1. Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ?

Thưa luật sư, xin Luật sư cho em hỏi là: Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013 ? Và Luật đất đai năm 2013 quy định như thế nào về việc trưng dụng đất ?
Em xin cám ơn vô cùng !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về thu hồi đất, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất theo Luật đất đai 2013 được quy định như sau:

Điều 66 Luật đất đai năm 2013 quy định các cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất bao gồm:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Thứ hai, Luật đất đai năm 2013 quy định về việc trưng dụng đất:

Điều 72 Luật đất đai năm 2013 và Điều 67 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, cụ thể như sau:

1. Về các trường hợp Nhà nước trưng dụng đất

Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

2. Về quyết định trưng dụng đất

Quyết định trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản; trường hợp khẩn cấp không thể ra quyết định bằng văn bản thì người có thẩm quyền được quyết định trưng dụng đất bằng lời nói nhưng phải viết giấy xác nhận việc quyết định trưng dụng đất ngay tại thời điểm trưng dụng. Quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ban hành.

Chậm nhất là 48 giờ, kể từ thời điểm quyết định trưng dụng đất bằng lời nói, cơ quan của người đã quyết định trưng dụng đất bằng lời nói có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản việc trưng dụng đất và gửi cho người có đất trưng dụng.

Quyết định trưng dụng đất, văn bản xác nhận việc trưng dụng đất gồm các nội dung chủ yếu sau đây: (Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP)

- Họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người quyết định trưng dụng đất;

- Tên, địa chỉ của người có đất trưng dụng hoặc người đang quản lý, sử dụng đất trưng dụng;

- Tên, địa chỉ của tổ chức, họ tên và địa chỉ của người được giao sử dụng đất trưng dụng;

- Mục đích, thời hạn trưng dụng đất;

- Vị trí, diện tích, loại đất, tài sản gắn liền với đất trưng dụng;

- Thời gian bàn giao đất trưng dụng.

3. Về thẩm quyền trưng dụng đất

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất, quyết định gia hạn trưng dụng đất. Người có thẩm quyền trưng dụng đất không được phân cấp thẩm quyền cho người khác.

4. Về thời hạn trưng dụng đất

Thời hạn trưng dụng đất là không quá 30 ngày kể từ khi quyết định trưng dụng có hiệu lực thi hành. Trường hợp trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì thời hạn trưng dụng được tính từ ngày ra quyết định đến không quá 30 ngày kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Trường hợp hết thời hạn trưng dụng đất mà mục đích của việc trưng dụng chưa hoàn thành thì được gia hạn nhưng không quá 30 ngày. Quyết định gia hạn trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và gửi cho người có đất trưng dụng trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng.

5. Về việc chấp hành quyết định trưng dụng

Người có đất trưng dụng phải chấp hành quyết định trưng dụng. Trường hợp quyết định trưng dụng đất đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật mà người có đất trưng dụng không chấp hành thì người quyết định trưng dụng đất ra quyết định cưỡng chế thi hành và tổ chức cưỡng chế thi hành hoặc giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nơi có đất trưng dụng tổ chức cưỡng chế thi hành.

6. Về việc hoàn trả đất trưng dụng

Người có thẩm quyền trưng dụng đất có trách nhiệm giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng đất trưng dụng đúng mục đích, hiệu quả; hoàn trả đất khi hết thời hạn trưng dụng; bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra.

Việc hoàn trả đất trưng dụng cho người sử dụng đất khi hết thời hạn trưng dụng đất được thực hiện theo quy định sau đây:

+ Người có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất ban hành quyết định hoàn trả đất trưng dụng và gửi cho người có đất bị trưng dụng;

+ Trường hợp người có đất trưng dụng tự nguyện tặng cho Nhà nước thì làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

7. Về bồi thường thiệt hại do trưng dụng đất gây ra

Việc bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra thực hiện theo quy định sau đây:

- Người có đất trưng dụng được bồi thường thiệt hại trong trường hợp đất trưng dụng bị hủy hoại; trường hợp người có đất trưng dụng bị thiệt hại về thu nhập do việc trưng dụng đất trực tiếp gây ra;

- Trường hợp đất trưng dụng bị hủy hoại thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm thanh toán;

- Trường hợp người có đất trưng dụng bị thiệt hại về thu nhập do việc trưng dụng đất trực tiếp gây ra thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào mức thiệt hại thu nhập thực tế tính từ ngày giao đất trưng dụng đến ngày hoàn trả đất trưng dụng được ghi trong quyết định hoàn trả đất trưng dụng.

Mức thiệt hại thu nhập thực tế phải phù hợp với thu nhập do đất trưng dụng mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm trưng dụng đất;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nơi có đất trưng dụng thành lập Hội đồng để xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra trên cơ sở văn bản kê khai của người sử dụng đất và hồ sơ địa chính. Căn cứ vào mức bồi thường thiệt hại do Hội đồng xác định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định mức bồi thường.

- Trách nhiệm xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra được quy định như sau:

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất trưng dụng chịu trách nhiệm xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất trưng dụng chịu trách nhiệm xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra đối với trường hợp khu đất trưng dụng thuộc địa giới hành chính của nhiều đơn vị hành chính cấp huyện.

- Thành phần Hội đồng xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra gồm:

+ Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Trưởng ban;

+ Các thành viên thuộc các cơ quan tài nguyên và môi trường, tài chính và các thành viên khác có liên quan;

+ Đại diện cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định trưng dụng đất;

+ Đại diện Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi có đất;

+ Các thành viên là đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;

+ Đại diện của người có đất trưng dụng.

- Tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra được ngân sách nhà nước chi trả một lần, trực tiếp cho người có đất trưng dụng trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày hoàn trả đất.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

2. Hướng dẫn chính sách đền bù khi nhà nước thu hồi đất đai ?

Thưa luật sư, Tên tôi là: Đoàn thị Thuyết, 67 tuổi, Nay tôi gửi thư này muốn được văn phòng Luật sư tư vấn cho tôi về Luật đất đai, nội dung cụ thể như sau: 1. Năm 1986 gia đình nhà tôi có mua một mảnh đất và tài sản trên đất Bằng giấy viết tay có chứng thực của Ủy Ban nhân dân thị trấn Vụ Bản. Với diện tích là 1080 m2, Ba mặt giáp đường liên xã, một mặt giáp sông.
- Trong giấy Bán nhà, chủ cũ có ghi là để lại 8m2 đất ở góc vườn để làm lều Bán hàng, sau đó họ lấn chiếm của tôi chừng 20m2 nữa. Năm 1999 thị trấn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ ) cho tất cả các hộ dân trên địa bàn thị trấn. Gia đình tôi được cấp sổ đỏ với diện tích là: 1.375.m2, chủ cũ được cấp sổ đỏ diện tích là 55m2. Sổ đỏ cấp năm 1999 là số liệu đo đạc năm 1985. Nhà nước cấp sổ đỏ cho chủ cũ 55m2 theo tôi là không đúng vì giấy Bán nhà và tài sản trên đất cho tôi chủ cũ chỉ để lại 8m2, không hiểu vì lý do nào mà nhà nước lại cấp cho chủ cũ 55m2, diện tích cấp đó có phần đất của gia đình nhà tôi.
2. Năm 2000 thị trấn và huyện tiến hành đo đạc chính quy lại toàn bộ diện tích đất đai trên địa bàn thị trấn và toàn huyện. Số liệu đo đạc cho nhà tôi là 1.618m2, diện tích của chủ cũ là 28,8m2 các hộ đã được ký công nhận diện tích đất của nhà mình, nhưng không hiểu vì lý do gì các hộ không được đổi sổ mới( năm 2000) mà vẫn giao dịch sổ đỏ cũ năm 1999 là đúng hay sai? Số liệu năm 2000 có được công nhận hay không?
3. Năm 2002 nhà nước xây dựng cầu sắt Bắc qua sông, đường đi vào cầu và mố cầu đi vào nhà và đất của gia đình nhà tôi. Gia đình nhà tôi phải phá rỡ toàn nhà, các công trình phụ trợ để nhà nước làm cầu và đường vào cầu. Diện tích trong mốc giải phóng mặt Bằng nhà nước đo đạc là 1.268 m2. Chủ cũ cũng nhận tiền 20m2 đất.

4. Năm 2004 xong cầu, gia đình tôi làm lại nhà cũng trên mảnh đất là phần diện tích đất còn lại của gia đình tôi nằm ngoài mốc giải phóng mặt Bằng mà nhà nước không thu hồi cũng như không đền bù. Trước khi làm nhà gia đình nhà tôi đã làm đơn xin cấp đổi sổ đỏ mới xong nhà nước chưa cấp. Gia đình tôi vẫn giao dịch Bằng sổ đỏ cũ, đến năm 2013 gia đình tôi lại làm đơn xin được cấp đổi sổ đỏ cho đúng diện tích hiện trạng. Nhà nước đã đo đạc xác minh và cấp đổi sổ đỏ mới cho gia đình nhà tôi với diện tích là: 826,3m2, trong đó 400m2 đất ở, còn lại là đất vườn đó là diện tích ngoài mốc giải phóng mặt Bằng của gia đình tôi mà nhà nước không thu hồi cũng như không đền bù.

5. Cầu sắt được xây dựng là cầu xây dựng trong khu vực đô thị năm 2002, nhà nước thiết kế và cắm mốc thi công: hành lang cầu chiều dài từ đầu cầu chạy dài là 20m, hành lang bề rộng của cầu là mỗi bên 7m, còn lại hành lang đường là 2m. Năm 2014 chủ cũ làm lại quán làm lấn ra đường, chính quyền địa phương đến đình chỉ xây dựng thì gia đình nhà chủ cũ nói xây dựng trên diện tích sổ được cấp năm 1999 thì gia đình nhà chủ cũ còn thiếu 20m2 nữa là do nhà tôi lấn, chính quyền địa phương xác định không phải gia đình nhà tôi lấn vì mốc xác định danh giới giữa hai gia đình đã ổn định nhiều năm nay.

- Gia đình chủ cũ lại làm đơn và cho rằng nhà nước thu hồi 20m2 đất của gia đình cô ta cấp cho gia đình tôi là sai quy định. Chính quyền cấp huyện đã xác minh và trả lời chủ cũ là không có việc thu hồi của gia đình cô ta để cấp cho gia đình nhà tôi vì danh giới giữa hai gia đình đã có từ 30 năm nay, tường xây kiên cố không có tranh chấp.

- Tháng 8 năm 2016. Chủ tịch UBND huyện đã ra thông báo trả lời là nội dung đơn tố cáo của chủ cũ là không có căn cứ và không đúng thực tế. Vì theo sổ đỏ năm 2000 gia đình chủ cũ chỉ cò 28,8m2, năm 2002 nhà nước thu hồi 20m2 nhưng gia đình chủ cũ chưa bàn giao phần đất đó cho nhà nước vì diện tích này là một phần mở rộng đường và hành lang vào cầu.

6. Cuối tháng 8 năm 2016 gia đình chủ cũ không chấp hành thông báo của chủ tịch UBND huyện và đã làm đơn lên thanh tra tỉnh H, nội dung đơn là việc nhà nước cấp đổi sổ đỏ cho gia đình nhà tôi là không đúng Luật đất đại vì theo giấy tờ thì giữa đất bị thu hồi và đất được cấp sổ đỏ mới là không khớp, diện tích chênh lệch. Ý kiến của thanh tra tỉnh Hòa Bình là gia đình nhà tôi phải trả tiền đất đã làm nhà là 400m2 theo giá hiện tại đúng hay sai?

Tôi nghĩ nhà nước bắt tôi phá nhà, hết đất làm nhà. Xin đất tái định cư không cấp, gia đình tôi làm lại nhà trên phần đất còn lại của gia đình ngoài mốc giải phóng mặt Bằng, không phải đất nhà nước cấp tái định cư cho gia đình nhà tôi mà lại bắt gia đình nhà tôi phải nộp tiền cho nhà nước thì mới được cấp đổi sổ đỏ, trong đó có phần đất ở và đất vườn, xin hỏi như vậy đúng hay sai?

Về hành lang cầu và đường như tôi đã trình bày ở phần trên gia đình tôi chấp hành đùng từ năm 2002. Đến nay thanh tra tỉnh lại nói là Luật mới hành lang cầu chiều dài tính từ đầu cầu kéo ra là 40 m, hành lang rộng mỗi bên là 15m. Tính như vậy nhà tôi xây nhà vi phạm hành lang cầu theo Luật mới, xin hỏi như vậy đúng hay sai?

7. Gia đình tôi là gia đình Chính sách, chồng tôi là đối tượng người có công, đã có 35 năm phục vụ quân đội, những năm đánh mỹ khốc liệt đã có mặt trên các chiến trường miền nam và nước bạn Lào. Năm nay chồng tôi đã 76 tuổi Bị phơi nhiễm chất độc Da cam, thương tích bệnh tật đầy người không biết còn sống được bao lâu nữa. Khi còn tre cống hiến cho đất nước, khi về hưu mới bắt đầu xây dựng cuộc sống cho bản thân và gia đình. Năm 1988 mới xây nhà đến năm 2002 phá nhà cho nhà nước làm cầu, nhà đó ở được 13 năm. Năm 2004 lại xây dựng lại từ đầu đến nay cũng mới được 13 năm nhà nước lại áp Luật mới để ép nhà tôi phải nộp tiền cho nhà nước và cho là xây dựng nhà trên hành lang giao thông, nếu thế thị nhà nước lại ép nhà tôi phá mất nhà.

Tôi nghe các thông tin đại chúng nói về chính sách ưu đãi người có công tốt đẹp như: hỗ trợ đất ở, nhà ở, tại điều kiện thuận lợi nhất để người có công có cuộc sống ổn đinh.Vậy việc thanh tra tỉnh có kết luật như trên có đúng Luật hay không? Có phù hợp với chính sách của Đảng và nhà nước ta hay không?

Rất mong được Luật sư tư vấn giúp tôi và gia đình.Tôi xin chân trành cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Thưa bác , luật Minh Khuê xin cảm ơn sự tin tưởng của bác dành cho đội ngũ tư vấn pháp luật của chúng tôi , với câu hỏi của bác , chúng tôi xin đưa ra quan điểm dựa trên cơ sở như sau:

Căn cứ luật đất đai 2013 :

Thứ nhất, tại khoản 3 , điều 166 luật này có quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất , theo đó việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất do chủ sở hữu mảnh đất và bên mua thương lượng, thỏa thuận, lập thành văn bản và có công chứng tại các phòng hoặc văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã nơi có đất thì hợp đồng này là hợp đồng hợp pháp và được pháp luật công nhận. Do vậy hai bên buộc phải thực hiện theo đúng hợp đồng. Năm 1999, do sự nhầm lẫn của cơ quan có thẩm quyền nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự sai lệch so với thực tế , sau đó hai bên cũng đã công nhân sự sai lầm này và thỏa thuận xác nhận lại ranh giới và diện tích thửa đất vào năm 2000, thỏa thuận này được thể hiện thồng qua việc ký giáp ranh giữa hai bên . Vậy cần phải tôn trọng sự thỏa thuận này , không áp dụng sổ đỏ năm 1999 để làm căn cứ chia đất theo văn bản đó bới chính UBND cấp có thẩm quyền cũng như hai bên đương sự đều đã thừa nhận đây là sổ đỏ cấp sai nội dung.

Thứ hai, tạm gọi bác là bên A và bên đang tranh chấp với gia đình bác là bên B, vậy giữ A và B đang có mâu thuẫn về việc A đời 55m2 trong đó lấn vào 20m2 đất của bác, bác chỉ đồng ý cắt ra 8m2 cho họ theo giấy tờ mua bán trước đây. Vậy thanh tra tỉnh kết luận bác trả 400m2 đất ở cho người B này không giả quyết đúng trọng tâm vấn đề. Vậy bác có thể gửi đơn đề nghị được giải thích rõ lý do và căn cứ pháp lý để biết được cơ quan có thẩm quyền đang căn cứ vào đâu để ra quyết định này, và ra quyết định này nhằm giải quyết vấn đề gì ?

Thứ ba, khi nhà nước thu hồi đất đai vì mục đích quốc qia công cộng, an ninh quốc phòng ... thì khi thu hồi đất của các gia đình người có công với cách mạng . Theo quy định tại khoản 3 điều 86 luật đất đai 2013 thì khi thu hồi đất đẫn đến việc gia đình bác phải di chuyển chỗ ở thì bác sẽ được ưu tiên sớm hơn hoặc chọn vị trí bồi thường đất tốt hơn so với các trường hợp thông thường.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

3. Thu hồi đất nông nghiệp đã được khai hoang ?

Xin kính chào Công ty Luật Minh Khuê ! Năm 1996 nhà tôi được UBND xã cho đấu thầu 10 ha đất nông nghiêp để khai hoang phục hóa trồng cây lúa nước. Hiện nay Nhà nước thu hồi 01 ha để cho doanh nghiêp sử dụng phát triển kinh tế xã hội.

Nhà tôi được UBND xã xác định nguồn gốc đất là đất 5% nên không được đền bù về đất, chỉ được đền bù về tài sản và hoa mầu trên đất. Vậy:

- Nhà tôi có được đền bù về chi phí đầu tư còn lại trên đất không?

- Chi phí đầu tư còn lại trên đất có phải là tài sản vật kiên trúc hoa mầu không?

- Hiện nay trên thực tế quỹ đất nhà tôi khai hoang lên tới 13 ha. Phần đất nhà tôi khai hoang ngoài phần đất đấu thầu là đất gì? Nhà tôi có đủ điều kiện để xác nhận là đất khai hoang từ năm 1996 tới nay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

a. Có được đền bù về chi phí đầu tư còn lại trên đất không?

- Theo quy định tại Điều 77 Luật đất đai năm 2013:

Điều 77. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.

Điều 129 và Điều 130:

Điều 129. Hạn mức giao đất nông nghiệp
1. Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau:
a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;
b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.

2. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.
3. Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất:
a) Đất rừng phòng hộ;
b) Đất rừng sản xuất.
4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 héc ta.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm không quá 05 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì hạn mức giao đất rừng sản xuất không quá 25 héc ta.
5. Hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không quá hạn mức giao đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
6. Hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, làm muối thuộc vùng đệm của rừng đặc dụng cho mỗi hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.
7. Đối với diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ngoài xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng, nếu là đất được giao không thu tiền sử dụng đất thì được tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp của mỗi hộ gia đình, cá nhân.
Cơ quan quản lý đất đai nơi đã giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân gửi thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi hộ gia đình, cá nhân đó đăng ký hộ khẩu thường trú để tính hạn mức giao đất nông nghiệp.
8. Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do nhận chuyển nhượng, thuê, thuê lại, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ người khác, nhận khoán, được Nhà nước cho thuê đất không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều này.

Điều 130. Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của Luật này.
2. Chính phủ quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân phù hợp với điều kiện cụ thể theo từng vùng và từng thời kỳ.

Trong trường hợp này, Nhà nước giao cho gia đình bạn 10 ha đất để khai hoang hóa trồng cây lúa nước - đây là loại đất trồng cây hàng năm. Diện tích đất nông nghiệp của nhà bạn đã vượt hạn mức cho phép theo quy định tại khoản 1 Điều 129 ở trên, do đó căn cứ theo điểm b, khoản 1 Điều 77 ở trên, gia đình bạn sẽ không được bồi thường về phần đất vượt hạn mức nhưng sẽ được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại.

b. Chi phí đầu tư còn lại trên đất là gì?

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP:

2. Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất nhưng đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất còn chưa thu hồi hết. Chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm toàn bộ hoặc một phần của các khoản chi phí sau:

a) Chi phí san lấp mặt bằng;

b) Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

c) Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

d) Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất.

Như vậy, chi phí đầu tư còn lại vào đất không phải là tài sản vật kiến trúc hoa mầu.

c. Xác định loại đất và điều kiện xác nhận đất khai hoang.

- Xác định loại đất:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:

Điều 3. Xác định loại đất

Việc xác định loại đất đối với trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng.

Như vậy, phần đất bạn khai hoang thêm (3 ha) hiện đang được sử dụng 1 cách ổn định và không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì 3 ha đất đó được xác định là đất nông nghiệp vì hiện tại bạn đang sử dụng cả 13 ha đó vào mục đích trồng cây lúa nước.

- Xác nhận đất khai hoang:

Theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 100 Luật đất đai:

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Do bạn không cung cấp thông tin về các loại giấy tờ hiện tại gia đình bạn đang có cũng như tình trạng sử dụng đất của nhà bạn có ổn định hay không, có vi phạm pháp luật về đất đai hay không...do đó chúng tôi chưa thể xác định chính xác cho bạn về câu hỏi này được.

Ngoài ra chúng tôi xin được tư vấn cho bạn về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định như sau:

Theo Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:

Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

4. Nhà nước thu hồi đất, người dân không đồng ý có được không ?

Xin chào các cô, chú Luật sư. Cháu xin hỏi một vấn đề như sau: hiện gia đình cháu đang sở hữu mảnh đất có sổ đỏ năm 2001 diện tích 8600m2 gồm 1800m2 đất ont-cln và 6800m2 đất rừng. Nhưng mảnh đất này là từ thời ông bà để lại sử dụng trước năm 1980 và đã xây nhà với trông cây ăn quả (cây vải thiều) trước năm 2000.
Năm 2001 cán bộ đi đo đất có nói với gia đình cháu là đo đất rừng không phải nộp thuế. Và làm một số giấy tờ với bố cháu để làm thủ tục cấp sổ đỏ. Hiện tại nhà nước mở đường đi qua vườn, gia đình cháu không đồng ý để nhà nước thu hồi 6800m2 đất rừng và muốn tìm lại nguồn gốc đất có được không ạ? Nếu được thì phải làm những gì ạ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời:

Như bạn trình bày ở trên, 6800 m2 đất rừng của gia đình bạn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận đây plaf đất rừng, vậy đã đúng với mục đích sử dụng và nguồn gốc đất của gia đình bạn, bạn không cần thiết phải làm thủ tục chứng minh 6800 m2 này là đất rừng nữa. Phần 1800 m2 trên GCNQSD đất của bạn đã có ký hiệu là đất ONT ( tức đất ở tại nông thôn ) và đất CLN ( đất trồng cây lâu năm) nên việc bạn xây nhà và trồng cây vải trên đất này là không trái với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào quy định tại Luật Đất Đai năm 2013 thì việc xây dựng đường là việc xây dựng các công trình quốc gia, công cộng, do vậy bạn buộc phải chấp hành, nếu sau nhiều lần thuyết phục, vận động bạn không không chấp hành thì nhà nước sẽ cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, cụ thể:

Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

1. Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật này.

2. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;

b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;

d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:

a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế;

b) Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;

c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.

5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất:

a) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất;

b) Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải bảo quản tài sản; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán;

c) Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;

đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban thực hiện cưỡng chế thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban thực hiện cưỡng chế có yêu cầu;

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Vậy nếu gia đình bạn chưa được bồi thường một cách thỏa đáng hay còn gặp khức mắc trong quá trình thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền thì bạn nên viết đơn khiếu nại gửi đến ban bồi thường giải phóng mặt bằng để được giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền sử dụng đất ở khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

5. Bồi thường khi thu hồi đất ao khi nhà nước làm kè ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Gia đình tôi có thầu của phường một mảnh đất ao năm 2006 đến năm 2008 tôi có làm đơn xin xây dựng nhà hàng với diện tích xây dựng khoảng 300m2.

Đến năm 2010 có dự án làm kè, gia đình tôi nhận được thông báo của UBND phường là phải tháo dỡ và không được bồi thường gì. Xin hỏi, vậy gia đình tôi có được hỗ trợ gì không?

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Email: MMS

Bồi thường khi thu hồi đất ao khi nhà nước làm kè ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào Luật đất đai 2013:

“Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này”.

Do đó, theo như dữ kiện bạn đưa ra, do đất này do bạn được nhà nước giao nên sẽ không được bồi thường về đất khi bị thu hồi. Tuy nhiên, bạn sẽ được nhận hỗ trợ theo quy định Luật đất đai 2013:

“Điều 83. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

1. Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

2. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Theo đó, các khoản hộ trợ sẽ quy định cụ thể như sau:

+ Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất:

Căn cứ Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

Điều 19: Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất

Việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm các trường hợp sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; giao đất lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về việc giao đất cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn đinh lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

b) Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a Khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;

c) Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điểm a Khoản này nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

đ) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.

2. Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kieejnj được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại các Điều 100, 101 và 102 của Luật đất đai, trừ trường hợp quy định tại Điểm b khoản này;

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặt dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều này thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.

3. Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định sau:

a) thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;

b) Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền;

c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương”.

4. Việc hỗ trợ ổn định sản xuất thực hiện theo quy định sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú ý, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp;

….

5. đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đât do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm trường quốc doanh thuộc đối tượng quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều này thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng tiền”.

- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp:

Căn cứ Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

“1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định sau đây:

a) Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;

b) Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương.

2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ chế, chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người thu hồi đất nông nghiệp. '

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ cơ chế, chính sách giải quyết việc làm đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, chỉ đạo việc lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người trong độ tuổi lao động tại địa phương. Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm phải lấy ý kiến của người thu hồi đất”.

+ Hỗ trợ khác:

Căn cứ Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Theo đó, việc gia đình bạn bị thu hồi đất nông nghiệp và đất ở thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền và nhà tái định cư. Bạn sẽ được hỗ trợ thêm những khoản để ổn định đời sống và sản xuât; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định. Do đó, việc gia đình bạn có được hỗ trợ thêm nhà ở hay không sẽ phụ thuộc vào quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân đối với phần hỗ trợ khác.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đất ao liền kề với đất ở thì chủ sở hữu đất ở có được sử dụng không ?