Điều này đã được bà A và một số ông bà có liên quan khác xác nhận. Năm 2002, ông cháu được hưởng chính sách của nhà nước hồ trợ tiền trợ cấp 1 lần là 500.000 đồng. Năm 2013, nhà nước bắt đầu có chính sách trợ cấp hàng tháng cho những người có công với cách mạng với số tiền là gần 1.000.000 đồng/ tháng. Mọi giấy tờ thủ tục của ông cháu đều hợp pháp nên ông cháu được hưởng chế độ này.

Không hiểu vì lý do gì, ông B là người cùng địa phương với ông cháu làm đơn lên UBND xã về việc xem xét lại chế độ của ông cháu. Thực sự lá đơn ấy không có căn cứ, chỉ là ý kiến chủ quan từ phía ông B. Sau đó, xã đã có công văn làm rõ về việc hồ sơ chế độ của ông cháu là hoàn toàn hợp pháp, gửi về cho ông B. Nhưng ông B lại tiếp tục làm 1 lá đơn tương tự lên xã vì ông B cho rằng chế độ không đúng, tuy nhiễn vẫn không chỉ rõ được hồ sơ không đúng ở đâu.

Lần này theo quy trình xã phải gửi lên huyện xem xét. UBND huyện sau khi xem xét lá đơn của ông B cũng gửi công văn lại cho xã về việc hồ sơ chế độ của ông cháu là hoàn toàn hợp pháp và ông cháu được hưởng chính sách của nhà nước và UBND xã đã gửi lại công văn trả lời cho ông B. Vì thực sự những gì ông cháu đã làm và khai là hoàn toàn đúng với sự thật. Hơn nữa ở tuổi gần đất xa trời được tin kiện tụng như vậy ông cháu bị sốc, suy nhược tinh thần lẫn thể trạng vì ông cháu vốn bị huyết áp cao. Sự việc được tạm lắng một thời gian. Gần đây nhất là ngày 1 tháng 7 năm 2015, ông B cùng bà A (nhắc ở trên) làm đơn về việc làm sai hồ sơ của ông cháu. Bà A trước đó đã xác nhận việc bị tù đày của ông cháu; đồng thời trong hồ sơ lý lịch Đảng của bà A cũng có nêu bị tù đày cùng ông cháu. Vậy mà giờ bà A lật lại việc bà ấy không xác nhận cho ông cháu. 

Theo quan điểm của cháu, ông B đã vi phạm tội vu khống ảnh hưởng đến nhân phẩm của người khác. Vậy cháu xin Luật sư có thể tư vấn thêm cho cháu về vấn đề này. Cháu thấy rất bất bình về việc làm sai trái của cả ông B và bà A. Vụ việc đang trong quá trình làm rõ.

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.Đ.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới Luật Minh Khuê. Về câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:  

Luật Khiếu nại 2011 

Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) 

2. Nội dung tư vấn: 

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, Luật Minh Khuê xin được giải đáp như sau:

Đầu tiên, Luật Minh Khuê xin được giải đáp thắc mắc của bạn về tội vu khống. Điều 122 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) quy định về tội vu khống như sau:

" 1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. ”

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực. Hình thức tạo ra những thông tin trên có thể dưới những dạng khác nhau như: truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác…

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

- Tố cáo những điều không đúng sự thật, hư cấu trước cơ quan nhà nước.

Nếu người vu khống, loan truyền tin sai sự thật nhầm tưởng rằng tin mình loan truyền đó là đúng thì không cấu thành tội vu khống.

Hậu quả của hành vi vu khống phải trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại tới uy tín, danh dự, nhâm phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm.

Trong trường hợp của bạn, ông B có hành vi gửi đơn lên UBND xã để yêu cầu UBND xem xét lại quyết định hành chính của UBND đối với việc trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng dành cho ông của bạn, không phải hành vi tạo ra các tin sai sự thật. Đây là hành vi khiếu nại, tuy nhiên, ông B đã thực hiện không đúng quyền khiếu nại của mình khi khiếu nại vấn đề không liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông ta.

Khoản 1 điều 2 Luật Khiếu nại 2011 quy định

“ Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

Khoản 8 điều 2 Luật này quy định về Quyết định hành chính

“ Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.”

Ngoài ra, UBND cấp xã nơi bạn ở không thực hiện đúng quy định Luật Khiếu nại bởi hành vi khiếu nại của ông B không liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, nhưng UBND xã vẫn thụ lý và gửi lại văn bản xác nhận. Khoản 2 điều 11 Luật này quy định:

“ Điều 11. Các khiếu nại không được thụ lý giải quyết

Khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý giải quyết:

2. Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;”

Như vậy, ông của bạn, hoặc bạn đại điện thay ông bạn (theo ủy quyền) có thể gửi đơn khiếu nại lên UBND xã và yêu cầu UBND thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm của mình theo pháp luật đã quy định - yêu cầu UBND không tiếp nhận, thụ lý các đơn của ông B gửi lên đòi xem xét về quyết định hành chính của UBND đối với việc trợ cấp ưu đãi dành cho ông của bạn. 

Trên đây là  tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Bị người yêu cũ nhắn tin và công khai xúc phạm trên mạng xã hôi thì giải quyết thế nào ?

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật MInh KHuê 

>> Xem thêm:  Cách đối phó với sự lăng nhục, xúc phạm