Cha mẹ chồng tôi có tài sản là 01 ngôi nhà (Ông bà có 5 người con cả trai lẫn gái) Năm 1992 Ông bà thống nhất đến Phòng Công chứng nhà nước để Công chứng chứng thực việc cho ngôi nhà trên cho 2 vợ chồng tôi. Tại Phòng công chứng nhà nước, Công chứng viên đã lập Hợp đồng cho tài sản. Bên cho tài sản có tên và chữ ký đầy đủ của cha mẹ chồng tôi. Còn tên nhận tài sản có đầy đủ tên của 2 vợ chồng tôi nhưng chỉ có Chồng tôi ký nhận không có chữ ký của tôi (Khi đó Công chứng viên nói tôi không cần. Từ đó đến nay ngôi nhà này vẫn do Cha mẹ chồng tôi ở và sử dụng, Vợ chồng tôi cũng chưa sang tên trước bạ ngôi nhà này. Đến năm 2013 Cha mẹ chồng tôi đổi ý định không cho ngôi nhà này. Ông bà yêu cầu Chồng tôi trả lại tài sản. Cũng tại phòng công chứng nhà nước, Công chứng viên đã lập hợp đồng hủy hợp đồng cho nhà năm 1992 của Cha mẹ chồng và vợ chồng tôi. Tại Hợp đồng hủy hợp đồng cho nhà năm 1992 (Bên nhận lại tài sản) cũng có tên và chữ ký đầy đủ của Cha mẹ chồng tôi còn (Bên trả lại tài sản) cũng chỉ có chữ ký của Chồng tôi. Việc chứng thực trả lại tài sản của Chồng tôi tôi không được hay biết. Trong khi vợ chồng tôi kết hôn trước khi Cha mẹ chồng tôi cho tài sản và có Giấy đăng ký kết hôn của Chính quyền địa phương. Vậy cho tôi hỏi: Việc chứng thực trả lại tài sản của Phòng Công chứng nhà nước chứng thực cho Chồng tôi trả lại tài sản cho Cha mẹ chồng tôi như nói ở trên có hợp pháp hay không trong khi tôi không được hay biết và không ký tên trong bản hợp đồng hủy hợp đồng cho tài sản này và tôi cũng không đồng ý với quyết định trả tài sản của Chồng tôi?

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Chồng trả lại đất đã được tặng cho trước đó cho bố mẹ vợ không đồng ý có được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Luật  hôn nhân gia đình 2014.

Nội dung tư vấn :

>> Xem thêm:  Cầm cố sổ đỏ để vay tiền có được không ? Sổ đỏ có thể là tài sản cầm cố không ?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình :

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

Theo đó tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung trong thời kì hôn nhân sẽ là tài sản chung của vợ chồng đồng thời trong hợp đồng tặng cho bạn nêu cũng đã có điều khoản nêu rõ là cho hai vợ chồng nên đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn mỗi người sẽ có phần quyền như nhau, việc chỉ chồng bạn kí tên trên hợp đồng có nghĩa đại diện kí tên chứ không làm mất đi giá trị hiệu lực về việc tặng cho chung này. Hợp đồng tặng cho này đã có hiệu lực pháp lý và việc sang tên quyền sử dụng đất là thủ tục cuối cùng để hai vợ chồng bạn được quyền xác lập các giao dịch dân sự hợp pháp về mặt hình thức với phần đất này. Như vậy việc chồng bạn trả lại tài sản tặng cho này cần có sự đồng ý của bạn, hợp đồng lúc này cần có chữ kí của bạn nên việc chồng bạn tự xác lập giao dịch trả lại tài sản chung cho bố mẹ mà chưa có sự đồng ý của bạn là chưa hợp pháp bởi bạn cũng có quyền trong phần tài sản này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.

>> Xem thêm:  Điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất từ mẹ cho con ?