1. Có thể thay đổi thỏa thuận nuôi con khi ly hôn không ?

Thưa Luật sư! Tôi có câu hỏi như sau: Vợ chồng chúng tôi dự định ly hôn và đã thỏa thuận con sẽ do tôi nuôi. Nhưng tôi vẫn lo rằng anh sẽ giành quyền nuôi con. Nếu trong đơn thuận tình ly hôn, chồng tôi xác nhận đồng ý để con lại cho tôi và đã ký vào đơn thì liệu khi ra Tòa, anh có thay đổi được ý kiến trước đó đã thỏa thuận với tôi hay không?

Con phải được 36 tháng tuổi thì tòa án mới cho ly hôn có đúng không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, hai vợ chồng bạn dự định ly hôn thuận tình và cả hai cùng sẽ thể hiện sự đồng thuận ly hôn thông qua việc ký tên trên đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy, trong việc này, cả bạn và chồng bạn đều là nguyên đơn. Nếu việc ly hôn giải quyết thuận lợi, chồng bạn không rút yêu cầu hoặc thay đổi yêu cầu thì các thỏa thuận hai bạn đặt ra sẽ được Tòa án công nhân tại Bản án hoặc Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này sẽ có hiệu lực pháp luật luôn vf quyền nuôi con chắc chắn sẽ thuộc về bạn. Tuy nhiên, tại Điều 71, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về quyền của nguyên đơn như sau:

Điều 71. Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn

1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.

2. Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện....

Ngoài ra, trong điều luật quy định về việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự có nêu:

Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án....

Dựa vào các quy định trên, việc có thay đổi hay giữ nguyên yêu cầu (trong tường hợp của bạn là thỏa thuận ly hôn và quyền nuôi con) là quyền của nguyên đơn trong thời hạn cho phép. Vì chồng bạn có thể thay đổi yêu cầu bất kỳ lúc nào, trước khi Tòa án thụ lý hoặc trước khi có quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Do vậy, chỉ khi nào bản án/quyết định của Tòa án được ban hành thì bạn mới có thể chắc chắn về vấn đề ai sẽ nuôi con.

Nếu anh có sự thay đổi, không thuận tình ly hôn và không đồng ý cho bạn nuôi con nữa thì bạn có thể thực hiện ly hôn đơn phương theo thủ tục được hướng dẫn tại bài viết sau: Thủ tục ly hôn đơn phương và quyền nuôi con khi ly hôn ?

Còn về quyền nuôi con khi ly hôn, bạn tham khảo quy định sau tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Ly hôn khi vợ lười làm việc nhà, có thái độ không tốt với nhà chồng ?

Xin chào luật sư, tôi năm nay 29 tuổi, lấy vợ được gần 1 tháng, tuy nhiên có khá nhiều chuyện xảy ra giữa vợ chồng tôi. Vợ tôi bằng tuổi tôi, hiện đang mang thai 6 tuần, hiện đang mở 1 shop nhỏ. Tính khí của cô ấy thất thường kể cả từ trước khi mang thai.

Cô ấy luôn tỏ vẻ khó chịu khi những lời của tôi nói không hợp tai của cô ấy, sẵn sàng nổi điên đối với những việc nhỏ nhặt. 2 chúng tôi từ khi quen nhau đến khi cưới là 2 năm, khi gia đình tôi xem ngày cưới, cô ấy luôn cảm thấy gia đình tôi muốn kéo dài thời gian cưới khi chọn ngày cưới quá lâu để chờ em trai tôi về tham dự (tháng 2 bắt đầu chọn ngày, ngày cưới là tháng 10 dương lịch, em tôi đi nước ngoài ), và luôn không có thiện cảm với mẹ tôi kể từ lúc này.

Mỗi mẹ tôi nói những lời cô ấy cảm thấy có liên quan đến cô ấy, là những lúc tôi bị tra tấn bằng những lời than phiền của vợ, sẵn sàng buông lời nói nặng nề về mẹ tôi. Tôi biết đó là do tính khí của cô ấy được nuông chiều từ bé từ gia đình vợ, ngay cả ba mẹ vợ cô ấy còn sẵn sàng cãi lại, luôn tự cho mình là đúng, mà ông bà bên ấy cũng không nói gì, được nước lấn tới. Khi về nhà tôi, do mang thai nên mẹ tôi cũng không cho cô ấy làm việc nhà, chỉ cần yên tâm dưỡng thai, nhưng cô ấy vẫn không thay đổi thái độ với mẹ tôi, vẫn trước cười sau khó chịu. Sau cưới, khi mẹ tôi muốn lấy lại số tiền cho vợ chồng tôi mượn đặt cọc nhà hàng (mẹ tôi nói nếu như không đủ tiền trả nhà hàng thì mẹ cho, còn nếu dư nhiều thì trả lại mẹ), cô ấy cảm thấy mẹ tôi làm không đúng vì nhà hàng là ba mẹ tôi chọn, tại sao không cho luôn; còn nếu đã không muốn cho thì để vợ chồng tôi tự tìm nhà hàng, nhưng cứ phải là nhà hàng sang, nhưng để chuẩn bị cho đám cưới thì số tài chính của tôi là không đủ để đặt cọc, nên tôi mới phải nhờ ba mẹ. Sau cưới thấy ai cũng khen nhà hàng, nhà bên vợ cũng khen, chỉ riêng cô ấy là chê không tiếc lời. Thái độ của vợ tôi đối với tôi cũng vậy, không giống như đối với 1 người chồng, mà luôn nói theo kiểu ra lênh. Khi tôi cảm thấy bực mình với kiểu nói đó, miễn cưỡng làm thì luôn nhận được câu không muốn làm thì đừng làm, đã làm thì vui vẻ mà làm.

Thử hỏi người chồng nào có thể vui vẻ khi vợ nói chuyện với chồng với thái độ dửng dưng vậy. Ở nhà cũng không làm gì, suốt ngày qua shop ngồi chơi (cô ấy nhận thức được là shop của cô ấy luôn phải bù lỗ khi phải trả tiền mặt bằng, và tôi là người ra số tiền đó, kể cả tiền cưới, nhưng vẫn không cố gắng để cải thiện, lấy công chồng bù việc vợ), tối về ăn rồi nằm trên giường, trong khi tôi làm suốt ngày mà cũng không có được câu hỏi thăm, còn phải nghe phàn nàn, đến ngủ cũng không yên. Tôi là giảng viên, tính tình của tôi nói chung là dĩ hòa vi quý, bình đạm, không thích tranh cãi đôi co, nên vợ hay nói tôi không có chính kiến, tôi cũng thừa nhận vậy, nhưng đó không phải lý do mà cô ấy có quyền la mắng chồng như vậy, sẵn sang xưng hô mày-tao, khi tôi nói chuyện đàng hoàng thì cô ấy nói tính cô ấy là như vậy, không thích thì ly dị. Mới cưới mà tôi đã cảm thấy hơi nản, nhờ tư vấn giúp tôi. Tôi muốn ly hôn thì phải làm sao ?

Tôi xin cảm ơn.

Ly hôn khi vợ lười làm việc nhà và có thái độ dửng dưng với gia dình chồng ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì chúng tôi có thể thấy rằng đời sống của vợ chồng bạn đã rơi vào trạng thái trầm trọng, mục đích hôn nhân khó có thể kéo dài. Tuy nhiên để được ly hôn bạn cần phải có thêm một vài căn cứ, chứng cứ chứng minh vợ bạn không có sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương tới bạn, hành vi này của vợ bạn đã lặp đi lặp lại nhiều lần:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Đồng thời, bạn cũng cần phải lưu ý hiện tại vợ bạn đang mang thai do đó theo quy định của Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bạn sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn:

"3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Tư vấn yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư , em năm nay 18t đã có gia đình và 2 con. vì không nghe lời gia đình em nên em đã để có con ngoài ý muốn . chồng em năm nay 23t. bây giờ em xin trình bày câu hỏi của em , khi về sống trong gia đình chồng em chẳng thấy khổ thẹn gì nhưng từ khi sanh con đầu em cũng được lo tử tế. về sau khi mang thai đứa thứ 2 và cho tới khi sanh em bé thì tất cả lại khác.

Trước đó chồng em không lo làm chỉ lo đi chơi nhưng bây giờ thì chịu làm nhưng lúc làm lúc không tiền lại không có, Mẹ chồng thì ghét em không thương em mà còn đánh em nữa. bây giờ em sẽ nghe lời gia đình em là sẽ bỏ đi nhưng em muốn ôm con theo mà gia đình không cho. gia đình em muốn em đi học lại kím cái bằng rồi đi làm kím tiền mốt ba mẹ em lấy con lại cho em nuoi tại giờ em không có nghề sao nuôi con được mà nhà chồng em không coi em ra gì rồi không làm gì hết.

- Vậy cho em hỏi nếu em bỏ đi 2 đứa con để cho gia đình chồng khi đó em có sai không?

- Gia đình bên nào sẽ đúng và sai. Nếu thưa ra tòa ai sẽ chịu trách nhiệm?

- Sau này khi em làm ra tiền và ăn học đầy đủ em có được lấy lại con không vậy luật sư ?

Xin hãy giúp em với cho em nhận định đúng.

Trả lời:

1. Đơn phương lý hôn

Trường hợp của bạn có ly hôn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của hai bên. Nếu bạn thực hiện đơn phương ly hôn, mặc dù không có sự đồng ý của chồng bạn, bạn chỉ cần có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho chị bạn.

Điều này được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 như sau:

a. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

b. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

c. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

2. Nghĩa vụ nuôi con của cha mẹ sau ly hôn:

Tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con cái sau ly hôn như sau:

a. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

b. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

c. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định trên, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận người sẽ trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, học hành của con cũng như xem xét nguyện vọng của con muốn được sống với ai để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. Về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ nuôi dưỡng, con từ đủ 7 tuổi sẽ phải xem xét nguyện vọng của con.

Đối với câu hỏi của bạn là nếu bạn bỏ đi để lại con cho gia đình chồng chăm sóc thì có sai không? mình xin trả lời là bạn có thể để lại con cho gia đình chồng chăm sóc nếu bạn không có đủ khả năng nuôi dưỡng nhưng bạn có nghĩa vụ phải chu cấp tiền nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Như vậy, nếu bạn không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý.

3. Sau này khi có đủ điều kiện thì bạn có khả năng giành lại quyền nuôi con không ?

Đối với trường hợp của bạn, con bạn 4 tuổi, do vậy hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận người về người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con dựa trên quyền lợi của con về mọi mặt. Như bạn trình bày ở trên hiện giờ bạn chưa có khả năng nuôi con. Vậy nếu sau này bạn muốn giành lại quyền nuôi con thì bạn phải chứng minh được với Tòa án rằng bạn có điều kiện về kinh tế tốt hơn chồng (chẳng hạn như bạn có việc làm ổn định, thu nhập của bạn đủ để chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho con, đảm bảo cho con được ăn, mặc, ở, học hành, khám, chữa bệnh đầy đủ), hơn nữa bạn cũng có trình độ học vấn, môi trường giáo dục tốt, tình cảm yêu thương mà bạn dành để chăm sóc cho con từ trước tới nay rất sâu sắc. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải nêu ra những bất lợi nếu cho con ở với cha, chẳng hạn như chồng bạn đang thất nghiệp, thu nhập không ổn định, tư cách đạo đức của chồng bạn không tốt.

Vậy câu trả lời là bạn có khả năng giành lại quyền nuôi con nếu ạn chứng minh được mình có các điều kiện chăm sóc con tốt hơn chồng mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn xin ly hôn

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn ?

Thưa luật sư: Cho e hỏi là đất đai khi bố mẹ li hôn, mà đất đứng tên bố thì phân chia như thế nào ạ?. Em xin cảm ơn !

Tư vấn yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy nếu mảnh đất đó chỉ đứng tên bố bạn thì bạn phải xem xét xam mảnh đất này được hình thành trong thời khi hôn nhân của bố mẹ bạn hay hình thành ngoài thời kì hôn nhân, nếu hình thành trước hôn nhân thì đó là tài sản riêng của bố bạn, khi ly hôn sẽ không phải chia cho mẹ bạn, còn nếu được hình thành trong thời kì hôn nhân mà người chồng không có giấy tờ xác định là tài sản riêng thì sẽ được coi là tài sản chung và người vợ sẽ được chia khi ly hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hướng dẫn cách chia tài sản sau khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Con phải được 36 tháng tuổi thì tòa án mới cho ly hôn có đúng không ?

Thưa luật sư, xin Anh/chị cho em hỏi một chút được không ạ. Em muốn ly hôn với vợ nhưng em nghe nói là con em chưa được 36 tháng tuổi thì tòa án không giải quyết ly hôn cho em thì như vậy có đúng không anh,chịạ ?
Nhờ anh,chị tư vấn giúp em với ạ. Em cảm ơn anh,chị.

Luật sư trả lời:

Điêu 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì pháp luật chỉ hạn chế quyền ly hôn của chồng khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, chứ không có hạn chế sau khi con đã đủ 12 tháng tuổi trở đi.

Tuy nhiên, để ly hôn bạn cần phải có căn cứ ly hôn thì Tòa án mới có thể giải quyết ly hôn. Nếu vợ chồng bạn không đồng thuận ly hôn, bạn có thể làm thủ tục ly hôn đơn phương (hay còn gọi là ly hôn theo yêu cầu của một bên).

Cụ thể:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về đơn phương ly hôn như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Do đó, khi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bạn hoàn toàn có thể ly hôn theo yêu cầu một bên. Thủ tục đơn phương ly hôn như sau:

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của là tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú.

Thời gian giải quyết

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?