Ông ta cũng đã đứng tên trong giấy khai sinh cho N. Vừa qua cô H nói với tôi rằng khi ông T mất thì di chúc của ông sẽ chia làm 3 phần cho 2 người con trai của vợ lớn và N. Ông ta chưa li dị vợ lớn. Bạn tôi nói như vậy có đúng không? Tôi nghĩ quan hệ và có đứa con ngoài luồng là sai luật hôn nhân gia đình vậy thì N làm sao có thể hưởng di chúc được? Xin luật sư tư vấn giúp. Cảm ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty Luật Minh Khuê.

 

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 

Bộ luật Dân sự 2005 

Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Biên bản họp gia đình về chia thừa kế đất đai có hiệu lực pháp luật không ? Thời hạn chia thừa kế

Điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cấm hành vi: "Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ".

Khoản 2 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: "Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan".

Như vậy, pháp luật bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng và không công nhận việc người đang có vợ lại chung sống như vợ chồng người khác. Vì vậy, trên phương diện pháp luật thì bạn của bạn không được coi là vợ của ông T nhưng bé N vẫn là con riêng của ông T với bạn của bạn và bé vẫn được hưởng các quyền như những người con khác của ông T.

Điều 631 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Điều 632 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Điều 648 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Quyền của người lập di chúc  

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

>> Xem thêm:  Di sản dùng vào việc thờ cúng có được phân chia thừa kế hay không ? Thủ tục chia thừa kế

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản."

Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt di sản thừa kế của cá nhân, việc chia di sản cho ai và chia như thế nào là quyền của cá nhân, pháp luật tôn trọng và bảo vệ, trừ các đối tượng đặc biệt thì được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, nếu ông T có lập di chúc chia di sản cho bé N thì bé N vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế đó. 

Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

>> Xem thêm:  Kỹ năng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong vụ việc tranh chấp thừa kế

Điều 669 Bộ luật Dân sư 2005 quy định: "Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc  

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Bé N sinh năm 2003 nên chưa thành niên và là con của ông T, do đó, nếu ông T không để lại di chúc thì bé N vẫn được hưởng di sản thừa kế của ông T. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                                  

>> Xem thêm:  Chia tài sản thừa kế cho chín người con như thế nào ? Tư vấn phân chia tài sản thừa kế là đất đai ?

Bộ phận tư vấn luật dân sự.

>> Xem thêm:  Xác định hàng thừa kế thứ nhất và cách phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật ?