Cố ý gây thương tích là (Hành vi) cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khoẻ người khác dưới dạng thương tích cụ thể. Hành vi cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ của người khác. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, tội cố ý gây thương tích được quy định trong Sắc luật số 03 năm 1976. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 và năm 1999, tội cố ý gây thương tích cùng được quy định chung với tội cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác tại cùng điều luật thuộc chương Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người. Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội phạm này được quy định cụ thể hơn để phân biệt với trường hợp cố ý gây thương tích là vi phạm. Đồng thời, Bộ luật hình sự năm 1999 cũng đã tách một số trường hợp cố ý gây thương tích có tình tiết định khung giảm nhẹ khỏi tội cố ý gây thương tích nói chung để quy định thành các tội danh riêng. Đó là tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng...

Theo Bộ luật hình sự năm 1999, hành vi cố ý gây thương tích trong trường hợp bình thường bị coi là tội phạm khi mức độ thương tật của người bị hại từ 41% trở lên. Trong những trường hợp có tình tiết tăng nặng đặc biệt khác, hành vi cố ý gây thương tích vẫn bị coi là tội phạm mặc dù tỉ lệ thương tật chưa đến mức 11%. Đó có thể là: 1) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người: 2) (Gây thương tích) nhiều người; 3) Gây cố tật cho nạn nhân; 4) (Gây thương tích) nhiều lần; 5) (Gây thương tích) cho trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ; 6) (Gây thương tích) cho ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; 7) (Gây thương tích) có tổ chức; 8) (Gây thương tích) trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; 9) (Gây thương tích) có tính chất côn đồ...; 10) (Gây thương tích) để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của nạn nhân.

Hình thức lỗi trong tội phạm này là lỗi cố ý và có thể là cố ý trực tiếp (người phạm tội mong muốn hậu quả thương tích) hoặc cố ý gián tiếp (người phạm tôi không mong muốn nhưng chấp nhận hậu quả thương tích). Trong các trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng, cần đặc biệt chú ý trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, vì dễ có sự nhầm lẫn với phạm tôi giết người. Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người là trường hợp cố ý gây thương tích cho người khác nhưng do bị thương mà người này chết và lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết người chỉ là vệ ý. Như vậy, trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người đòi hỏi những dấu hiệu: 1) Giữa hành vi (cố ý) gây thương tích và hậu quả chết người có quan hệ nhân quả với nhau; 2) Người phạm tội chỉ cố ý đối với việc gây thương tích còn đối với hậu quả chết người thì lỗi của họ chỉ là vô ý, Người phạm tội tin hậu quả chết người không xảy ra (vô ý vì quá tự tin) hoặc không thấy trước hậu quả này mặc dù có thể thấy (vô ý vì cẩu thả).

Hình phạt được quy định cho tội này có mức cao nhất là phạt tù chung thân.