Tôi đã làm ở công ty cũ 4 năm và đã dừng đóng bảo hiểm xã hội từ 15.5.2018 để chuyển sang công ty mới. Tại công ty mới tôi phải thử việc 2 tháng, trong 2 tháng thử việc tôi không đóng bảo hiểm xã hội. Nay tôi muốn đóng bảo hiểm xã hội ngược trở lại 2 tháng thử việc có được không?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

- Bộ luật lao động năm 2019

2. Luật sư tư vấn:

2.1. Có thể truy đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian thử việc không?

>> Xem thêm:  Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, đất đai, Bảo hiểm y tế ?

Tôi đã làm ở công ty cũ 4 năm và đã dừng đóng bảo hiểm xã hội từ 15.5.2018 để chuyển sang công ty mới. Tại công ty mới tôi phải thử việc 2 tháng, trong 2 tháng thử việc tôi không đóng bảo hiểm xã hội. Nay tôi muốn đóng bảo hiểm xã hội ngược trở lại 2 tháng thử việc có được không?

Điều 24 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về thử việc như sau: Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 điều 21 của bộ luật này (nội dung về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm ý tế được quy định tại i, khoản 1, điều 21 bộ luật lao động). Do đó trong thời gian thử việc thì người sử dụng lao động và người lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội. Và vì thế, bạn không thể truy đóng bảo hiểm xã hội trong 2 tháng thử việc được.

2.2. Làm chưa đến 10 ngày/tháng có được đóng bảo hiểm xã hội không?

Công ty chúng tôi có trường hợp người lao động mang thai 2 tháng không muốn làm việc, cũng không muốn nghỉ, vì nếu nghỉ thì không được hưởng chế độ thai sản. Mỗi tháng người này chỉ làm việc chưa đến 10 ngày. Trường hợp này xử lý thế nào cho đúng luật? Nếu không đủ ngày công trong tháng vậy đóng bảo hiểm xã hội làm sao?

Theo quy định tại khoản 1, điều 54 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP: 1. Căn cứ vào tính chất công việc và điều kiện sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán...."

Như vậy, tiền lương chỉ được trả căn cứ trên thời gian hoặc hiệu suất làm việc của người lao động. Trừ những ngày nghỉ được hưởng lương theo quy định pháp luật, nếu người lao động nghỉ ngày nào thì sẽ không được trả lương trong thời gian nghỉ làm đó.

Tại khoản 3, điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Như vậy, nếu người lao động đó không làm việc và không hưởng lương 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định về số ngày công của công ty lựa chọn, thì cả người sử dụng lao động và người lao động đều không đóng bảo hiểm xã hội.

Bên cạnh đó, điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội quy định, để đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản là phải đóng bảo hiểm từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh. Do đó, nếu người lao động đó có đi làm, nhưng số ngày đi làm không đảm bảo để được đóng bảo hiểm thì cũng sẽ không đóng bảo hiểm xã hội đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh được. Và với trường hợp như vậy cũng không đủ điều kiện để được hưởng chế độ thai sản.

2.3. Không đi làm thì có nhờ đóng bảo hiểm ở công ty khác được không?

Tôi làm việc bán thời gian ở xưởng giặt là, hiện giờ tôi mới mang thai. Vì vậy, tôi muốn nhờ người quen đóng bảo hiểm ở công ty họ giúp tôi và tôi sẽ nộp 100% mức đóng thì có được không?

Khoản 2, Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định: Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người dử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động. Từ ngày 1.1.2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động. Cũng theo quy định của pháp luật hiện hành, người dử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động hiện nay tổng cộng là 21% và người lao động đóng tổng cộng là 10,5% dựa trên tiền lương trả cho người lao động hàng tháng. Từ đó, có thể thấy, căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động là tiền lương của người lao động.

Điều 90 Bộ luật lao động 2019 quy định: "1. Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác."

Do đó, bạn không hề làm việc tại công ty đó thì công ty sẽ không trả lương cho bạn. Mà công ty không trả lương thì không có căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội. Nên việc nhờ một công ty nào đó đóng bảo hiểm xã hội (dù bạn trả 100% tiền đóng bảo hiểm xã hội) là không phù hợp với quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục xin nghỉ hưu trước tuổi theo quy định mới nhất ?

Bên cạnh đó, tại khoản 4 điều 17 Luật bảo hiểm xã hội 2014 cũng đã quy định rõ “Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp” là hành vi nghiêm cấm thực hiện. Công ty nhận đóng bảo hiểm giúp và người nhờ nếu bị phát hiện đều sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Xử phạt hành chính

Cụ thể Tại Điều 39 Nghị định 28/2020/NĐ-CP: "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp làm giả, làm sai lệch nội dung."

Buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm.

Theo đó, hành vi làm giả nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có thế bị xử phạt từ 5 triệu cho tới 10 triệu đồng. Và việc công ty làm hồ sơ giả mạo đóng bảo hiểm cho bạn nếu bị thanh tra sẽ ảnh hưởng đến cả uy tín của công ty, công ty sẽ trở thành điểm chú ý của tra tra lao động sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý.

Biện pháp hình sự:

Không chỉ bị xử lý hành chính, đối với hành vi cấu thành tội phạm quy định tại điều 214 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 sẽ còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy tính chất, mức độ vi phạm mà sẽ áp dụng khung hình phạt theo đúng quy định pháp luật và thấp nhất là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm, nặng có thể phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;

b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2.4. Đóng thêm bảo hiểm xã hội tự nguyện để hưởng lương hưu có được không?

Tôi đóng bảo hiểm xã hội được 11 năm đến nay do điều kiện gia đình nên phải nghỉ ở nhà. Tôi muốn đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện tiếp thì phải đóng ít nhất bao nhiêu năm nữa mới đủ điều kiện hưởng lương hưu và mức đóng tối thiểu là bao nhiêu/tháng?

Điều 87 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định về mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau: 1. Người lao động quy định tại khoản 4, điều 2 của luật này, hằng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. 2. Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây: a) Hằng tháng; b) 3 tháng một lần; c) 6 tháng một lần; d) 12 tháng một lần; đ) Một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hằng tháng so với quy định tại điều này.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, để được hưởng lương hưu hàng tháng, thì phải có ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm xã hội. Như vậy, để được hưởng lương hưu hàng tháng sau này, bạn phải đóng ít nhất 9 năm bảo hiểm xã hội nữa. Xin lưu ý bạn, để được hưởng lương hưu hàng tháng thì ngoài số năm đóng bảo hiểm xã hội phải đủ điều kiện về độ tuổi. Theo quy định luật hiện hành Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

>> Xem thêm:  Tăng độ tuổi nghỉ hưu của người lao động, nam 62, nữ 60 tuổi?

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người về hưu có phải mua thẻ bảo hiểm y tế nữa hay không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Sổ bảo hiểm do ai giữ?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại điều 19 Luật bảo hiểm xã hội thì trách nhiệm của người lao động gồm:

1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.

2. Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội.

3. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội.

Như vậy, người lao động có trách nhiệm giữ sổ bảo hiểm

Câu hỏi: Trách nhiệm của NSDLĐ trong lĩnh vực bảo hiểm?

Trả lời:

1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

6. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan bảo hiểm xã hội.

7. Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

8. Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này.

Câu hỏi: thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau?

Trả lời:

1. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.

2. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của mỗi người cha hoặc người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi con ốm đau quy định tại Điều này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.