Bố cháu phải làm lụng vất vả từ bé để phụ giúp kinh tế cho Ông nội và chăm sóc cho các cô do các cô còn nhỏ các bác gái thì đi lấy chồng sớm và không phụ giúp được gì cho bố cùng các em. Năm 1972 bố cháu cùng ông nội có mua lại một mảnh đất ao của ông X người cùng xóm với diện tích 456m2 để bố cháu nuôi thả cá giống. Tại thời điểm mua bán không có giấy tờ chuyển nhượng đất mà chỉ giao kèo bằng miệng. Bố cháu thực hiện nuôi cá giống trên mảnh đất đó để phụ giúp ông về kinh tế và chăm lo cho các em. Sau đó bố cháu đi bộ đội, sau 4 năm bố cháu trở về quê để chăm lo cho ông nội và các cô. Sau đó Bố cháu lấy mẹ cháu và vẫn ở cùng ông nội và các cô của cháu trên mảnh đất 102 m2 là tài sản của ông bà. Khoảng năm 1993 cô thứ tám nhà cháu (là cô út) đi lấy chồng bố mẹ cháu đã phải lo toàn bộ chi phí cưới hỏi cho cô ấy (do lúc này ông nội cháu đã tuổi cao, sức yếu lại thường xuyên uống rượi nên không còn là lao động chính trong nhà).

Từ đó đến năm 2001 Ông nội cháu vẫn sống cùng bố mẹ cháu và được bố mẹ cháu phụng dưỡng. Năm 2001 Ông nội cháu mất, bố mẹ cháu đứng ra lo ma chay, giỗ chạp cho cả ông nội và bà nội cho đến nay. Năm 2008 bố cháu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các mảnh đất 102m2 và 456m2 do sử dụng ổn định, lâu dài và nộp thuế đầy đủ (bố cháu vẫn giữ được biên lai nộp thuế đứng tên bố cháu từ năm 1972) không có tranh chấp gì, việc cấp giấy chứng nhận tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật có dán giấy và thông báo ở xã 30 ngày các cô các bác của cháu đều đồng ý và không có ý kiến gì (nhưng không có giấy xác nhận). Năm 2010 Bố cháu có bán mảnh đất 102 m2 cho bà Nguyễn Thị M (đã được sự đồng ý của các cô, các bác (do bố cháu có họp gia đình xin ý kiến) nhưng không có giấy tờ). Đến giữa năm 2010 do nảy sinh mâu thuẫn giữa các anh chị em của bố cháu, các cô, bác đã khởi kiện bố cháu đòi quyền chia mảnh đất 456m2. Khi biết chuyện ông X đã bán mảnh đất cho ông và bố cháu đã ký vào giấy xác nhận việc bán mảnh đất 456 m2 là bán cho bố cháu vì tiền để mua mảnh đất là tiền do bố cháu tiết kiệm được khi đi làm cá cùng ông nội. và giấy tờ có xác nhận của chủ tịch uỷ ban nhân dân xã.

Nhưng các cô các bác cháu không đồng ý và nhất định đòi chia mảnh đất 102m2 và 456m2 theo luật thừa kế. Bác gái cả đã đi lấy chồng >40 năm, cô út cũng đã lấy chồng >20 năm và trong suốt quá trình không có trách nhiệm hay đóng góp gì cho những mảnh đất trên, cũng không chăm sóc, nuôi dưỡng ông nội cháu được ngày nào.

Vậy Luật sư cho cháu hỏi việc đòi chia thừa kế như vậy là đúng hay sai?

 Cháu xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi  được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015)

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

2. Nội dung phân tích

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Hết thời hạn này, người được thừa kế không có quyền khởi kiện nữa (Theo Khoản 1, Điều 159,Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Song, thời gian 10 năm này không phải lúc nào cũng được tính liên tục.Tại Điều 161, Bộ luật dân sự 2005, quy định các khoản thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, tức là khoảng thời gian xảy ra các sự kiện sau đây:

Điều 161. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình;

2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

3. Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.

Vậy, để xác định được thời hiệu, trước hết phải biết được khi nào là thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế ở đây chính là thời điểm mà người để lại di sản qua đời, hoặc ngày mà Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố người để lại di sản đã chết (Theo Khoản 1, Điều 633, Bộ luật dân sự 2005). Như vậy, chỉ được khởi kiện về thừa kế từ ngày mở thừa kế, bởi vì pháp luật chỉ công nhận quan hệ thừa kế bắt đầu từ lúc này. Bên cạnh đó, cần lưu ý một điều là khi yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kế, cần phải xuất trình các giấy tờ chứng minh rằng người có tài sản này đã chết, như giấy chứng tử, quyết định của Toà án tuyên bố một người là đã chết...

Như đã nói ở trên, quyền khởi kiện về tranh chấp di sản thừa kế chỉ tồn tại trong 10 năm, kể từ ngày mở thừa kế, nhưng không phải trong mọi trường hợp đều áp dụng quy định trên. Tại Mục 2.4, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có quy định về hai trường hợp không tính thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, đó là:

- Trường hợp có tài sản chung, tức là trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà những người được thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế; Hoặc sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Nếu có tranh chấp, hoặc có yêu cầu về việc chia thừa kế, Tòa án sẽ giải quyết như sau:

 Nếu người chết có để lại di chúc, mà các đồng thừa kế không có tranh chấp gì về bản di chúc này, đồng thời cùng thoả thuận với nhau về việc tài sản sẽ được chia theo di chúc khi những người thừa kế có nhu cầu, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc, bất cứ lúc nào có yêu cầu từ phía người thừa kế.

 Nếu không có di chúc, mà các đồng thừa kế tự thảo thuận với nhau về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ, bất cứ lúc nào có yêu cầu từ phía người thừa kế.

Nếu không có di chúc và cũng không có thoả thuận giữa những người thừa kế về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì khi một trong những người thừa kế có yêu cầu về việc chia khối tài sản chung đó, việc chia này sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

Trường hợp người chết có để lại di sản thừa kế, nhưng di sản đó không nằm trong sự quản lý của những người thừa kế, mà đang do một người khác chiếm hữu bất hợp pháp, hay đang thuê, mượn, quản lý tài sản theo ủy quyền của người để lại di sản..., mà không đồng ý trả lại khi có yêu cầu của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền khởi kiện đòi lại số tài sản đó. Bởi vì, thực tế sẽ có những người vì một số lý do khách quan, họ không thể biết được người chết có để lại tài sản hoặc vẫn còn tài sản chưa được chia, nên việc tính thời hiệu sẽ không áp dụng ở đây.

Việc xác định thời hiệu khởi kiện là rất quan trọng, bởi khi hết thời hiệu này, quyền khởi kiện của người thừa kế sẽ không còn tồn tại, điều đó đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế sẽ không còn được bảo vệ. 

Đối với trường hợp của gia đình bạn việc khởi kiện chia tài sản thừa kế đã hết thời hiệu nên quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế không còn được luật bảo vệ nữa.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với  Luật sư tư vấn Luật dân sự về chia thừa kế trực tuyến gọi: 1900.6162  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê