1. Quy định của luật hình sự trước đây về chuẩn bị phạm tội

Hành vi chuẩn bị có thể là tìm kiếm, mua sắm, chế tác... công cụ, phương tiện, xây dựng kế hoạch phạm tội hoặc là thăm dò địa điểm, làm quen với người bị hại... Theo luật hình sự Việt Nam, chuẩn bị phạm tội được coi là một giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm, mặc dù hành vi chuẩn bị chưa phải là hành vi thực hiện, vì việc thực hiện tội phạm có xảy ra hay không và xảy ra như thế nào phụ thuộc nhiều vào hành vi chuẩn bị. Luật hình sự Việt Nam xác định người mới có hành vi chuẩn bị phạm tội vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp nhất định. Đó là những trường hợp có tính nguy hiểm đáng kể cần phải bị xử lí bằng biện pháp trách nhiệm hình sự. Từ nguyên tắc chung này có thể có những cách quy định khác nhau về trách nhiệm hình sự của chuẩn bị phạm tội. Luật hình sự một số nước còn quy định cụ thể chuẩn bị phạm tội với những tội cụ thể nào đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu như thế nào trong quy định về tội cụ thể đó.

Theo Bộ luật hình sự năm 1985, khi tội phạm được phân thành hai loại tội - tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng thì người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi tội định phạm là tội nghiêm trọng. Theo Bộ luật hình s năm 1999, tội phạm được phân thành bốn loại - là phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự khi tội định phạm là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Trách nhiệm hình sự của người chuẩn bị phạm tội được giảm nhẹ hơn so với trường hợp phạm tội chưa đạt và trường hợp tội phạm hoàn thành. Trong Bộ luật hình sự năm 1985, mức độ giảm nhẹ này chưa được cụ thể hoá. Điều này chỉ bắt đầu được thực hiện trong Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, sự cụ thể hoá này vẫn còn nhiều hạn chế. Điều luật mới chỉ giới hạn mức tối đa của khung hình phạt được áp dụng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội (không quá 20 năm tù trong trường hợp mức tối đa của khung hình phạt là tù chung thân hoặc tử hình và không quá một phần hai trong trường hợp mức tối đa của khung hình phạt là hình phạt tù có thời hạn).

Nếu bản thân hành vi chuẩn bị đã đủ cấu thành tội phạm khác thì người chuẩn bị phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này, ví dụ: hành vi chuẩn bị vũ khí quân dụng để thực hiện tội cướp tài sản cấu thành tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

2. Quy định của luật hình sự hiện nay về chuẩn bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm mà chưa thực hiện tội phạm vĩ nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Tương tự như định nghĩa khoa học trên, Điều 15 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác định:

Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điếm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

Giữa định nghĩa khoa học và quy định của điều luật Quy định của điều luật về chuẩn bị phạm tội có sự khác nhau về cách diễn đạt còn về nội dung, có sự tương đồng về cơ bản. Quy định của điều luật về chuẩn bị phạm tội có phần mang tính liệt kê một số hình thức tương đối thông thường của hành vi chuẩn bị phạm tội - hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm.

Theo định nghĩa khoa học và quy định của điều luật, chuẩn bị phạm tội có các dấu hiệu sau:

>> Xem thêm:  Mặt chủ quan của cấu thành tội phạm ? Nội dung các dấu hiệu trong mặt chủ quan ?

Thời điểm sớm nhất của chuẩn bị phạm tội là thời điểm người phạm tội bắt đầu có hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra, xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn. Thời điểm muộn nhất của chuẩn bị phạm tội là thời điểm trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại được phản ánh trong cấu thành tội phạm. Đó là “ranh giới” giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.

Trong thực tế, hành vi chuẩn bị phạm tội có thể thể hiện ở một số dạng như:

- Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội;

- Chuẩn bị kế hoạch phạm tội;

- Thăm dò địa điểm phạm tội;

- Thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại;

- Loại trừ trước trở ngại khách quan;

Trong những dạng hành vi chuẩn bị phạm tội này, hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện là dạng tương đối phổ biến. Do vậy, Điều 14 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi định nghĩa chuẩn bị phạm tội, xác định hành vi “tìm kiểm, sửa soạn công cụ, phương tiện” phạm tội là nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ nhất; nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ hai là hành vi “tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm” và nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ ba là “thành lập, tham gia nhóm tội phạm...”. Trong đó, nhóm hành vi thứ nhất bao gồm những hành vi chuẩn bị xảy ra tương đối phổ biến hơn cả như hành vi mua, mượn, xin hoặc đặt làm hoặc tự chuẩn bị các thứ sẽ được sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội (mua, mượn súng; mua, xin a xít; tự tạo thiết bị nổ hẹn giờ V.V.).

Nhóm hành vi thứ hai bao gồm tất cả các hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra hoặc xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn mà không thuộc nhóm hành vi thứ nhất như chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm phạm tội; thăm dò, làm quen với nạn nhân; loại trừ trước trở ngại khách quan đối với hành vi phạm tội; V.V.. Nhóm hành vi thứ ba mới được bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm là hành vi cần thiết cho sự hình thành nhóm có mục đích thực hiện tội phạm cụ thể. Sự hình thành nhóm tội phạm như vậy là cơ sở cần thiết hoặc thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm. Do vậy, hành vi thành lập cũng như hành vi tham gia nhóm tội phạm được coi là hành vi tạo điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm. Khi quy định nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ ba này, điều luật loại trừ hành vi thành lập, hành vi tham gia nhóm tội phạm không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội trong các trường hợp thuộc Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tội phạm được quy định tại Điều 109 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là tội phạm không có chuẩn bị phạm tội vì hành vi phạm tội của tội phạm được quy định là hành vi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và do vậy tội phạm này có cấu thành tội phạm cắt xén. Đối với các tội phạm được quy định tại các điều 113 và 299, hành vi thành lập cũng như hành vi tham gia nhóm tội phạm đã được quy định là một dạng hành vi phạm tội nên không thể là hành vi chuẩn bị phạm tội.

Hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm được xác định tại điều luật này với ý nghĩa là một loại hành vi chuẩn bị phạm tội không liên quan với vấn đề “tổ chức tội phạm” và “tội phạm có tổ chức” được quy định trong luật hình sự quốc tế cũng như trong luật hình sự một số quốc gia khác.(l)

>> Xem thêm:  Các tiêu chí đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật

Chuẩn bị phạm tội tuy là trường hợp chưa thực hiện tội phạm nhưng với tính chất là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, hành vi chuẩn bị phạm tội hợp thành thể thống nhất với hành vi thực hiện tội phạm. Việc thực hiện tội phạm có thể xảy ra hay không và xảy ra như thế nào, rõ ràng có sự phụ thuộc nhất định vào hành vi chuẩn bị phạm tội. Do vậy, hành vi chuẩn bị đã có tính nguy hiểm cho xã hội. Hơn nữa, việc phải dừng lại không thực hiện được tội phạm là do nguyên nhân ngoài ý muốn, còn người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm. Như vậy, vấn đề trách nhiệm hình sự có thể được đặt ra cho chuẩn bị phạm tội là có cơ sở. Tuy nhiên, luật hình sự Việt Nam không đặt vấn đề trách nhiệm hình sự của chuẩn bị phạm tội như phạm tội chưa vì tính nguy hiểm cho xã hội của hai trường hợp này có sự khác nhau. Luật hình sự Việt Nam giới hạn các tội phạm mà người từ đủ 16 tuổi trở lên và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về chuẩn bị phạm tội. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về chuẩn bị phạm tội đối với các tội phạm được liệt kê tại khoản 2 Điều 14 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đó là các tội phạm thuộc 4 chương trong tổng số 14 chương của Phần các tội phạm bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cụ thể: tất cả các tội phạm (14 tội phạm) thuộc chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia(1); 2 tội phạm (tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác) thuộc chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; 2 tội phạm (tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu; 1 tội phạm (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả) thuộc chương các tội xâm phạm ttật tự quản lí kinh tế; 6 tội phạm (tội khủng bố, tội tài trợ khủng bố, tội bắt cóc con tin, tội cướp biển, tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia và tội rửa tiền) thuộc chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.

• Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, trách nhiệm hình sự với hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ được giới hạn trong 2 tội phạm thuộc chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người và chương các tội xâm phạm sở hữu. Đó là tội giết người và tội cưóp tài sản.

Như vậy, so với BLHS năm 1999, bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017giới hạn phạm vi các hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự hẹp hơn và có sự phân biệt giữa trường hợp chủ thể từ đủ 16 tuổi trở lên với trường hợp chủ thể từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Cùng với việc giới hạn các tội danh mà chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội, BLHS còn quy định khung hình phạt riêng cho chuẩn bị phạm tội ở các tội mà chuẩn bị phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự với mức nhẹ hơn so với các khung hình phạt cho tội phạm hoàn thành cũng như cho phạm tội chưa đạt.

Khi xác định trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với hành vi chuẩn bị phạm tội cần chú ý: Nếu hành vi chuẩn bị phạm tội có đủ dấu hiệu của tội phạm khác thì người có hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó. Ví dụ. Vì có ý định giết người nên người phạm tội đã tìm kiếm súng quân dụng. Sau khi có súng, chưa kịp tiến hành việc giết người thì đã bị bắt. Trong trường họp này, hành vi tìm kiếm và tàng trữ vũ khí quân dụng là hành vi chuẩn bị phạm tội của tội giết người (Điều 123 BLHS) nhưng hành vi này cũng cấu thành tội phạm khác được quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng). Như vậy, người phạm tội không chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị mà còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm được quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mặt khách quan của cấu thành tội phạm ? Dấu hiệu, đặc điểm của cấu thành tội phạm ?