I- Cơ sở pháp lý:

- Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

II- Nội dung tư vấn của luật sư

1. Quy định về chức danh chủ tịch Ủy ban Nhân dân ?

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra trong số các đại biểu của Hội đồng nhân dân tại kì họp đầu tiên của mỗi khoá Hội đồng nhân dân và phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Kết quả bầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Nhiệm kì của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân theo nhiệm kì của Hội đồng nhân dân cùng cấp (5 năm). Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kì thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khoá mới bầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân mới. Nếu trong nhiệm kì bị khuyết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì hội đồng nhân dân có quyền bầu bổ sung.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thể được Hội đồng nhân dân miễn nhiệm nếu có lí do chính đáng, bị Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thể bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp cách chức, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể bị Thủ tướng Chính phủ cách chức khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người lãnh đạo ` công tác của Uỷ ban nhân dân, thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước ở địa phương. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp, trước Chính phủ nếu là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Theo pháp luật hiện hành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1) Lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân: đôn đốc kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp mình và Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện Hiến pháp, luật và các văn bản của cợ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp mình, trừ những vấn đề Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quy định phải đưa ra thảo luận tập thể và quyết định theo đa số trong các phiên họp của Uỷ ban nhân dân; áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lẻ lối làm việc, quản lí và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả, ngăn ngừa và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phị và các biểu hiện tiêu cực khác trong cơ quan, cán bộ, viên chức và trong bộ máy chính quyền địa phương; tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật;

2) Triệu tập và chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban nhân dân;

3) Phê chuẩn kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, điều động, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Uÿ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỉ luật cán bộ, viên chức nhà nước theo sự phân cấp quản lí;

4) Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của cơ quan chuyên môn thuộc Uÿ ban nhân dân cấp mình và những văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới;

5) Đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ.

2. Cơ cấu tổ chức của ủy ban nhân dân

Trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức cơ quan chấp hành của chính quyền địa phương. Có loại cơ quan chấp hành là một cá nhân do người dân địa phương bầu ra, gọi là Thị trưởng; có loại mô hình cơ quan chấp hành là một tập thể đứng đầu là Thị trưởng song do Hội đồng bầu; có loại mô hình cơ quan chấp hành là một Thị trưởng do Hội đồng bầu và đồng thời là chủ tịch Hội đồng. Theo mô hình Hội đồng - ủy ban của chính quyền địa phương ở Việt Nam, cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân ở tất cả các cấp, tức ủy ban nhân dân, đều là một tập thể bao gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các ủy viên ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm và có cùng nhiệm kì với Hội đồng nhân dân cùng cấp. về trình tự bầu, trước tiên Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch ủy ban nhân dân theo đề cử của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp. Sau đó Chủ tịch ủy ban nhân dân đề cử để Hội đồng nhân dân bầu các Phó chủ tịch và các ủy viên ủy ban nhân dân. Ngoại trừ Chủ tịch ủy ban nhân dân, các thành viên khác của ủy ban nhân dân không bắt buộc là đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong trường hợp bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân khi đang diễn ra nhiệm kì của Hội đồng nhân dân, tức là không phải bầu vào kì họp đầu tiên của Hội đồng nhân dân, thì ngay cả Chủ tịch Ủy ban nhân dân khi đó cũng không bắt buộc là thành viên Hội đồng nhân dân (Khoản 3,4 Điều 83 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Như vậy là về mặt tổ chức, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 có xu hướng tách biệt ủy ban nhân dân với Hội đồng nhân dân về mặt tổ chức, nhân sự. Sự tách biệt này là hợp lí bởi sự tách biệt về mặt tổ chức sẽ làm tăng vai trò ra quyết định của Hội đồng nhân dân và khẳng định thêm vai trò chấp hành của ủy ban nhân dân.

SỐ lượng các Phó chủ tịch ủy ban nhân dân ở các cấp là khác nhau tùy theo quy mô và phân loại của chính quyền địa phương tương ứng. Các ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường có 3 hoặc 4 Phó chủ tịch, riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có tối đa 5 Phó chủ tịch; ủy ban nhân dân cấp huyện thường có 2 hoặc 3 Phó chủ tịch; cấp xã có 1 hoặc 2 Phó chủ tịch.

Số lượng ủy viên ủy ban nhân dân ở các cấp khác nhau cũng khác nhau, ủy viên ủy ban nhân dân cấp tỉnh là người đứng đầu cơ quan chuyên môn và tương đương, ủy viên phụ trách quân sự, ủy viên phụ trách công an. Ủy viên ủy ban nhân dân cấp tỉnh là người đứng đầu các cơ quan chuyên môn và tương đương, ủy viên phụ trách quân sự, ủy viên phụ trách công an. ủy viên ủy ban nhân dân cấp xã chỉ bao gồm ủy viên phụ trách quân sự và ủy viên phụ trách công an.1 Như vậy, số lượng thành viên của ủy ban nhân dân cấp xã là 4 và là ít nhất, lên cấp huyện và tỉnh thì số lượng tăng thêm do số Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tăng thêm và trong thành phần ủy ban nhân dân có thêm người đứng đầu các cơ quan chuyên môn và tương đương.

3. Phân quyền của chính quyền địa phương:

1. Việc phân quyền cho mỗi cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong các luật.
2. Chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền.
3. Cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương.
4. Các luật khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phù hợp với các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quy định tại Luật này.

* Nhiệm vụ,quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh

1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn tỉnh.
2. Quyết định những vấn đề của tỉnh trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.
4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.
5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh.
6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương, các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh. quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh

* Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện

1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện.
2. Quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã.
5. Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện.
6. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện.

* Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã

1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã.
2. Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
4. Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã.
5. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)