Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn của khách hàng:

Chào luật sư, Tôi là con riêng của mẹ tôi. Bố dượng tôi cưới mẹ tôi khi tôi còn nhỏ (12 tuổi). Tôi ở cùng với bố dượng và mẹ hơn 10 năm (tôi đã đổi họ sang họ bố dượng tôi theo thủ tục nhà nước quy định, lúc tôi còn bé). Bố dượng tôi trước khi cưới mẹ tôi đã có 3 người con riêng. Một số tài sản của gia đình gồm bất động sản do tôi đứng tên nhưng do bố dượng tôi giữ sổ đỏ ( hiện tôi đang độc thân). Luật sự cho tôi hỏi 1 số vấn đề sau theo các trường hợp sau:

1- Giả sử bố dượng tôi và mẹ tôi ly hôn.

2. Bố dượng hoặc mẹ tôi 1 người mất trước. Số tài sản trên được phân chia thế nào ?

Xin chân thành cảm ơn luật sư !

Luật sư tư vấn:

Kính thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

1. Số tài sản trên được phân chia thế nào ?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 thì:

"Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất".

Như thông tin khách hàng cung cấp thì số tài sản của gia đình gồm bất động sản hiện anh đang đứng tên chủ sở hữu nhưng bố dượng của anh giữ sổ đỏ. Như vậy, về mặt pháp lý nếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên anh thì anh là người có các quyền của người sử dụng đất chứ không phải là mẹ hay bố dượng của anh. Việc bố dượng anh giữ sổ đỏ không làm mất đi các quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Chương 11 Luật đất đai 2013.

2. Cách chia tài sản khi giả sử bố dượng và mẹ ly hôn ?

Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

>> Xem thêm:  Thời gian ly thân bao lâu thì có thể tiến hành thủ tục ly hôn ? Nộp đơn ly hôn ở đâu ?

Tài sản sẽ được chia làm hai nhóm:

Một là tài sản chung của vợ chồng, được quy định cụ thể tại khoản 1, Điều 33 luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1.Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Hai là, tài sản riêng của vợ chồng được quy định cụ thể tại Điều 43, Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Điều 59, luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Tuy nhiên, những quy định trên chỉ áp dụng cho trường hợp xác định và phân chia tài sản chung, riêng của vợ chồng. Đối với bất động sản thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản phải đứng tên vợ, chồng hoặc cả 2 vợ chồng. Nếu trường hợp bố mẹ tặng cho anh hoặc mua cho anh theo đúng thủ tục luật định thì tài sản này sẽ không đem vào để phân chia khi ly hôn mà nói được coi là tài sản của riêng anh, không phải tài sản chung hay tài sản riêng của bố mẹ anh.

3. Cách chia tài sản khi bố dượng hoặc mẹ mất trước ?

Theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 thì:

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

Điều 612. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác

Như vậy, tương tự như trên, trong trường hợp bố dượng hoặc mẹ anh mất trước thì di sản để chia thừa kế phải là tài sản riêng của người chết hoặc là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Việc xác định tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết căn cứ trên các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Đối với bất động sản thì phải là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên người đó hoặc có cơ sở chứng minh người chết có quyền sử dụng chung với người khác thì việc phân chia di sản mới được đặt ra.

Trường hợp bố dượng hoặc mẹ anh có phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì khi chết, việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Trường hợp người chết có để lại di chúc hợp pháp thì việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo nội dung di chúc. Trường hợp, người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo pháp luật. Theo đó:

>> Xem thêm:  Vợ ở nhà chăm con, không có thu nhập thì phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, nếu bố dượng và anh có thực hiện thủ tục nhận con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi thì trường hợp bố dượng anh mất, anh vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với các người con riêng của bố dượng anh.

Tương tự đối với trường hợp mẹ anh mất, anh cũng có thể căn cứ theo quy định trên để áp dụng tương tự trong việc phân chia di sản mà mẹ anh để lại.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của Quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được tư vấn cho quý khách hàng qua Tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

4. Được mẹ cho xe riêng ly hôn có phải chia cho chồng không ?

Chào luật sư, tôi có một vấn đề thắc mắc muốn được biết: Mẹ tôi có mua cho riêng tôi một chiếc xe vậy hỏi nếu ly hôn tôi có phải chia cho chồng tôi không ạ? Cảm ơn!

Mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn có ly hôn được không?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau :

Theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau :

" Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn​

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, Khi mẹ bạn mua cho riêng bạn một chiếc xe máy (chiếc xe máy đứng tên bạn) sẽ thuộc tài sản riêng của bạn, thuộc quyền sở hữu của bạn nên khi ly hôn chồng bạn không được chia giá trị của chiếc xe đó trừ khi bạn có thỏa thuận với chồng mình rằng có nhập chiếc xe này vào tài sản của 2 vợ chồng thì khi đó ly hôn chồng bạn sẽ có quyền đòi chia tài sản đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Con trên 18 tuổi có được chia tài sản khi bố mẹ ly hôn không ?

Xin chào các luật sư công ty Luật Minh Khuê, tôi có thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp: Vợ chồng tôi trong thời kỳ hôn nhân có một số tài sản giá trị là căn nhà và đất định giá khoản 3,8 tỷ đồng, một chiếc ô tô, hai chiếc xe máy SH. Chúng tôi có hai con chung đều đã trên 18 tuổi. Hiện nay, do mâu thuẫn kéo dài, chúng tôi quyết định ly hôn.
Vậy cho tôi hỏi: Đối với những tài sản như trên, sau khi vợ chồng tôi ly hôn thì hai con của tôi có được chia tài sản hay không? Những tài sản trên sẽ được phân chia như thế nào?
Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư, tôi xin chân thành cảm ơn!

Con trên 18 tuổi có được chia tài sản khi bố mẹ ly hôn không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Ly hôn có phải chia tài sản cho các con không ?

Như thông tin bạn cung cấp, trong thời kỳ hôn nhân, hai vợ chồng bạn có tạo lập được một số tài sản chung. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn những tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc được xem là tài sản chung của hai vợ chồng trừ trường hợp chứng minh được là tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng, những tài sản này gắn liền với nhân thân của hai vợ chồng. Chính vì vậy, tất cả những tài sản do vợ chồng tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản của hai vợ chồng, các con không có quyền được chia tài sản sau khi bố mẹ ly hôn. Con cái chỉ được "chia tài sản" khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Bố mẹ thỏa thuận tặng cho con cái một phần hoặc toàn bộ tài sản khi ly hôn;

- Đất đai là tài sản chung của hộ gia đình (thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm được nhà nước giao đất cũng bao gồm cả các con).

Việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

Căn cứ quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, theo đó, việc phân chia tài sản của hai vợ chồng sau khi ly hôn được thực hiện như sau:

Trường hợp thứ nhất, hai vợ chồng tự thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản thì hai vợ chồng sẽ yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên, hai bên thỏa thuận như thế nào thì Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó nhưng có căn cứ dựa trên việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Trường hợp thứ hai, vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn. Về tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia, cụ thể:

Một là, căn cứ vào hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, cụ thể là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

Hai là, căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, cụ thể là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. Ví dụ: Vợ chồng bạn có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe tải và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh tại căn nhà chung của gia đình. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người nào nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người người còn lại phần giá trị chênh lệch đó.

Bốn là, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Trường hợp người chồng/vợ có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy, ngoại tình rất nhiều lần,...

Như vậy, tùy vào trường hợp hai vợ chồng bạn có thỏa thuận được việc phân chia tài sản hay không thì Tòa án sẽ căn cứ vào yêu cầu của hai vợ chồng bạn để chia tài sản cho hai vợ chồng bạn căn cứ vào quy định của pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty Luật TNHH Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bố ngoại tình thì mẹ có được chia toàn bộ tài sản sau ly hôn không ?