1. Khái niệm cụm từ "công bộc"

Công bộc là người phục vụ nhân dân trong quan hệ với nhân dân. Công bộc của dân hay đầy tớ của dân là cụm từ chỉ một trong các quan niệm khác nhau về trách nhiệm và nghĩa vụ của người lãnh đạo, hoặc mở rộng là của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Theo nghĩa Hán Việt, công là việc chung; bộc là đầy tớ.

2. Sự hình thành khái niệm "công bộc"

Tại Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám, dưới sự quản lý qua các thời kỳ của các nhà nước phong kiến khái niệm "công chức nhà nước" được hiểu bao gồm quan lại và quân lính dưới quyền. Trong thời kỳ nào cũng có quan thanh liêm và quan tham.

Sau Cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam được thành lập, khái niệm cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được ra đời. Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, công chức nhà nước là người công bộc của dân.

Trong thư gửi "Ủy ban Nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng" được đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 17 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

"Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta."

Từ năm 2005, Việt Nam đang dần dần tiến hành cải cách hành chính. Một trong các mục tiêu đề ra là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, thực sự là công bộc của nhân dân.

Quy định cán bộ, công chức là công bộc (đầy tớ công cộng) của nhân dân được xây dựng trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ, về mối quan hệ giữa nhân viên nhà nước với nhân dân, theo đó, nhân dân là người chủ, nhân viên nhà nước là người thừa hành, gánh vác những việc chung cho dân, phải nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, phụ trách trước nhân dân và coi đó là vinh dự cao quý; mối quan hệ giữa nhân viên nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về "công bộc"

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân là một chủ trương lớn mang tính cấp bách trong bối cảnh hiện nay và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, công chức cần xác định rõ vị trí của mình đã thực sự là “công bộc của dân” như lời dạy của Người.

Trong thư gửi “Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” được đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 17.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó có nhiệm vụ điều hành bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa còn non trẻ và nặng tàn dư phong kiến nên đã dùng khái niệm “công bộc” để hướng dẫn cán bộ, công chức phục vụ Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài” và “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân”. Vì thế,cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân, người công bộc tận tụy (dốc lòng phục vụ, tận tụy phục vụ: phục vụ Tổ quốc) chứ không phải là “quan cách mạng” và “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng"… .

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “Dân là chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng” và “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”, có nghĩa là trong tư tưởng của Người, Đảng nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng, bên cạnh địa vị, trí tuệ của một “nhà lãnh đạo” đều phải có tinh thần làm việc của một “người đầy tớ” nhân dân. Đó là một chỉnh thể thống nhất, biện chứng, không thể tách rời trong phương pháp và phong cách làm việc của Đảng; đồng thời, thể hiện rõ nét nhất sự khác biệt về bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo so với Nhà nước thực dân, phong kiến. Điều này cũng không mâu thuẫn với trọng trách kép: “người lãnh đạo” và “người đày tớ” là vì: 1) Để xứng đáng là người lãnh đạo, cán bộ phải thực thi một chủ trương, đường lối hợp lòng dân, vì lợi ích của nhân dân; 2) Muốn đưa chủ trương, đường lối vào cuộc sống, người lãnh đạo phải thật sự gần dân, hiểu dân, ngày đêm trăn trở với lợi ích của dân, phải thật sự vì dân phục vụ. Hai điều này đều thể hiện tâm thế “người lãnh đạo” và “người đầy tớ” của nhân dân.

Vì vào Đảng là để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, cho nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi người cán bộ, đảng viên xác định rõ vị thế “lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân và phải làm cho tốt” thì tinh thần phục vụ như “công bộc” sẽ chi phối và ảnh hưởng trực tiếp đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, đạo đức công vụ nói riêng. Điều này được thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện (qua suy nghĩ, thái độ và hành động) của mỗi người trên tinh thần: 1) Luôn đặt lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; sẵn sàng đón nhận mọi khó khăn, vất vả, thậm chí hy sinh cả bản thân vì lợi ích chung. 2) Trong bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh cụ thể nào cũng phải “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh"; không để “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”. 3) Không những phải “yêu dân”, “kính dân” mà còn phải biết ơn nhân dân vì “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra.

4. Quá trình hình thành tư tưởng "Công bộc"

Nhìn lại lịch sử những năm tháng gian khổ trong hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, biết bao tấm gương cán bộ, đảng viên đã quên mình vì nước vì dân, để lại tiếng thơm mãi cho đời sau. Đó thật sự là những con người từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Và cũng chính vì vậy, họ được nhân dân đùm bọc, tin yêu che chở và giúp đỡ vượt qua bao gian lao thử thách cho đến ngày đất nước thống nhất, độc lập tự do.

So với những năm tháng khó khăn gian khổ của chiến tranh và những năm đầu sau khi đất nước thống nhất thì thời mở cửa và hội nhập hôm nay, đội ngũ cán bộ công quyền có cuộc sống đầy đủ hơn, có nhiều điều kiện, lợi thế để học tập mở mang kiến thức hơn thế hệ cha anh. Nhưng bên cạnh đó, cũng thường xuyên tiếp xúc với những cám dỗ vật chất mà bất cứ lúc nào, nơi nào cũng dễ bắt gặp. Phải suy nghĩ gì khi hiện nay, trên một số các trang báo viết bài phê phán tiêu cực hay ngoài xã hội, người dân lúc nói chuyện với nhau, mỗi khi nhắc đến một số cán bộ nhà nước, nhất là lãnh đạo ở địa phương có hành vi làm sai thường dùng những từ chỉ có trong thời phong kiến hoặc chế độ cũ như: “quan chức nhà nước”, “mấy ông quan này” v.v... nghe rất xa lạ với cách gọi cán bộ, công chức Nhà nước ta mà Bác Hồ răn dạy “phải là đầy tớ trung thành, là công bộc của Nhân dân”… Đau lòng khi có những cán bộ đã không giữ được lập trường, không thắng được sự cám dỗ của vật chất tầm thường để rồi làm trái với luật pháp, làm mất lòng tin của nhân dân. Đã có việc một số cán bộ ăn chặn tiền của dân, kể cả những đồng tiền cứu trợ bão lụt, tiền hỗ trợ Tết cho người nghèo hay những vụ chia đất công hưởng lợi ở chỗ này chỗ kia… làm tổn hại uy tín chung của những cán bộ, đảng viên chân chính. Không thể vui khi có chuyện những “công bộc” lại đi hách dịch, vòi vĩnh, nhũng nhiễu, hành dân hơn là phục vụ nhân dân. Thấm thía lời dạy của Bác luôn nhắc nhở những người làm trong các cơ quan công quyền luôn phải tự nhìn nhận lại bản thân để xem đã làm những việc có lợi cho dân hay chưa, đã xứng đáng với vai trò, vị trí “công bộc” của dân hay chưa, chúng ta càng thấu hiểu rằng lời dạy của Người đến nay và mãi mãi về sau vẫn luôn mang tính thời sự.

Yếu tố con người đóng vai trò, bộ phận cực kỳ quan trọng trong cơ thể bộ máy Nhà nước. Những hành vi sai phạm, biến chất, thoái hóa của một số cán bộ trong các cơ quan công quyền sẽ khó làm cho dân tin, dân phục, vô hình chung làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với Nhà nước, với chế độ. Một chính quyền “của dân, do dân và vì dân” không thể chấp nhận việc tồn tại những “công bộc” vi phạm kỷ cương phép nước, bản thân biết sai mà vẫn làm, như vậy là có tội, là hại dân. Xử lý nghiêm, không nương nhẹ, không châm chước đối với những cán bộ này mới làm yên dân.

Mặt khác, cán bộ, công chức là công bộc của Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công việc được giao. Luật cán bộ, công chức gồm 10 chương, 87 điều quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện đảm bảo thi hành công vụ. Trong đó mục 2 Điều 8 có ghi: “Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân”. Cải cách hành chính là vấn đề quan trọng trong việc củng cố, hoàn thiện bộ máy công quyền, có quan hệ trực tiếp đến lợi ích của nhân dân.

Đến nay, sự chuyển biến tích cực đã có ở nhiều cán bộ, công chức các cơ quan quản lý Nhà nước trong cả nước, cũng như ở Quận và 16 Phường của Quận Gò Vấp. Tuy nhiên, trên thực tế, để theo kịp sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế, để tập trung xây dựng chính quyền điện tử, đáp ứng nhu cầu chính đáng của Nhân dân và Doanh nghiệp, đặt ra yêu cầu với mỗi cán bộ, công chức cần thực hiện nghiêm chức trách, nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng hơn nữa, cần thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm, thiếu sót. Cải cách hành chính cần kết hợp với việc giáo dục đạo đức và văn hóa công sở.

5. Kết luận tư tưởng "công bộc"

Chương trình cải cách hành chính có tính chiến lược, dài hạn của Chính phủ khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính Nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa. Một loạt chủ trương, giải pháp quan trọng được đưa ra như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính quyền, nguyên tắc quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; tách quản lý Nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh, tách cơ quan quản lý công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; cải cách thủ tục hành chính. Trong đó, một giải pháp hết sức quan trọng, cấp bách và thường xuyên phải làm, đó là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, thiết lập kỷ cương, trách nhiệm và tính nêu gương lên hàng đầu, kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng…

Luật Minh Khuê (tổng hợp)