2 con 1 trai một gái. Con trai thì ở với ông bà từ ngày tôi đi nước ngoài còn con gái tôi thì vẫn ở với mẹ. Ngôi nhà hiện tại của 2 vợ chồng thì cô ấy đòi chiếm hết. Bây giờ tôi phải làm thế nào để ly dị cho thỏa đáng nhất về việc phân chia tài sản và quyền nuôi con? Và tôi có phải trợ cấp cho con gái tôi không vì hiện tại con gái tôi chưa đuợc 18 tuổi.
Mong văn phòng tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn!

Thủ tục ly hôn và phân chia tài sản

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, cần phải xác định xem ngôi nhà là tài sản chung hay riêng của 2 vợ chồng bạn. Căn cứ theo điều 33, Luật hôn nhân gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Vì vậy, nếu như ngôi nhà có được sau khi kết hôn thì là tài sản chung của vợ chồng, còn nếu ngôi nhà là tài sản được thừa kế hoặc tặng cho thông qua giao dịch riêng thì là tài sản riêng của bạn hoặc vợ bạn.

Sau khi xác định được tính chất chung, riêng của ngôi nhà thì nguyên tắc giải quyết được căn cứ theo điều 59, Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Việc phân chia tài sản tài sản do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu không thỏa thuận được có thể chia đôi căn cứ theo luật này. Tuy nhiên, có thể thấy rằng vợ bạn đã không làm tròn nghĩa vụ của mẹ căn cứ theo điều 69 của Luật này. Vì vậy, quyền định đoạt và phân chia ngôi nhà sẽ phụ thuộc vào quyết định của Tòa án

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn căn cứ theo điều 62, Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

Về vấn đề trợ cấp cho con, Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định chi tiết tại điều 62 về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Vì vậy, bạn vẫn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn phải giải quyết như thế nào?