Thắc mắc của em như sau: em đang kí hợp đồng lao động với 1 văn phòng đại diện của 1 công ty nước ngoài tại Việt Nam. Hiện tại, công ty bên nước ngoài muốn chuyển từ văn phòng đại diện ở Việt Nam sang thành công ty TNHH ở Việt Nam. Đại diện VPĐD có yêu cầu chúng em tự viết đơn xin nghỉ việc sau đó đảm bảo sẽ kí hợp đồng lại với chúng em với công ty TNHH khi chúng em không đồng ý thì công ty soạn ra 1 "thỏa thuận đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động" và yêu cầu chúng em kí vào. Đại diện bên phía VPĐD nói cứ kí đi rồi sau đó công ty thành lập xong rồi lại kí lại ngay hợp đồng lao động với chúng em. Trong thỏa thuận chấm dứt kể trên, bên VPĐD có ghi sẽ chi trả số ngày phép còn thừa của chúng em trong năm 2016. Anh/chị cho em hỏi VPĐD làm như vậy với chúng em có đúng không ? Chúng em không kí vào thỏa thuận châm dứt hợp đồng lao động của họ soạn ra thì có sao không? Liệu nếu không kí, họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chúng em không ? Em xin chân thành cảm ơn anh/chị chúc anh chị mạnh khỏe và công ty Minh Khuê thành công ạ .

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Lao động, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật lao động 10/2012/QH13

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

>> Xem thêm:  Vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động ?

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy, bạn không thuộc các trường hợp trên thì Công ty không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn. Mặt khác, việc soạn ra "thỏa thuận đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động" của công ty là trái với quy định của pháp luật. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật được quy định tại Điều 41 BLLĐ:

"Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này."

Khi đó, Công ty sẽ phải có nghĩa vụ như sau đối với bạn:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

>> Xem thêm:  Giải quyết chế độ khi người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Để đảm bảo công việc người lao động có thể yêu cầu được ký hợp đồng lao động mới trước khi khi ký kết "thỏa thuận chấm dứt hợp đồng"

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê.Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xử lý người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật