1. Nghĩa vụ tài chính khi hưởng thừa kế nhà đất ?

Thưa luật sư, xin luật sư tư vấn là tôi đang tính mua miếng đất 50m2 nằm trong mảnh đất có 170m2 có ghi trên sổ đỏ là đất vườn, đất ở. thời gian sử dụng lâu dài.
Vậy khi sang tên sổ đỏ cho tôi 50m2 thì chủ bán đất có chuyển được sổ đỏ là 50m2 đát ở hay không? Quy trình mua bán đất diễn ra như thế nào? Những loại thuế nào cần phải đóng?
Cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Trường hợp này, hai bên có thể thỏa thuận với nhau về việc chuyển mục đich sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở như sau:

- Có thể thỏa thuận về việc chủ sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở rồi mới chuyển nhượng cho bạn

- Có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong, bên chuyển nhượng đi đăng ký biến động đất đai trong sổ đỏ thì bạn có thể xin cấp sổ đỏ mới cho phần diện tích là 50m2 đất này sau đó mới chuyển mục đích sử dụng đất sau.

Để có thể mua bán đất phù hợp thì hai bên thỏa thuận với nhau về hợp đồng chuyển nhượng đất trong đó có nội dung về: diện tích đất, giá đất... sau khi thỏa thuận trong hợp đồng xong hai bên mang hợp đồng ra công chứng tại UBND xã phường hoặc văn phòng công chứng.

Các loại thuế phải đóng khi chuyển nhượng đất :

- Lệ phí trước bạ

- lệ phí chuyển mục đích sử dụng đất

- Phí đo đạc.

Thưa luật sư, Tôi là người đã có gia đình, 2 vợ chồng hiện tại muốn mua 1 mảnh đất. Vậy cho tôi hỏi là thủ tục mua đất như thế nào, có cần thiết phải có cả vợ và chồng cùng nhau đi làm thủ tục mua bán. Hay có cách nào đó để chỉ 1 mình tôi tham dự thôi được không? Tài sản chỉ đứng tên của 1 mình tôi thôi. ( Vợ tôi hoàn toàn đồng ý với việc mua bán này) Cảm ơn đã xem và tư vấn

=> Vấn đề này do thỏa thuận của vợ chồng, nếu bạn xác định khi mua đây là tài sản riêng của bạn thì bạn không cần sự đồng ý cũng như có mặt của vợ. Nếu đây là tài sản chung của vợ chồng thì khi mua bán đất bạn cần có xác nhận của vợ chồng hoặc có văn bản đồng ý của vợ cho bạn đứng tên trên giấy chứng nhận sử dụng đất hoặc có văn bản ủy quyền của vợ đồng ý cho bạn tự thực hiện hợp đồng mua bán đất mà không cần có sự có mặt của vợ.

Thủ tục mua đất bạn có thể tham khảo bài viết trên.

Xin chào luật sư, Tôi là cán bộ tư pháp, hiện đang xử lý đơn yêu cầu của công dân liên quan đến tranh chấp hợp đồng mua bán nhưng có xác nhận cùa UBND xã năm 1976. Tuy nhiên miếng đất hiện tại đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong thời điểm cấp giấy không xảy ra tranh chấp gì. Xin nhờ luật sư tư vấn giúp cách giải quyết và căn cứ pháp lý ạ ?

=> Vì bạn không trình bày rõ nội dung vụ việc mà chỉ nêu thông tin cơ bản do đó để có tể giải quyết được vấn đề này bạn phải xác minh các vấn đề sau:

- Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đúng theo quy định của pháp luật đất đai hay không ? Việc mảnh đất đó tại thời điểm xin cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất không có tranh chấp nhưng đã được sử dụng lâu dài, ổn định hay chưa? Có giấy tờ gì chứng minh đủ điều kiện về việc xin cấp giấy chứng nhận hay không ? Căn cứ quy định tại điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013.

- Xem xét hợp đồng mua bán có xác nhận của UBND xã từ năm 1976 có đúng quy định hay không ? bên cạnh hợp đồng mua bán có tài liệu liên quan hay không ? có đầy đủ chứng cứ chứng minh mảnh đất này thuộc quyền sở hữu của bên tranh chấp hay không ?

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi công ty luật sư khi mua bán đất đai canh tác dưới đường dây cao thế . người bán cũng mua trước đó qua giấy tờ viết tay không có giấy chứng nhận mà làm giấy viết tay giữa người bán và các bên xung quanh có giá trị pháp lý gì không ạ và khi mua bán như thế cần làm thủ tục như thế nào ?

=> Căn cứ quy định tại Luật đất đai năm 2013 quy định như sau:

" Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất [...]

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã"

Trường hợp này, khi chuyển nhượng, mua bán đất thì phải công chứng chứng thực, nếu hợp đồng không công chứng, chứng thực thì không có giá trị pháp lý.

Thủ tục mua bán đất: hai bên thảo thuận hợp đồng mua bán có nội dung về diện tích đất; giá đất; các vấn đề về thực hiện nghĩa vụ tài chính giữa các bên.. hai bên ký và ghi rõ họ tên sau đó mang hợp đồng đi công chứng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Điều kiện người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hưởng thừa kế ?

Trước đây tôi ở Việt Nam nhưng nay đã đi định cư ở nước ngoài từ lâu. Bố mẹ của tôi có tài sản là một căn nhà trên đất tại Việt Nam. Vậy người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được hưởng thừa kế tài sản (là nhà đất) của cha mẹ để lại tại Việt Nam hay không? Thủ tục xin hưởng thừa kế như thế nào?

Tư vấn Điều để người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hưởng thừa kế BĐS tại Việt Nam?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời :

Thừa kế là việc chuyển giao tài sản của người chết cho người còn sống là người thừa kế. Vì vậy,Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu là: “Được thừa kế tài sản”. Vì tài sản ở tại Việt Nam nên điều kiện được hưởng thừa kế phải tuân theo pháp luật của Việt Nam là nơi có tài sản

Căn cứ Điều 678, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”. quy định:

“Việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”.

“Bộ luật dân sự được áp dụng đối với các quan hệ dân sự có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia tại Việt Nam, trừ một số quan hệ dân sự mà pháp luật có quy định riêng”.

Do đó, anh cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật này. Căn cứ Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau:

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Như vậy anh được hưởng di sản thừa kế nếu bố mẹ anh có để lại di chúc nói về vấn đề này hoặc là người thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật trong trường hợp bố mẹ anh không để lại di chúc.
Vì di sản thừa kế là bất động sản (nhà gắn liền với quyền sử dụng đất) - là loại tài sản đặc biệt nên theo quy định của pháp luật Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn có thể được hưởng thừa kế tài sản của cha mẹ họ để lại tại Việt Nam nếu có đủ các điều kiện như sau:

- Đối với di sản thừa kế là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất: theo quy định tại điểm 4 điều 186 Luật đất đai năm 2013 thì trường hợp người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này) thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó.

"4. Trường hợp trong số những người nhận thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam còn những người khác thuộc diện được nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất cho từng người nhận thừa kế thì những người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào sổ địa chính.

Sau khi giải quyết xong việc phân chia thừa kế thì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì phần thừa kế được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều này."


“Người cư trú là công dân Việt Nam có nhu cầu ngoại tệ để chuyển tiền trợ cấp, thừa kế cho gia đình và người thân ở nước ngoài... sẽ được phép mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài trên cơ sở xuất trình các giấy tờ có liên quan theo quy định của Ngân hàng nhà nước”. Như vậy sau khi được nhận giá trị thừa kế bằng tiền thì anh có quyền mua ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài theo quy định nêu trên.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Tư vấn đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Chia tài sản thừa kế từ việc mua nhà theo nghị định 61/CP ?

Thưa luật sư, tôi xin tư vấn một vấn đề sau: Bố Mẹ tôi có thuê căn nhà của nhà nước, tôi là con út trong gia đình cùng vợ và 2 con cùng ở với Bố Mẹ tôi, có tên cùng trong hộ khẩu và hợp đồng thuê nhà với nhà nước.

Mẹ tôi mất 2002, Bố tôi mất năm 2007. năm 2006 Bố tôi chuyển cho tôi đứng tên hợp đồng thuê nhà với nhà nước theo luật pháp cho phép ( vì bố tôi già yếu). năm 2008 nhà nước làm thủ tục bán nhà theo nghi định 61/CP-1994 cho tôi, nay thủ tục mua bán nhà theo nghi định 61/CP đã xong tôi đứng tên. Tôi xin hỏi: nhà này có thuộc diện thừa kế và phải chia quyền lợi, tài sản theo luật pháp không? nếu tôi bán, tôi có phải chia cho cho các anh chị tôi theo pháp luật thừa kế? xin cảm ơn .

( thông tin bổ xung:-
- Các anh chị tôi ở chỗ khác, không có hộ khẩu ở căn nhà trên
- Trước khi Bố tôi mất, Bố tôi có viết di chúc muốn căn nhà này khi làm xong hóa giá và nếu bán đi thì chia đều cho mọi anh chị trong gia đình. nhưng lúc này tình trạng căn nhà chưa được hóa giá vẫn còn đang thuê nhà của nhà nước mà do tôi đứng tên hợp đồng thuê nhà)
Người gửi: hung pham
Chuyển nhượng đất, tặng cho đất, hưởng thừa kế về đất. Các nghĩa vụ tài chính phải thực hiện về đất ?

Trả lời

Điều 5 Nghị định 61/CP quy định: Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở (trừ các loại nhà ở thuộc khu vực quy hoạch xây dựng các công trình khác hoặc cải tạo thành nhà ở mới; Nhà chuyên dùng đang bố trí tạm làm nhà ở (khách sạn, nhà nghỉ, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, kho tàng và các loại nhà chuyên dùng khác). Như vậy, anh là người đang sử dụng đất thuê của Nhà nước và có tên trong hộ khẩu là người có quyền được tiếp tục thuê và thuộc diện được mua nhà theo Nghị định 61/ CP.

Theo quy định tại điều 9, khoản 4 Nghị định 61-CP năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà ở thì trong trường hợp nếu người mua nhà chết thì những người trong diện thừa kế được tiếp tục trả tiền mua nhà để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Bố mẹ anh chết khi chưa thực hiện việc mua nhà theo quy định của nhà nước, do đó nhà này không phải là di sản thừa kế của bố mẹ anh để lại. Anh đã hoàn tất việc mua nhà và đứng tên vì vậy anh có toàn quyền bán mà không phải chia cho các anh chị của anh.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ : Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất;

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Thừa kế riêng của chồng, vợ không được hưởng ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Bố mẹ chồng bạn tặng cho riêng chồng bạn thì quyền sử dụng đất là tài sản riêng của anh ấy, không phải là tài sản chung vợ chồng ?
(Thành Vinh, Nghệ An).

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 689 Bộ luật Dân sự, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất (bao gồm: tặng cho, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất …) phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền.

Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Pháp luật không công nhận hợp đồng miệng hoặc viết tay mà không có công chứng, chứng thực. Trong trường hợp có tranh chấp giữa các bên có liên quan, hợp đồng miệng hoặc hợp đồng viết tay sẽ bị xác định là vô hiệu. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là nó không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Đối chiếu với quy định trên, mặc dù bố mẹ chồng bạn đã cho vợ chồng bạn mảnh đất đó nhưng các bên lại không thực hiện các thủ tục theo quy định để sang tên nên việc tặng cho này không có hiệu lực pháp luật. Quyền sử dụng đất vẫn thuộc quyền sử dụng của bố mẹ chồng bạn. Đến nay, bố mẹ chồng bạn tặng cho riêng chồng bạn thì quyền sử dụng đất này là tài sản riêng của chồng bạn. Nó không phải là tài sản chung vợ chồng. Dưới góc độ pháp luật, việc bố mẹ chồng bạn làm hợp đồng tặng cho riêng cho chồng bạn được hiểu là họ hủy bỏ việc cho chung vợ chồng bạn trước đây.

Thừa kế riêng của chồng, vợ không được hưởng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Đối với ngôi nhà 3 tầng, ngôi nhà này do vợ chồng bạn xây dựng, tạo lập ra trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình là tài sản chung vợ chồng. Điều 28 luật này quy định “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung”. Do vậy, mọi giao dịch dân sự liên quan đến ngôi nhà này đều phải được sự đồng ý của người kia. Trong trường hợp ly hôn thì về nguyên tắc ngôi nhà được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung. Bên cạnh đó, pháp luật sẽ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Trường hợp không thể chia đôi ngôi nhà thì tòa án sẽ giao toàn bộ ngôi nhà cho một bên và bên nhận nhà có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch cho bên kia. Trường hợp bạn được giao một phần hoặc toàn bộ ngôi nhà thì bạn không những phải thanh toán cho chồng bạn phần giá trị chênh lệch (nếu bạn được giao toàn bộ ngôi nhà) bạn còn phải thanh toán cho bố mẹ chồng giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với diện tích đất được giao.

Về việc ngân hàng cho chồng bạn thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) để vay tiền được pháp luật phân biệt như sau:

Trường hợp thứ nhất, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ghi nhận quyền sở hữu nhà và trên thực tế cũng chưa có nhà thì ngân hàng được phép cho chồng bạn thế chấp để vay tiền. Đối tượng thế chấp ở đây là quyền sử dụng đất, là tài sản riêng của chồng bạn nên không cần sự đồng ý của bạn. Trong trường hợp này, để vay được tiền chồng bạn phải chứng minh với ngân hàng đây là tài sản riêng của chồng bạn bằng cách xuất trình hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng, chứng thực và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên chồng bạn.

Trường hợp thứ hai, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ghi nhận quyền sở hữu nhà nhưng trên thực tế đã có nhà và nhà này được xác định là tài sản chung của vợ chồng thì ngân hàng không được phép cho chồng bạn thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà để vay tiền mà không được sự đồng ý của bạn.

Giao dịch dân sự này sẽ bị xác định vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 và Điều 128 Bộ luật Dân sự, vi phạm nguyên tắc vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung được quy định tại Điều 128 Luật Hôn nhân và Gia đình.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Tranh chấp về tài sản thừa kế khi một ông có hai vợ ?

Có tòa cho rằng ba bà đều là vợ, tòa thì bảo chỉ có hai bà… Bà E. sống chung với ông C. từ năm 1979 và có với nhau bốn người con nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng…

Hơn năm năm trước, sau khi ông C. mất, gia đình ông đã vướng vào một vụ kiện đòi chia di sản của ông để lại. Sự việc càng phức tạp hơn bởi khoảng năm 1950 và 1960, ông C. sống như vợ chồng với hai phụ nữ khác…

Cả ba đều là vợ

Tháng 5-2005, TAND huyện Củ Chi (TP.HCM) xử sơ thẩm, dù không nhận định gì đến vai trò của ba bà vợ ông C. nhưng đã công nhận các con chung. Về việc chia thừa kế, tòa nhận định tài sản đòi chia là mảnh đất không phải của ông C. nên không thể chia cho các thừa kế.

TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm vì cho rằng tòa cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, không triệu tập đủ người liên quan.

Tháng 12-2007, TAND huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm lại vụ án và lần này xác định ông C. có ba bà vợ. Hai bà ông sống từ những năm 1950 và 1960; bà còn lại là bà E., ông sống từ năm 1979 cho đến khi mất. Đồng thời, tòa chấp nhận chia cho các đồng thừa kế phần di sản ông C. để lại.

Tháng 3-2008, TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm vụ án cũng đã xác định ông C. có ba bà vợ như trên nhưng lập luận tại sao ba bà là vợ của ông C. thì tòa không đề cập tới. Cạnh đó, tòa cũng nhận định phần chia thừa kế tòa cấp sơ thẩm đã xử đúng…

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Chỉ còn lại hai bà

Sau án phúc thẩm, tháng 5-2009, viện trưởng VKSND Tối cao quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Kháng nghị cho rằng nếu có việc ông C. chung sống với bà thứ hai từ năm 1960 thì cũng không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bà E. sống với ông C. từ năm 1979 nên cũng không được công nhận là vợ chồng… Riêng bà còn lại, ông C. sống từ năm 1950 thì phải được coi là vợ ông C.

Tháng 7-2009, TAND Tối cao ra quyết định giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM, giao cho tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Quyết định cho rằng theo Nghị quyết số 02 ngày 19-10-1990 của TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế thì hai bà sống với ông C. từ những năm 1950, 1960 nêu trên mới là vợ chính thức của ông C. Mặc dù bà E. sống chung với ông C. từ năm 1979 và có với nhau bốn người con nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng vì sống chung sau khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.

Tháng 3-2010, TAND huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm lần ba đã nhận định như quyết định giám đốc thẩm. Theo đó, ông C. chỉ có hai bà vợ nêu trên, còn bà E. dù sống với ông C. từ năm 1979 (sau khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959) nên không được công nhận là vợ chồng.

Bà E. tiếp tục kháng cáo nhưng vừa qua, TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm nhận định như bản án sơ thẩm và tuyên y án…

Bà E. cũng là vợ ông C.?

Theo TS Nguyễn Văn Tiến, giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM,Nghị quyết 35 (ngày 9-6-2000) về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình và Thông tư liên tịch số 01 của TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ Tư pháp (ngày 3-1-2001) hướng dẫn nghị quyết nói trên quy định: Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3-1-1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Theo đó, nam và nữ được coi là chung sống với nhau như vợ chồng nếu như họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp: việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình… "Tôi cho rằng bà E. và ông C. có đủ các yếu tố quy định này. Tòa án phải công nhận bà E. là vợ ông C. và theo đó, bà cũng là một trong những đồng thừa kế…" – TS Nguyễn Văn Tiến nói.

Công nhận hai bà trước là vợ: Phải có chứng cứ!

Theo Nghị quyết số 02 ngày 19-10-1990 của TAND Tối cao (hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa kế năm 1990), trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-1-1960, ngày công bố Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977, ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ.

Nếu có chứng cứ (bằng văn bản) hoặc sự làm chứng khách quan của những người xung quanh về việc họ chung sống như vợ chồng thì có thể công nhận là vợ chồng. Tuy nhiên, để được công nhận là vợ chồng thì tòa cần phải chú trọng vào chứng cứ (bằng văn bản), hộ khẩu, khai sinh, các loại giấy tờ khác.

Ngược lại, nếu không chứng minh được thì sẽ không được coi là vợ chồng. Khi đó, bà E. mới thực sự là vợ vì đủ các điều kiện được quy định tại Nghị quyết 35 ngày 9-6-2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình và Thông tư liên tịch số 01 của TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ Tư pháp ngày 3-1-2001 hướng dẫn nghị quyết nói trên.

Trường hợp này, theo tôi, các cấp tòa sơ, phúc thẩm chưa đưa ra được chứng cứ và sự làm chứng khách quan mà đã công nhận hai bà trước là vợ là chưa thỏa đáng. Cụ thể: Người con gái được cho là con chung giữa ông C. và bà thứ hai lại khác họ với ông C. Ngoài ra, chính quyền địa phương nơi bà thứ nhất và bà thứ hai đều xác nhận trong sổ bộ gốc cho thấy hai bà này không hề có liên quan đến ông C…

Tiến sĩ NGUYỄN VĂN TIẾN, giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM

Đã đủ chứng cứ rồi, không cần chứng minh nữa!

Do hoàn cảnh lịch sử của nước ta, những người chung sống như vợ chồng với nhau từ trước ngày miền Nam giải phóng đều được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, đều được hưởng thừa kế di sản của nhau. Trong tinh thần đó, Nghị quyết số 02 ngày 19-10-1990 của TAND Tối cao đã hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 như sau: Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 25-3-1977 đối với miền Nam) thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng.

Dĩ nhiên về nguyên tắc, khi đương sự nêu yêu cầu trước tòa cũng như khi tòa quyết định việc gì đều phải có chứng cứ. Qua vụ án này, việc công nhận hai bà vợ trước là vợ, cũng như không công nhận bà E. là vợ, theo tôi, hai cấp tòa sơ, phúc thẩm đã có đủ chứng cứ thuyết phục. Thực vậy, qua hồ sơ cho thấy tại biên bản lấy lời khai của bà E. và các con của bà E. tại tòa ngày 22-8-2005, họ đã xác nhận ông C. có tất cả ba vợ và sáu người con; theo đó gồm có cả hai vợ trước 1975 và hai người con của hai vợ đó. Trong đó có người con gái chung của ông C. và bà vợ thứ hai, dù người con đó mang họ mẹ, khác họ ông C. Cũng cần để ý là theo pháp luật trước năm 1975, vợ chồng không có đăng ký hôn thú hợp pháp, con đẻ ra phải theo họ mẹ, không được lấy họ cha. Vả lại, trong hồ sơ vụ án, nhiều nhân chứng đã xác nhận sự kiện này (như lời khai của em ông C. và các nhân chứng khác đã được lấy lời khai thành bút lục).

Vào thời điểm năm 1979, ông C. chung sống như vợ chồng với bà E., đó là quan hệ không hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng vì lúc đó ông C. đang có vợ, hai người không đủ điều kiện kết hôn với nhau (theo Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 35 ngày 9-6-2000).

Theo tố tụng dân sự, khi một bên đương sự thừa nhận những tình tiết, sự kiện do bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không cần phải chứng minh nữa. Cũng như lời khai của đương sự và lời khai của người làm chứng đều được coi là chứng cứ. Nguyên tắc này được các tòa án áp dụng thống nhất từ trước đến nay và pháp luật hiện hành cũng vậy (theo Điều 81, 82, 83 Bộ luật Tố tụng dân sự).

Luật sư-Tiến sĩ PHAN ĐĂNG THANH

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật