Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Chào Luật sư, tôi có cho một người thuê chiếc xe 16 chỗ do tôi đứng tên nhưng tôi không muốn giao giấy tờ xe cho người này vì lo sợ xe bị đem đi cầm cố trái ý muốn. Tôi muốn biết liệu tôi có thể giao bản sao có chứng thực giấy tờ xe kèm theo hợp đồng thuê để người thuê xuất trình khi Cảnh sát giao thông có yêu cầu kiểm tra giấy tờ xe không? Mong nhận được ý kiến tư vấn của Luật sư!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2015

- Luật giao thông đường bộ 2008;

- Nghị định 23/2015/NĐ-CP về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

2. Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về giấy tờ xe, khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ quy định:

Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:

a) Đăng ký xe;

b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;

c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;

d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới”.

Mặt khác, Điều 478 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định về nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê như sau:

1. Bên cho thuê phải bảo đảm quyền sử dụng tài sản ổn định cho bên thuê”.

Như vậy, khi bạn cho thuê xe, bạn có trách nhiệm bảo đảm quyền sử dụng của người thuê xe đối với tài sản thuê là chiếc xe. Trong đó có nghĩa vụ cung cấp các giấy tờ xe cho bên thuê để họ có thể tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ hai, về vấn đề giao bản sao có chứng thực giấy tờ xe và hợp đồng thuê xe cho bên thuê để họ xuất trình khi có yêu cầu của Cảnh sát giao thông,

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 23/2015/NĐ-CP thì:

2.Bản sao được chứng thực từ bản chính “có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Với quy định này, có thể hiểu rằng bản sao được chứng thực chỉ có giá trị thay thế bản chính trong các giao dịch dân sự thông thường. Trong quan hệ pháp luật hành chính như việc kiểm tra giấy tờ xe đối với người tham gia giao thông của Cảnh sát giao thông thì bản sao được chứng thực không đương nhiên dùng để thay thế bản chính; chưa kể trường hợp trong xử lý vi phạm hành chính, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền còn được phép giữ giấy tờ (giấy tờ xe) của người vi phạm.

Như vậy, bản sao có chứng thực của các loại giấy tờ này không có giá trị thay thế bản chính trong trường hợp này và nếu người bị kiểm tra không xuất trình được bản chính, có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Cụ thể, nếu vi phạm, người điều khiển xe sẽ bị xử phạt theo quy định tại Khoản 3 Điều 21 Nghị định Nghị định 171/2013/NĐ-CP như sau:

“3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy phép lái xe;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy đăng ký xe;

c) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại xe có quy định phải kiểm định)”.

Tuy nhiên, vẫn có trường hợp pháp luật cho người điều khiển ô tô được phép sử dụng bản sao chứng thực giấy phép đăng ký phương tiện giao thông, kèm theo bản gốc giấy biên nhận của tổ chức tín dụng còn hiệu lực. Đó là trường hợp, trong thời gian tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy phép đăng ký xe để bảo đảm nghĩa vụ dân sự trong thế chấp phương tiện, chủ xe có thể sử dụng hai loại giấy tờ trên để thay thế cho bản gốc khi tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam. Bởi thực tế là hầu hết những khách hàng mua xe ô tô trả góp đều phải thế chấp giấy đăng ký gốc để được ngân hàng giải ngân. Đồng thời, ngân hàng cũng sẽ cấp giấy đăng ký xe bản sao có xác nhận để người cho vay tham gia giao thông.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê