1. Có bằng chứng vợ ngoại tình thì có ly hôn được không ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Vợ chồng tôi chưa có con, mới đây tôi phát hiện cô ấy có những bằng chứng ngoại tình rõ ràng và vẫn còn giữ lại bằng chứng thì có thể ly hôn được không? Cần những giấy tờ gì và thời gian giải quyết bao lâu?
Xin cám ơn!
Người gửi: Le

Có bằng chứng ngoại tình thì có ly hôn được không ?

Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến gọi:1900.6162

Trả lời:

Nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

"Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;"

Như vậy người nào thực hiện một trong các hành vi bị cấm nêu trên là vi phạm pháp luật.

Nếu bạn muốn lý hôn, thì việc vợ bạn ngoại tình là lý do để bạn có thể nộp đơn lên Tòa xin ly hôn.

1.1 Thủ tục xin ly hôn như sau:

Nếu đơn phương xin ly hôn thì Toà án Nhân dân quận, huyện nơi bị đơn đang cư trú (nơi thường trú hoặc nơi tạm trú) có thẩm quyền giải quyết. Nếu thuận tình ly hôn thì các bên có thể lựa chọn toà án nơi một trong hai bên đang cư trú. Nếu trong vụ án ly hôn có tranh chấp mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài thuộc thẩm quyền của Toà án Nhân dân tỉnh, thành phố (điều 33, 34, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004). Nếu thuận tình ly hôn chị có thể lựa chọn toà án nơi người vợ hoặc người chồng đang cư trú.

1.2 Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

1. Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của vợ và chồng

2. Đăng ký kết hôn bản chính

3. Giấy khai sinh của các con

4. Giấy tờ về tài sản nếu có yêu cầu chia.

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trong trường hợp này là bạn đơn phương yêu cầu ly hôn, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về căn cứ cho ly hôn như sau:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Vì vợ chồng bạn hiện tại chưa có con nên không xét đến vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn mà chỉ xét đến vấn đề về chia tài sản sau khi ly hôn.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trên đây là thư tư vấn của công ty chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Phân chia tài sản sau ly hôn khi chồng ngoại tình như thế nào ?

Nội dung như đã trình bày đã gửi luật sư giờ tôi chỉ hỏi trực tiếp đến từng câu hỏi như sau. Kính mong luật sư Minh Khuê trả lời thỏa đáng. "Tuy nhiên, pháp luật không quy định cụ thể mức trợ cấp hàng tháng là bao nhiêu, bởi vậy sẽ phải căn cứ vào tình hình thực tế, nơi sinh sống của vợ chồng và con, các khoản chi phí hợp lý... để xác định mức trợ cấp hàng tháng mà người chồng phải trợ cấp cho em bạn."
1. Em gái tôi và 03 cháu (02 cháu, cháu lớn 13 tuổi, cháu giữa 10 tuổi đã được tòa án gọi ra hỏi và 02 cháu đều ở với mẹ) có được quyền ở lại ngôi nhà này hay không ?
2. Chồng em gái tôi có “lỗi” ngoại tình tòa án có xử chồng em gái tôi về lỗi ngoại tình và có được chia phần tài sản phần hơn không?
3. Để đảm bảo tính mạng của em gái tôi và các cháu và đảm bảo cho chồng em gái tôi không về nhà quậy phá (khi chờ quyết định ly hôn và phân xử tài sản) thì em gái tôi nên làm gì ?.
Cảm ơn luật sư rất nhiều.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình trực tuyến, Gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất về có được quyền ở lại ngôi nhà. Vì thông tin đưa ra không rõ nên chúng tôi coi như ngôi nhà mà của em gái bạn đang ở là ngôi nhà chung. Vậy khi ly hôn việc chia tài sản chung được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Vây, nếu toá án đang trong quá trình thụ lý giải quyết việc ly hôn của em gái bạn thì em gái và các cháu bạn vẫn có quyền sống trong ngôi nhà là tài sản chung. Nếu có quyết định ly hôn của toá án và có dựa vào yếu tố trên để giải quyết tài sản chung chia cho em gái bạn ngôi nhà hoặc phần nhiều hơn trong khối tài sản chung thì em gái bạn có quyền ở ngôi nhà sau khi chi trả phần giá trị tài sản mà chồng của em gái bạn đươc hưởng.

Thứ hai về lỗi ngoại tình của chồng của em gái bạn. Toà án hôn nhân và gia đình không có chức năng xử lý về tội ngoại tình của chồng của em gái bạn và toà có thể lấy yếu tố lỗi ngoại tình để chia cho em bạn phần tài sản nhiều hơn theo yếu tố trình bày ở trên là " Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Thứ ba. Để đảm bảo tính mạng của em gái tôi và các cháu và đảm bảo cho chồng em gái tôi không về nhà quậy phá thì theo quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 em gái chị có quyền:

"Điều 111. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.

3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này."

Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật tố dụng dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 114. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

...

12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

...

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Con tôi dưới 36 tháng tuổi thì khi ly hôn quyền nuôi con giải quyết như thế nào?

Xin chào phòng luật sư! Em tên là Châu, nay 27 tuổi đã kết hôn đuợc 3 năm. Đã có 2 con, bé gái 2 tuổi, bé trai mới 4 tháng tuổi. Khi em đang có bầu bé thứ 2 thì biết chồng ngoại tình nhưng vì con em tha thứ nhưng nay sinh đuợc 4 tháng thì em mới biết chồng có con riêng với người phụ nữ khác. Em xin hỏi nếu giờ ly hôn em có đuợc quyền nuôi 2 đứa con không ? Nếu hiện tại giờ em đang ở nhà nuôi con? không có công việc làm?
Xin làm ơn Luật sư!

Bố muốn ly hôn với mẹ sau 7 năm ngoại tình thì chia tài sản như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Căn cứ theo Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Như vậy, việc chồng chị ngoại tình và có con với người phụ nữ khác đã làm cho cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng không thể kéo dài, nên chị hoàn toàn có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương gửi tới Tòa án nhân dân cấp Quận (huyện) nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chồng chị để được giải quyết.

- Căn cứ theo điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo thông tin chị cung cấp, 2 con của chị đều dưới 36 tháng tuổi nên căn cứ theo pháp luật hiện hành các con sẽ được giao trực tiếp cho chị nuôi, trừ trường hợp chị không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Nên trường hợp này chị có 2 cháu, một cháu 2 tuổi và một cháu 4 tháng đều dưới 36 tháng tuổi nhưng do chị tạm thời chưa có việc làm nên việc chăm sóc con sẽ có khó khăn. Vậy nên nếu muốn giành quyền nuôi cả 2 cháu chị cần chứng minh được mình đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc cả 2 cháu.

>> Bài viết tham khảo thêm: Thủ tục ly hôn khi chồng ngoại tình và có con riêng ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Bố ngoại tình thì chia tài sản khi ly hôn như thế nào?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi có 3 người con trai. Người bố làm ăn bên nước ngoài 7 năm tính đến nay, và suốt 7 năm đó ngoại tình và ko chu cấp tiền cho người mẹ nuôi con. Suốt những năm đó người mẹ phải gánh vác 1 mình kiếm tiền nuôi 3 đứa con, 2 đứa lớn đến nay đã ngoài 20 và 1 đứa nhỏ lên 4. Bây giờ người bố muốn ly hôn và chia tài sản.
Nhưng người mẹ ko đồng ý và muốn người bố tự đơn phương ly hôn. Trong trường hợp này, xin hỏi luật sư, nếu người bố tự đơn phương ly hôn, và người mẹ ra tòa và nói rằng 1 mình nuôi các con bao năm nay nên muốn được toàn bộ tài sản và đất đai còn lại và không muốn chia cho người bố đã bội bạc như vậy và các con làm chứng là bao năm mẹ nuôi 1 mình.
Vậy người mẹ có được thừa hưởng tài sản như vậy không ? Người mẹ muốn dành quyền nuôi con, và tiền trợ cấp của người bố đến khi 18t người mẹ muốn lấy luôn 1 lúc vì nghi ngờ người bố sẽ viện lí do để ko đóng tiền nuôi con, như vậy có đc ko ạ ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

4.1 Thứ nhất, về vấn đề ly hôn và chia tài sản

Căn cứ theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi bố, mẹ bạn ly hôn thì bố mẹ có quyền thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Nếu bố, mẹ bạn không thỏa thuận được vấn đề tài sản thì có quyền đưa ra Tòa án giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật. Cụ thể:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Theo đó, trên cơ sở quy định của pháp luật thì nguyên tắc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân phụ thuộc vào chế độ tài sản của bố, mẹ bạn. Đối với những tài sản được hình thành trước thời kỳ hôn nhân, tài sản được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản đó được coi là tài sản riêng của bố hoặc mẹ bạn, khi giải quyết ly hôn một trong hai bên không có quyền yêu cầu phân chia tài sản này, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận phân chia ( căn cứ theo quy định tại điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản riêng). Còn trong trường hợp tài sản phân chia là tàn sản được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, được thừa kế, tặng cho hai vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân... ( điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014) thì bố, mẹ bạn có quyền yêu cầu phân chia khi ly hôn.

Mặt khác, điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định cho tiết về nguyên tắc giải quyết phân chia tài sản khi ly hôn, theo đó, mẹ bạn có thể được xem xét chia phần giá trị nhiều hơn nếu mẹ bạn chứng minh về mức độ đóng góp trong việc xác lập tài sản, chứng minh đượ bố bạn có hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ, chồng ( có hành vi ngoại tình, không giúp đỡ mẹ bạn chăm sóc, nuôi dưỡng các con).

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

4.2 Thứ hai, về việc cấp dưỡng cho con

Theo quy định tại điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trên cơ sở thỏa thuận của bố, mẹ hoặc theo quyết định của Tòa án trên cơ sở khả năng tài chính của bố bạn và nhu cầu chi tiêu thực tế của các con. Cụ thể:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy mẹ bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bố bạn thanh toán luôn 1 lần trợ cấp nếu có căn cứ cho rằng nếu thanh toán theo từng đợt thì bố bạn sẽ không thực hiện đúng nghĩa vụ

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Chồng ngoại tình, cất giấy giấy tờ không đồng ý ly hôn phải làm sao ?

Thưa luật sư, Luật sư làm ơn cho tôi hỏi, ba tôi là người sống không có trách nhiệm với gia đình và còn cặp bồ bên ngoài rất nhiều ngoài ra ba tôi còn mang hết tài sản gia đình cho gái, mặc dù mẹ tôi đã cho cơ hội thay đổi nhưng mấy chục năm nay không thay đổi mà ngày càng tệ hơn.

Bây giờ mẹ tôi không thể nào sống nổi với ba tôi nữa nên muốn ly hôn nhưng ba tôi không đồng ý ly hôn, ba tôi nói dù ông có dắt gái về nhà ở thì ông cũng không đồng ý ly hôn và ba tôi cất giấu hết giấy tờ để ly hôn như: hộ khẩu gia đình, chứng minh thư của ba tôi, giấy đăng kí kết hôn. Chúng tôi không thể nào lấy được những chứng từ đó nên tòa không giải quyết ly hôn được cho mẹ tôi. Chúng tôi không biết còn cách nào để có thể giúp mẹ tôi ly hôn với ba tôi được để mẹ tôi sống thanh thản quãng đời còn lại vì mẹ tôi đã quá khổ rồi.

Hôm nay tôi viết đơn này rất mong được luật sư tư vấn cho tôi xem nên làm như thế nào và thủ tục trường hợp của mẹ tôi làm sao để có thể ly hôn được với ba tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư rất nhiều. RẤT MONG NHÂN ĐƯỢC HỒI ÂM SỚM!

Người hỏi: HT Huyen

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, mẹ bạn hoàn toàn có quyền đơn phương ly hôn, Tòa sẽ xem xét, giải quyết cho mẹ bạn nếu thấy có căn cứ về việc bố bạn có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Mẹ bạn cần phải chuẩn bị một bộ hồ sơ rồi nộp tới Tòa án nơi bố bạn cư trú, hồ sơ gồm những giấy tờ sau:

- Đơn xin đơn phương ly hôn.

- Giấy đăng ký kết hôn bản chính.

- Sổ hộ khẩu của hai vợ chồng (bản sao có chứng thực)

- Chứng minh thư của hai vợ chồng (bản sao có chứng thực)

- Giấy khai sinh của các con

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp về tài sản).

Theo như bạn trình bày thì bố bạn đã giữ hết giấy tờ như: hộ khẩu gia đình, chứng minh thư của bố bạn, giấy đăng kí kết hôn. Trường hợp này, nếu mẹ bạn không thể xin cơ quan có thẩm quyền cấp lại cho mình được thì mẹ bạn có thể làm đơn gửi Tòa án trình bày rõ lý do mà mẹ bạn không thể cung cấp được những giấy tờ này để Tòa án có thể xem xét, giải quyết.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?