1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự, được xem như đầu vào quy trình tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, từ đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra các quyết định tố tụng phù hợp với diễn biến của vụ án. Khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự trong đó, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự.

2. Thẩm quyền quyết định khưởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Điều 18 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 18. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự

Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”.

Trên cơ sở nguyên tắc được quy định tại Điều 18 thì Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố vụ án hình sự là thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng.

2.1 Thẩm quyền của cơ quan điều tra

Khoản 1 Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiếm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết được quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 153. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cụ thể như sau:

- Cơ quan điều tra thuộc lực lượng cảnh Cảnh sát nhân dân và Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình và thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra trong Quân đội nhân dân và những trường hợp do Viện kiểm sát nhân dân cũng như Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án hình sự.

- Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự (trừ những tội phạm do Viện kiểm sát quân sự hoặc Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Quân sự Trung ương khởi tố và những tội phạm mà người thực hiện là sĩ quan, chiến sĩ an ninh nhân dân).

- Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp do người chức vụ quyền hạn trong các cơ quan tư pháp thực hiện và các tội phạm phát sinh trong hoạt động tư pháp, trừ những trường hợp mà Viện kiểm sát Quân sự Trung ương đã khởi tố.

Lưu ý: Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra.

2.2 Thẩm quyền của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Theo quy định tại Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau:

- Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiếm lân, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư có thẩm quyền khởi tố vụ án khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực cac địa bàn quản lý của mình. Thẩm quyền ra Quyết định khởi tố vụ án hoặc Quyết định không khởi tố vụ án thuộc về người đứng đầu hoặc cấp Phó của người đứng đầu trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;

- Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

2.3 Thẩm quyền của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau đây:

- Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

- Viện kiếm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử. Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm xảy ra trong địa phận của mình quản lý khi tự mình phát hiện có dấu vết tội phạm.

Như vậy thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp.

2.4 Thầm quyền của Tòa án

Khoản 4 Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 153. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”.

Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Tòa án không có thẩm quyền ra quyết đinh khởi tố vụ án hình sự mà phải Quyết định tra hồ sơ cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát quyết định khởi tố, điều tra bổ sung.

2.5 Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc giải quyết tranh chấp về thầm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cụ thể được xác định như sau:

- Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Tranh chấp thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết.

- Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra cấp tỉnh, giữa các Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các Cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giải quyết.

- Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.

3. Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự

Khi có một trong các căn cứ không khởi tố theo Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố”.

Khi có những căn cứ nêu trên thì người có quyền khởi tố vụ án hình sự ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu trong trường hợp đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Như vậy khi có một căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan, người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Luật Minh Khuê