1. Có cần sự có mặt của con tại tòa án khi bố mẹ ly hôn ?

Tôi và chồng tôi ly thân 13 năm đến giờ này tôi thấy cần thiết giải quyết dưts điểm để ổn định cuộc sống của 3 mẹ con.Tôi có 2 con 1 con đã qua 18 tuổi và con sinh năm 2000.Từ nhỏ tới giờ việc nuôi dạy, chăm sóc các con tôi hoàn toàn gánh vác. Giờ ly hôn chồng tôi cũng không tranh chấp nuôi con và các con cũng muốn ở với mẹ.

Nhưng theo tôi được biết con dưới 18 tuổi thì phải có mặt tại tòa cùng bố mẹ trong khi cháu đang học nội trú và bản thân tôi cũng không muốn con thấy cảnh cha mẹ tại tòa. Luật sư tư vấn giúp tôi có cách nào cháu không phải đến tòa mà vẫn xử được không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

-> Như vậy cả chồng và vợ đều có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 có quy định về đương sự trong vụ việc dân sự, cụ thể như sau:

"Điều 68. Đương sự trong vụ việc dân sự

1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.

3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

5. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự".

=> Nói như vậy có nghĩa là con lớn của chị không nhất thiết cần có mặt tại tòa khi vợ chồng anh chị giải quyết ly hôn khi cháu không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Chỉ khi cháu có yêu cầu tham gia thì mới cần có mặt. Hơn nữa không hề có quy định của pháp luật cho rằng khi con đã trên 18 tuổi cần bắt buộc có mặt tại tòa án khi bố mẹ ly hôn.

Hơn nữa, trường hợp trên, do con chị đã thành niên (trên 18 tuổi), nên nếu không thuộc trường hợp bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, thì cha, mẹ không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn có được phân chia tài sản bố mẹ chồng đã cho chồng không ?

>> Xem thêm:  Tư vấn về trình tự thủ tục và mẫu đơn ly hôn ?

2. Khi con ly hôn có được đòi lại tài sản đã tặng cho con ?

Không ít Bố Mẹ khi con cái kết hôn đã tặng cho đất với mục đích tốt đẹp là tạo điều kiện cho con cái làm ăn, phát triển. Nhưng sau đó hôn nhân của con đổ vỡ và họ muốn đòi lại đất đã cho. Vậy, việc này có làm được không ?

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình​ Thuận tình ly hôn :

" Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn ."

Hồ sơ thuận tình ly hôn gồm:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (Bản chính).

+ Chứng minh thư nhân dân của vợ chồng (Bản sao có chứng thực).

+ Giấy khai sinh của các con (Bản sao có chứng thực).

+ Sổ hộ khẩu gia đình (Bản sao có chứng thực).

+ Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn theo mẫu.

Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận huyện nơi thường trú của một trong hai bên ( nguyên đơn hoặc bị đơn )

Ngược lại, nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được bạn có quyền đơn phương ly hôn theo yêu cầu một bên theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Ly hôn theo yêu cầu của một bên :

" 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Hồ sơ, thủ tục ly hôn đơn phương được quy định như sau:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực); ( Bạn nên làm giấy khai sinh cho con để hoàn thiện hồ sơ ).

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn xin ly hôn (Theo mẫu) .

Nơi nộp hồ sơ : Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của vợ bạn.

* Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tại Điểm a,, Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, nên trường hợp này bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ bạn cư trú.

* Đối với quyền nuôi con : Theo quy định pháp luật thông thường con dưới 36 tháng tuổi sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì bạn có quyền nuôi dưỡng nếu điều kiện của bạn tốt hơn vợ mình về trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, theo Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. "

Tài sản chung của vợ chồng:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

3. Không góp công sức gì khi ly hôn có được chia đất không ?

Thưa Luật sư! Tôi muốn nhờ Luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau: Bố mẹ tôi lấy nhau năm 1991, đến nay được 2 người con. Từ ngày lấy nhau đến giờ, mẹ tôi là người làm lụng vất vả mua đất xây nhà trong khi bố tôi chơi bời không giúp được gì. Bố tôi đã có quan hệ bất chính với người khác và câu kết với bác gái ruột âm mưu chuyển sổ đỏ sang tên bố tôi.

Năm 2011, bố tôi được mẹ tôi xin làm bảo vệ ở công ty may, tuy nhiên bố tôi vẫn quan hệ bất chính với người khác và tiền kiếm được không giúp gì cho gia đình. Năm 2014, bố mẹ tôi làm đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, bố tôi đòi chia mảnh đất mà một mình mẹ tôi đã vất vả làm lụng để mua. Cả xã ai cũng biết tất cả đất đai nhà cửa là một tay mẹ tôi làm vất vả mua và xây dựng nên. Tôi muốn hỏi Luật sư bố tôi không có công lao gì trong việc mua mảnh đất đó liệu có được chia đất hay không?

Tôi rất bức xúc và mong được sự tư vấn của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khi con ly hôn Bố Mẹ có thể khởi kiện đòi lại tài sản đã tặng cho được không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản của vợ chồng:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng....."

Do đó, dù mảnh đất ấy là do mình mẹ bạn làm lụng vất vả để mua và bố bạn không góp công sức gì thì đây vẫn được coi là tài sản chung.

Khoản 1, khoản 2 điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 12. Đăng ký tài sản chung của vợ chồng

2. Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng."

Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Khoản 3 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, đối với trường hợp mà bạn hỏi, dù bố bạn câu kết với bác gái chuyển sổ đỏ sang tên bố bạn thì mẹ bạn vẫn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên cả vợ hoặc chồng. Nếu bố bạn muốn khẳng định mảnh đất ấy là tài sản riêng của bố bạn thì bắt buộc phải đưa ra căn cứ để chứng minh. Nếu không chứng minh được, đấy vẫn được xem là tài sản chung.

Điểm b khoản 2 điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;....."

Như vậy, về nguyên tắc, sau khi ly hôn thì mảnh đất sẽ được chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp của vợ chồng. Vì thế, nếu như mẹ bạn không muốn chia mảnh đất đó cho bố bạn thì phải chứng minh được rằng bố bạn không hề góp công sức gì vào việc mua mảnh đất ấy để Tòa án xem xét. Nếu mẹ bạn không thể chứng minh thì trên thực tế bố bạn vẫn được chia mảnh đất khi ly hôn.

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

4. Thủ tục ly hôn như thế nào cho đúng ?

Luật Minh Khuê tư vấn về những vướng mắc về thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật như sau:

Trả lời:

1. Căn cứ giải quyết ly hôn

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên, cụ thể như sau:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứvề việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn".

Chào luật Minh Khuê, vợ tôi bỏ nhà đi từ năm 2010 đến nay không có tin tức gì vậy tôi muốn tuyên bố mất tích thì phải cần giấy tờ gì ? Khi đi vợ tôi cầm theo giấy đăng ký kết hôn và giấy CMND của vợ tôi nên tôi không có giấy tờ trên ? Tôi phải xin xác nhận ở đâu để ly hôn với vợ ? Lệ phí tuyên bố mất tích ( không có tài sản) là bao nhiêu ? Chân thành cảm ơn luật sư.

Hiện nay việc có mặt của chồng chị là yếu tố cần thiết để giải quyết ly hôn.Nếu chồng chị được tuyên là mất tích thì tòa án cũng xác định tuyên một người là mất tích và cho ly hôn. Lệ phí tuyên một người là mất tích vẫn là 200 nghìn án phí dân sự sơ thẩm, ngoài ra bạn còn phải nộp phí về việc tòa án áp dụng các biện pháp tìm kiếm người mất tích.

2. Quyền nuôi con sau ly hôn

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Xin hỏi luật sư , tôi và chồng tôi kết hôn cũng gần 2 năm thì dạo gần đây, tôi và chồng tôi có mâu thuẫn lời qua tiếng lại dẫn đến xô xát và đánh nhau . Tôi muốn ly hôn với chồng tôi và chúng tôi hiện có con chung khoảng 15 tháng tuổi nên tôi muốn hỏi là về phần con cái thì ai có quyền nuôi cháu ? Cả chồng tôi và mẹ chồng tôi cũng đòi nuôi cháu , thì tôi phải làm sao ? Thủ tục có phức tạp không luật sư ? Chân thành cảm ơn luật sư ?

=> Hiện nay mẹ chồng bạn chưa có quyền giành quyền nuôi con với bạn. Quyền nuôi con chỉ xác nhận cho cha và mẹ

3. Hồ sơ ly hôn

a. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

- Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

- Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

- Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

b. Nơi nộp hồ sơ :

Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Tòa án nhân dân có thẩm quyền ở đây là Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;"

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

"Điều 88. Xác định cha mẹ con

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định".

"Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình."

Chào luật sư Minh Khuê, Tôi và chồng cũ tôi đã ly hôn tháng 4/2016, và có 1 cháu, nhưng cháu không phải là con ruột của chồng cũ của tôi vì anh là người vô sinh, chúng tôi có đi thụ tinh ống nghiệm 1 lần nhưng không thành công, cũng vì lần thụ tinh ống nghiệm đó mà tình cảm vợ chồng tôi không còn như trước nữa. Nay chúng tôi đã không còn vợ chồng, tôi muốn xóa tên chồng cũ ra khỏi giấy khai sinh của con tôi để sau này đi học hoặc điều tra lý lịch thì sẽ không phải đụng tới gia đình nhà chồng tôi nữa. Xin hỏi tôi phải làm thủ tục gì ? và nộp đơn ở đâu ? vì tôi và chồng tôi ở 2 nơi khác nhau. Kính mong luật sư giúp đỡ, chân thành cảm ơn.

Nếu có căn cứ như giấy xác định ADN, xác nhận không là cha con ruột thì mới được tòa án xem xét không là cha mẹ con khi có yêu cầu. Nếu không được tòa án tuyên thì chị chưa thể xóa tên chồng cũ ra khỏi giấy khai sinh của cháu được. Chị có thể đưa đơn ra tòa án huyện nơi chồng cũ có hộ khẩu thường trú yêu cầu tuyên bố 2 người không phải là cha, mẹ con.

Chào luật sư, Luật sư cho em hỏi: Em kết hôn được 2 năm và sinh được 1 con, em và con nhập khẩu bên ngòai chưa cắt khẩu về phía chồng.Thời gian này vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên em không muốn cắt khẩu 2 mẹ con. Cho em hỏi, em và con có thể tự cắt khẩu riêng mà không có chồng em được không ? Mẹ con em cắt khẩu nhà ngoại lập thành khẩu có em và con được không ? Mong luật sư giúp em. Chân thành cảm ơn luật sư. Chân thành cảm ơn.

Điều 27 Luật Cư trú năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2013 quy định như sau:

"Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do".

-> Như vậy chị cần được sự đồng ý của chủ hộ bằng văn bản khi tách hộ khẩu.

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

5. Tư vấn ly hôn chia tài sản mà nhà chồng cho ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi lấy chồng tháng 2 năm 2014, tháng 10 thì tôi về trên ngoại do hai vợ chồng xảy ra xung đột khi tôi vừa mang thai được 5 tuần.

Chồng tôi tát tôi 8 cái liền trước sự chứng kiến của mẹ chồng mà bà không làm gì chỉ đứng ngoài nói. Cơ thể tôi yếu trước đó đã sảy một đứa do suy nghĩ nhiều vì chồng hay đi rượu chè tới khuya. Lần này chồng đánh tôi xong, tôi xin về trên ngoại bị ra huyết và phải bỏ đứa bé. Nỗi đau thể xác và tinh thần làm tôi càng hận nhà chồng hơn. Nhà chồng tới khi tôi từ viện về mới thèm lên hỏi thăm, mà người lên chỉ là mẹ chồng tôi. Tuần sau thì cả bố mẹ chồng tôi lên xin về nhưng nói những câu khó nghe, lòng tự trọng tôi càng cao, tôi quyết định không về. Tháng 11 chồng nhắn tin cho tôi xin mấy chỉ vàng tôi giữ, trong đó hôm cưới dì chồng tôi cho chồng 2 chỉ, tôi 1 chỉ và ba chị chồng cho chồng 1chỉ, tôi một chỉ. Tôi trả chồng 3 chỉ nhà chồng cho chồng. Còn 2 chỉ nhà chồng cho tôi giờ tôi vẫn giữ. Giờ chồng nộp đơn ly hôn rồi, mai 1-7 -2015 tòa gửi giấy triệu tập đương sự (để giải hoà lần 1).

Luật sư cho biết như trường hợp của tôi sẽ giải quyết như thế nào cả về tài sản?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.T

Tư vấn ly hôn chia tài sản mà nhà chồng cho ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Tòa án gửi giấy triệu tập thì bạn phải có mặt theo đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập của Tòa án, nghĩa vụ này được quy định tại Khoản 11 Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

"Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự

11. Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành".

Theo đó, bạn và chồng phải có mặt khi có giấy triệu tập của Tòa án về việc tham gia phiên hòa giải. Đối với việc tham gia phiên tòa thì: Nếu bạn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt thì Tòa án tiến hành hoãn phiên tòa. Nếu bạn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bạn.

Về vấn đề giải quyết tài sản

Tài sản chung của vợ chồng được xác định theo Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Theo thông tin bạn cung cấp thì số vàng bạn đang giữ do được tặng cho trong ngày cưới của 2 vợ chồng cho nên được xác định là tài sản chung, trừ trường hợp bạn hoặc chồng chứng minh được việc 3 chỉ vàng là do chồng bạn được tặng cho riêng, 2 chỉ vàng là do bạn được tặng cho riêng.

Dựa trên cơ sở xác định tài sản chung, tài sản riêng thì tài sản vợ chồng sau khi ly hôn được chia theo nguyên tắc tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể là:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.".

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?