Bây giờ tôi đang băn khoăn về chuyện căn nhà, do lúc mua nhà xong thì tôi lại để anh ta đứng tên căn nhà đó. Xin hỏi công ty luật minh khuê, có phải nhà đứng tên ai thì sau khi ly hôn thì nhà thuộc về người đó không? Tôi cũng đã bỏ rất nhiều mồ hôi, công sức mới có đủ tiền để mua nhà, tôi không muốn căn nhà thuộc hết về anh ta.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP;

2. Luật sư tư vấn:

>> Xem thêm:  Thủ tục ly hôn đơn phương nhanh nhất theo quy định mới nhất

1. Tài sản chung của vợ, chồng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nhà ở và các loại bất động sản khác là loại tài sản bắt buộc phải đăng kí quyền sở hữu. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định với trường hợp nhà là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp nhà là tài sản chung vợ, chồng nhưng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ đứng tên một trong hai người.

Có thể nói việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà là căn cứ để xác định quyền định đoạt, quyền sử dụng đối với tài sản. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ để xác định tài sản này không phải là tài sản chung của vợ chồng. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ, chồng như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, căn cứ theo quy định này, trường hợp nhà ở chỉ đứng tên của vợ hoặc chồng vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi có một trong những căn cứ sau đây:

– Nhà ở là kết quả do vợ, chồng cùng tạo lập được;

– Nhà ở là tài sản được tặng cho, thừa kế chung;

– Nhà ở là tài sản riêng của vợ chồng nhưng đã thỏa thuận là tài sản chung.

Theo như bạn trình bày thì căn nhà đó là do bạn và chồng bạn cùng nhau lao động, kiếm tiền để mua. Như vậy, căn cứ theo Điều 33 ở trên thì căn nhà đó sẽ thuộc về tài sản chung của vợ, chồng bạn. Theo đó, khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2. Chia tài sản của vợ, chồng sau khi ly hôn

Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể.

>> Xem thêm:  Thủ tục ly hôn đơn phương khi chồng đang ở nước ngoài?

Về nguyên tắc, trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP tài sản chung của vợ chồng khi chia đôi sẽ tính đến các yếu tố sau:

- “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

- “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

- “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

- “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Do đó, đối với tài sản là nhà ở chỉ đứng tên của vợ hoặc chồng nhưng được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì khi ly hôn cũng sẽ được chia theo các yếu tố này. Trong trường hợp có tranh chấp giữa vợ và chồng về việc nhà ở đứng tên của một bên là tài sản riêng thì người cho rằng tài sản này là tài sản riêng có nghĩa vụ phải chứng minh. Quy định này tạo điều kiện cho người vợ hoặc người chồng không đứng tên trên sổ đỏ nhà khi ly hôn có thể bảo vệ được quyền của mình một cách tối đa nhất.

Do đó, bạn không cần phải lo lắng về việc căn nhà chỉ đứng tên của chồng bạn thì sau khi ly hôn Tòa sẽ giao nhà cho anh ấy mà bạn không được hưởng quyền lợi gì từ căn nhà. Trước hết hai bạn nên thỏa thuận với nhau về việc định đoạt căn nhà để đỡ phức tạp hơn khi chia tài sản, nếu các bạn không thỏa thuận được với nhau thì Tòa sẽ chia theo luật định.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục ly hôn kéo dài bao lâu ? Tư vấn thủ tục ly hôn

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ly hôn nhanh làm như thế nào ? Phân chia tài sản chung khi ly hôn