Mục lục bài viết

1. Có thể yêu cầu công chứng di chúc tại nhà hay không ?

Chào Luật sư, Tôi là NCH, năm nay 35 tuổi ở CM. Ba tôi hiện nay đã 75 tuổi, muốn để lại di chúc cho tôi nhưng sức khỏe rất yếu không cùng đi qua công chứng được. Không biết trong trường hợp này tôi có thể nhờ bên công chứng đến tận nhà công chứng di chúc của ba tôi hay không ? Vì tôi có nghe 1 số thông tin là đựoc 1 số thông tin nói là k được như vậy sẽ không đảm bảo tính công bằng ?
Tôi xin cảm ơn

Trả lời:

Điều 639 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 639. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở

1. Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.

2. Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 636 của Bộ luật này.

Dẫn chiếu, đến điều 636 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 636. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.

2. Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Đồng thời, tại Điều 44 Luật công chứng năm 2014 quy định về địa điểm công chứng như sau:

1. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.

Từ các quy định trên ta thấy rằng:

Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên có một số trường hợp việc công chứng có thể thực hiện ngoài trụ sở (người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác) . Như vậy, khi bố bạn muốn công chứng di chúc nhưng do sức khỏe yếu không thể đi lại được, bạn hòan tòan có thể thay mặc bố liên hệ với văn phòng công chứng, phòng công chứng để đến nơi ở của bố bạn thực hiện công chứng di chúc theo đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo di chúc ?

Kính gửi luật sư, gia đình tôi có một vấn đề mong sự giải đáp để tìm hướng giải quyết: Ông Nội tôi sở hữu một ngôi nhà, đất vườn phía sau nhà và một khu đất nông nghiệp khác. Cha tôi là con Út sống cùng và phụng dưỡng Ông bà Nội suốt 20 năm. Gia đình tổng cộng có 10 người con, 5 trai và 5 gái. Các con trai lập gia đình và ở riêng, mặc dù một số họ sống ở tỉnh, thành phố khác ông Nội vẫn chia cho mỗi người một khu đất vườn.
Sau này họ bán lại cho Cha tôi, kí giấy tay, có xác nhận của địa phương. Riêng phía 5 người con gái Ông Nội cho 5 chỉ vàng khi theo chồng. Đến năm 2013 Ông bệnh nặng, phần vì tuổi già sức yếu, mà Cha Mẹ tôi luôn là người chăm soc Ông Bà Nội trong suốt nhiều năm liền, nên cho gọi các Cô , các Bác của tôi về làm xong thủ tục tách hộ khẩu, ( duy nhất chỉ có cô thứ 10 là chưa tách ra, vì Cô ấy không lấy chồng). Trong khoảng thời gian Ông lâm bệnh cũng đã hoàn thành bản Di Chúc có lăn dấu tay, công chứng của nhân viên pháp lý cấp huyện và dấu tay của Bà Nội. Nội Dung như sau : Ngôi nhà Ông để lại thuộc về Bà Nội và Cha tôi ( con Út ) không ai được quyền bán đi. Cha sẽ chăm lo cho cô thứ 10 nếu cô không lấy chồng, cô sẽ sống chung trong một mái nhà. Toàn bộ 2 khu đất canh tác nông nghiệp thuộc về Cha tôi, Năm 2015 Cha tôi đã hoàn thành xong thủ tục và đứng quyền sở hữu trên sổ đỏ. Thế nhưng Bà Nội tôi vì tuổi già tin lời xúi giục của các Cô con gái, con trai ruột và Dượng muốn đuổi Cha Mẹ tôi ra khỏi nhà, đồng thời các Cô Dượng, anh em ruột của Cha tôi thường xuyên gây sự, và có những hành động quá khích, lời lẽ xúc phạm đến Cha Mẹ tôi. Hòng dồn ép họ vào bước đường cùng, giao căn nhà và khu đất vườn sau nhà lại cho Bà Nôi, sau đó họ sẽ bán đất, bán nhà, chia năm xẻ bảy ra. Họ đã từng ra toà cùng nhau ở địa phương chỉ hoài giải.
Rất mong sự tư vấn từ phía văn phòng luật sư, chúng tôi phải làm gì để đúng theo luật họ không có quyền tranh chấp, không có quyền lăng mạ và chấm dứt tình trạng xâm phạm gia cư và gây tổn thương về thể chất, ảnh hưởng kinh tế, cũng như tinh thần cho Cha Mẹ tôi ?
Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Trong câu hỏi bạn không nêu rõ ngôi nhà và phần đất vườn mà ông bạn sở hữu đứng tên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông bà bạn hay có trước khi ông bà bạn kết hôn nên chúng tôi không thể xác định xem đó là phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông bà bạn hay tài sản của riêng ông bạn.

Trường hợp 1 : Đó là phần tài sản của riêng ông bạn

Trong trường hợp này, phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông bạn nên việc ông bạn để lại di chúc, chia tài sản cho bà của bạn và các con của ông là hoàn toàn hợp pháp. Ông bạn có quyền sở hữu tuyệt đối với phần tài sản đó nên những người được hưởng thừa kế phải tuân thủ đúng theo nội dung di chúc. Theo đó, phần đất và căn nhà này cha bạn và bà nội bạn có quyền sử dụng ngang nhau. Vì vậy, bà bạn hay những người khác trong gia đình bạn không có quyền đuổi gia đình bạn ra ngoài.

Trường hợp 2: Phần tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông bà bạn:

Nếu ngôi nhà và mảnh đất vườn hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông bà bạn thì đây là tài sản chung của ông bà bạn, mỗi người sẽ được sở hữu 50% khối tài sản đó, điều nó có nghĩa là ông bạn chỉ có quyền quyết định với 50% khối tài sản kể trên, 50% còn lại thuộc quyền sở hữu của bà bạn và bà của bạn có quyền định đoạt khối tài sản đó.

Về khu đất vườn mà ông bạn chia cho các con trai và họ đã bán lại cho cha của bạn, hợp đồng mua bán có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên hợp pháp, và đất đó đã thuộc quyền sở hữu của cha bạn.

Trường hợp 3 : Nếu thửa đất là đất của hộ gia đình và ông bạn là chủ hộ thì đây là tài sản chung của gia đình ông bạn (tất cả những người có tên trong sổ hộ khẩu).

Khi đó, ông bạn chỉ có một phần tài sản trong khối tài sản chung đó và chỉ được định đoạt một phần tài sản của mình. Một phần tài sản đó sẽ được chia theo di chúc của ông bạn. Các bác, các cô của bạn đã tách khẩu sẽ không được sở hữu khối tài sản nêu trên

Như vậy, trong cả 3 trường hợp kể trên thì cha bạn đều có quyền sở hữu đối với một phần tài sản hiện tại, bà của bạn cùng những người còn lại không có quyền yêu cầu cha bạn giao toàn bộ diện tích đất vườn và ngôi nhà bởi cha bạn đang sở hữu hợp pháp một phần căn nhà, một phần đất nông nghiệp do dược hưởng thừa kế của ông bạn và một phần đất vườn mà cha bạn mua lại từ các anh chị em khác.

Để ngăn chặn hành động sai trái của bà bạn và những người còn lại, cha của bạn nên dựa vào tình hình thực tế của gia đình rồi trình bày chi tiết sự việc với chính quyền địa phương để đưa ra cách giải quyết hợp lý nhất. Trường hợp không hòa giải được, cha bạn nên khởi kiện để thực hiện di chúc của ông bạn, tránh việc những người thân còn lại vi phạm quyền thừa kế hợp pháp của mình. Theo đó, cha bạn gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để được tiến hành giải quyết phân chia di sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Tư vấn về chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật ?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một số thắc mắc xin được tư vấn như sau: Ông A và bà B là vợ chồng từ năm 1990 và có 2 con là D và E. Năm 2014 ông A mất.Tài sản của vợ chồng ông A có 800 triệu đồng. Trong di chúc ông để lại 1/2 tài sản cho D và 1/4 tài sản cho Em. Nhờ luật sư tư vấn cho tôi về chia thừa kế trong trường hợp này ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Phân chia tài sản khi di chúc cha mẹ chưa kịp lập ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về chia tài sản chung vợ chồng khi một bên chết:

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.”

Như vậy, căn cứ vào quy định thì việc chia tài sản của ông A sẽ chia theo quy định của pháp luật về thừa kế cụ thể trong trường hợp này chia như sau:

Tài sản của vợ chồng ông A là 800 triệu theo nguyên tắc chia đôi thì di sản ông A để lại là 800:2=400 triệu

Trong di chúc ông A đã ghi rõ để lại ½ tài sản cho D và ¼ tài sản cho E nên:

- Tài sản D được hưởng = ½ x 400=200 triệu,

- Tài sản E được hưởng = ¼ x 400=100 triệu

Sau khi chia di sản theo di chúc ông A để lại thì vẫn còn dư 100 triệu,

theo quy đinh tại Khoản 2 Điều 675 Bộ luật dân sự 2015:

“2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;100 triệu này sẽ được chia theo pháp luật”

Do đó, 100 triệu này sẽ được chia theo pháp luật. Cụ thể là chia theo hàng thừa kế, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết (Khoản 1 Điều 676 BLDS). Ông A có vợ và hai con, việc chia thừa kế theo pháp luật là công bằng, ngang nhau, nghĩa là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là vợ ông A, hai con D và E của ông A được hưởng phần di sản bằng nhau = 100:3

Theo đó,

Bà B được hưởng: 400tr+100/3tr=433 triệu

D được hưởng : 200tr+100/3tr=233 triệu

E được hưởng: 100tr+100/3tr=133 triệu

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Phân chia tài sản khi di chúc cha mẹ chưa kịp lập ?

Luật Minh Khuê hướng dẫn việc phân chia tài sản khi không có di chúc, chia tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành:

Trả lời: Căn cứ bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

"Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

5. Định đoạt tài sản chung

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình chúng tôi có 4 anh chị em! 1 trong bốn người do hoàn cảnh và điều kiện khó khăn và muốn ra ở riêng! Hai chị gái đã có gia đình và nhà riêng! Hai anh em chúng tôi 1 người có nhu cầu muốn bán căn nhà thuộc sở hữu chung của 4 người. Nhưng 3 người còn lại đều không đồng ý bán! Vậy theo luật, Người muốn bán có thể yêu cầu bán căn nhà ra để phân chia đều cho 4 anh chị em thì có được không ạ? Có trở ngại gì nếu 3 người còn lại kiên quyết không chịu bán không?

Căn cứ Điều 218, Bộ luật dân sự năm 2015

" Định đoạt tài sản chung.

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các bên sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật."

Do vậy, nếu người muốn bán căn nhà để chia đều cho 4 anh em cần có sự thỏa thuận của cả 4 người.

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình chúng tôi sống tại BT- TPHCM. Sau khi cha và mẹ chúng tôi mất đi không để lại di chúc, có để lại 1 thửa đất có giấy Chứng nhận Quyền sử dụng Đất hợp lệ tại Tỉnh LA. - Chúng tôi phải làm hồ sơ Thừa kế tại tp HCM hay tại LA? - Lập Hồ sơ Thừa kế tại UB Phường (Xã) hay tại Phòng Công Chứng hay cả 2 đều được? - Trường hợp Cha, Mẹ của Cha chúng tôi (Ông, Bà Nội) đã chết (sau 1975) nhưng Giấy Chứng Tử thất lạc hoặc không có thì phải xin giấy xác nhận ở đâu, cơ quan nào cấp? (Ông, Bà Nội chúng tôi trước đây thường trú tại Xã PH- CC- tp HCM).

=> Bạn làm hồ sơ thừa kế tại nơi có bất động sản tức là tại TPHCM.

Bạn có thể xin cấp lại Giấy chứng tử của ông bà tại UBND cấp xã nơi trước đây đã đăng ký khai tử.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông tôi có 2 vợ - vợ cả: sinh được 5 người con. - vợ 2 sinh được một người con út. Ông tôi và bà cả đã mất từ lâu, từ những năm 1984-1986. Bà 2 mất chưa được 10 năm(2006). Gia đình tôi sống trên mảnh đất ông bà để lại từ những năm 1986. Khi ông bà mất không có để lại di chúc quyền thừa kế cho ai. Hiện tại gia đình tôi vẫn sống trên mảnh đất đó, và đóng đầy đủ mọi loại thuế đất.Tên chủ sở hữu mảnh đất đó trên bản đồ địa chính mang tên bố mẹ tôi hiện giờ và chưa được cấp bìa đỏ. Nay bố tôi đã qua đời, cũng không để lại di chúc và quyền thừa kế cho ai. Trước khi bố tôi mất có họp gia đình với các anh, chị em của bố tôi và xin giữ lại toàn bộ mảnh đất đấy cho chúng tôi (là con của bố). Nay các anh, chị em của bố tôi đòi chia mảnh đất đấy, và bảo đấy là đất của ông bà để lại. Như vậy có đúng không? Vậy nếu gia đình tôi không đồng ý chia thì có đúng không.

Căn cứ Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Thì ông bà bạn mất từ năm 1986 đến nay trên bản đồ địa chính bố bạn đã có quyền sử dụng đối với mảnh đất này nên mảnh đất này bố bạn có quyền sử dụng, những người anh, chị, em của bố bạn không có quyền khởi kiện đòi nữa vì đã hết thời hiệu.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có di chúc của cha mẹ tôi lúc còn sống đủ để lại cho tôi 1 mảnh vườn nhưng đến khi cha tôi chết thì những người em tôi đã bảo đưa di chúc cho nó xem thì đã âm mưu lấy luôn 2 bản . Vậy tôi là người được hưởng gia tài đó mà đã bị lấy mất di chúc thì tôi phải làm lại như thế nào? và tôi có được thừa hưởng phần mà cha tôi đã kí cho hay không ? nếu mẹ tôi muốn làm lại di chúc thì có cần tất cả các con đi kí hay không (sổ đỏ cấp cho mỗi cá nhân ) hay chỉ một mình mẹ làm là được

=> Nếu bạn không có ai làm chứng hay có bằng chứng gì về bản di chúc này thì coi như không có di chúc, chia di sản theo pháp luật. nếu mẹ bạn muốn làm di chúc thì chỉ cần hợp pháp là được, không cần có chữ ký của các con.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi hiện đang cư ngụ tại Canada. Tôi có bà mẹ đã cao tuổi, hiện đang muốn làm di chúc để lại một số tài sản gồm một miếng đất và một số tiền tại ngân hàng. Nếu trong di chúc bà muốn để lại tài sản cho tôi và chồng tôi (con rể của bà) thì khi bà có mệnh hệ gì, chúng tôi có gặp khó khăn gì khi về VN để hưởng quyền thừa kế theo di chúc hợp pháp không? Tôi và chồng tôi hiện mang quốc tịch Canada.

=> Hiện tại bạn đang mang quốc tịch Canada thì bạn sẽ không được quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Phần đất đấy có thể sẽ được quy đổi ra tiền để cho bạn thừa kế với giá trị tương đương.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi năm nay 59 tuổi, vợ đã chết năm 2005 có 04 người con, vợ tôi chết chung tôi không lập di chúc nay, tôi chia cho các con tôi đất đai để làm nhà, nay tôi lập văn phân chia tài sản thừa kế nhưng con tôi có một người đang bị tạm giam chờ tòa án xét xử, xin hỏi nếu cón tôi đang bị tạm giam mà ký vào văn bản đó thí có đúng vơi quy đinh của pháp luật hiện hành không.

=> Bạn chỉ cần lập di chúc hợp pháp là được, không cần thiết phải có chữ ký của các con.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hai vợ chồng ông C với bà M lấy nhau có tài sản chung tương đương là 1 tỉ. Ông C còn có tài sản riêng là căn nhà tương đương 400 triệu. 2 vợ chồng ông C và bà M có 3 đứa con là C 13 tuổi, D 20 tuổi, F 22 tuổi. Sau đó ông C chết thì gia đình có phát hiện ông có nhân tình và để lại di chúc cho con riêng của nhân tình và chồng cũ là M 200 triệu. tài sản còn lại được ghi trong di chúc là để lại phúng cho gia tộc. Trong trường hợp như vậy thì chia thừa kế như thế nào ạ.

=> C và M có tài sản chung là 1 tỷ vậy tài sản của C là 500 triệu + căn nhà riêng 400 triệu. Trường hợp này ông C để lại cho con riêng và M là 200 triệu. Con là C 13 tuổi nên được hưởng bằng 2/3 suất thừa kế là 2/3 x (900: 5) = 120 triệu.

Vây M = con riêng = 200 triệu.

Con C 13 tuổi = 120 triệu. số tiền còn lại là 380 triệu được dùng vào việc phúng cho gia tộc.ho bạn mà tại thời điểm mở thừa kế những người con kia chưa thành niên thì người chưa thành niên vẫn có quyền hưởng 1 phần di sản thừa kế.

Thưa luật sư, xin hỏi: Cha mẹ tôi có mảnh đất khoảng 400m vuông, và có nhà 2 tầng xây trên dựng đất đó (Nhưng lô đất của của bố mẹ tôi chưa sổ đỏ - giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Bố tôi đã qua đời không để lại di chúc nay còn mẹ tôi. Và nhà và đất đó hiện do anh trai tôi đã có gia đình, em gái chưa có gia đình và mẹ tôi sinh sống trên mảnh đất đó, ở ngôi nhà đó. Nhưng anh em trong nhà không hòa thuận (anh trai tôi muốn chiếm đoạt nhà và đất đó). - Vậy tôi có một câu hỏi: Nếu tôi muốn được hưởng thừa kế từ bố tôi để lại thì có được không và làm như thế nào? (bố tôi đã qua đời và không để lại di chúc) Anh trai tôi, mẹ tôi hiện đang muốn làm sổ đỏ cho ngôi nhà gắn liền trên đất đó có được hay không? nếu tôi và các em tôi không đồng ý? Mẹ tôi có quyền lập di chúc đối với toàn bộ khối tài sản (nhà ở đất) cho anh trai hay không? hay chỉ có quyền lập di chúc trong nữa khối tài sản đó? và di chúc đối với trường hợp của mẹ tôi như thế nào được cho là hợp pháp?

=> Vì đây là mảnh đất và căn nhà chung bố mẹ bạn cùng đứng tên nên hiện nay bố bạn đã mất thì mẹ bạn chỉ có quyền sở hữu với một nửa số tài sản. Còn phần một nửa còn lại phải chia thưà kế theo pháp luật là chia đều cho mẹ bạn, bạn, anh trai bạn cùng các em bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Di chúc bị thất lạc không tìm thấy có bị coi như là không có ?

Di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập và cũng không có bằng chứng chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc. Việc chia thừa kế được áp dụng theo pháp luật.
Theo quy định tại Điều 640 và Điều 641 Bộ luật Dân sự 2015 thì người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc. Thông thường thì người giữ di chúc là người được chỉ định công bố di chúc. Nếu di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại cơ quan công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc; trong trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố di chúc.

Di chúc bị thất lạc không tìm thấy, coi như là không có

Luật sư tư vấn quy định của pháp luật về di chúc, việc lập di chúc, gọi: 1900.6162

Trong trường hợp người để lại di chúc mất đã lâu mà không có người công bố di chúc hoặc không tìm thấy di chúc, không biết di chúc do ai lưu giữ thì giải quyết theo quy định tại Điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo điều luật này, "Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc”.

Theo các quy định vừa viện dẫn, nếu cô bạn có lập di chúc nhưng không thể tìm thấy di chúc, không biết di chúc lưu giữ ở đâu thì được coi như không có di chúc và di sản của cô bạn sẽ được chia theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?