Hiện tại do dự án gần hết và công ty cắt giảm nhân viên, chấm dứt hợp đồng với lý do là hết việc, công ty thông báo trước cho nhân viên 30 ngày và không có trợ cấp thôi việc. Khi nhân viên yêu cầu 1 tháng trợ cấp thôi việc thì cty giải thích là đã thông báo trước 30 ngày rồi nên không có trợ cấp thôi việc. Vậy xin luật sư cho biết như vậy là đúng hay sai?
Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Lê Thị Nguyệt

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn luật lao động qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

Trả lời.

Ý kiến thứ nhất:

Theo Điều 38 luật lao động 2005 quy định

1- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật này;

c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.

2- Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan lao động biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.

3- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;

c) ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.

Như vậy công ty bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng tuy nhiên họ đã vi phạm quy định về thời gian báo trước.

Theo Điều 41 luật lao động 2005 quy định

1- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật này.

2- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc.

3- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường phí đào tạo nếu có, theo quy định của Chính phủ.

4- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Do đó, bạn sẽ được bồi thường một khoản tiền lương tương ứng với tiền lương 15 ngày mà công ty đã không thông báo trước.

Tham khảo:  Bộ luật Lao động của Quốc hội, số 10/2012/QH13

 

Ý kiến thứ hai:

Trả lời

Chào bạn, vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin được trả lời như sau:

Việc chấm dứt hợp đồng của công ty là Sai vì:

Thứ nhất, không có căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng

Việc chấm dứt hợp đồng của công ty không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 38 luật lao động ( sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007 )  hiện hành. “ Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động quy định, Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật này;

c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 6 tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới 1 năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.”

Lý do bất khả kháng khác được giải thích tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ-CP như sau:

“Lý do bất khả kháng khác là trường hợp yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở lên, do dịch họa, do dịch bệnh không thể khắc phục được dẫn tới việc phải thay đổi , thu hẹp sản xuất kinh doanh.”

Bên cạnh đó việc chấm dứt hợp đồng của công ty cũng không thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng vì lý do kinh tế (do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ )theo quy định tại Điều 17 Bộ luật lao động. Bạn có thể xem thêm Điều 11 Nghị định 39/2003/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết điều này.

Thứ hai, vi phạm trình tự thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng

- Vấn đề báo trước với ban chấp hành công đoàn theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động

- Vi phạm thời gian báo trước, Công ty chỉ báo trước cho nhân viên có 30 ngày trong khi Khoản 3 Điều 38 Bộ luật lao động quy định phải báo trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Như vậy công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động. Điều 41 Bộ luật lao động quy định:

“1- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

2- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

3- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định của Chính phủ.

4- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Giả sử việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của công ty là có căn cứ thì việc công ty không trả trợ cấp thôi việc cho nhân viên và giải thích  “…là đã thông báo trước 30 ngày rồi nên không có trợ cấp thôi việc” cũng là Sai. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động quy định “ Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.”        

Như vậy trách nhiệm báo trước và trách nhiệm trợ cấp là trách nhiệm của công ty buộc phải thực hiện cả 2 chứ không phải như công ty đã giải thích.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

-----------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;