Khả năng kiểm soát của công ty mẹ đối với hoạt động của công ty con được hình thành do công ty mẹ nắm giữ phần vốn chi phối hoặc theo sự thoả thuận đặc biệt giữa công ty mẹ và công ty con.

Công ty mẹ, công ty con đều là các chủ thể pháp lý độc lập. Quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con không phải là quan hệ mệnh lệnh hành chính mà là quan hệ hợp đồng. Công ty mẹ chỉ phối công ty con thông qua số phiếu biểu quyết tại cơ quan quyền lực của công ty con. Mô hình công ty mẹ - công ty con là sự liên kết mềm dẻo, linh hoạt giữa các doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhau về vốn, thị trường, công nghệ, chiến lược kinh doanh và kinh nghiệm quản lý.

Mô hình công ty mẹ - công tycon, tuy rất phổ biến ở nước ngoài nhưng vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Chúng ta đang thí điểm xây dựng mô hình này với công ty mẹ là doanh nghiệp nhà nước còn các công ty con có thể là doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp liên doanh (>>Xem them: Công ty con là gì ?).

1. Khái niệm về mô hình công ty mẹ, công ty con

Mô hình công ty mẹ - công ty con là một nhóm các công ty độc lập về mặt pháp lý, trong đó một công ty đóng vai trò chi phối toàn bộ nhóm (công ty mẹ) và các công ty bị chi phối (công ty con).

Công ty mẹ trong nhóm công ty có thể chi phối công ty con về vốn, về quản lý hoặc về chiến lược phát triển công ty. Cụ thể:

Thứ nhất, chi phối về tài chính, công ty mẹ sở hữu hên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đẵ phát hành của công ty con;

Thử hai, chi phổi về bộ máy quản lý, công ty mẹ có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đông quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty con;

Thứ ba, chi phối về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty mẹ có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty con (Khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp năm 2014, hiện nay đang áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020).

>> Xem thêm:  Lập báo cáo tài chính của công ty mẹ và chi nhánh như thế nào ?

2. Đặc điểm mô hình công ty mẹ - công ty con

Thứ nhất, mô hình công ty mẹ - công ty con được xây dựng trên cơ sở quyền chi phối cùa công ty mẹ đôi với hoạt động của công ty con. Công ty mẹ giữ quyền chi phối điêu hành các hoạt động của công ty con. Công ty con, tham gia vào nhóm, độc lập về pháp lý nhưng bị hạn chế quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính. Các công ty con buộc phải tuân theo những quy định cứng, thống nhất trong toàn bộ nhóm. Quan hệ chi phối được hình thành thông qua các hoạt động cụ thể sau:

+ Quyền chi phối thông qua đầu tư góp vốn.

Quyền chi phối thông qua đầu tư góp vốn là liên kết hình thành từ hoạt động góp vốn của công ty mẹ vào công ty con. Phần vốn góp của công ty mẹ chiếm tỉ lệ trong vốn điều lệ của công ty con đủ để chi phối hoạt động của công ty con. về bản chất, công ty mẹ chính là cổ đông, thành viên góp vốn của công ty con, tuy nhiên cổ đông, thành viên này giữ quyền chi phối trong công ty con. Công ty mẹ có thể chi phối toàn bộ hoặc một phần hoạt động của công ty con tùy thuộc vào phần vốn góp mà công ty mẹ nắm giữ. Theo lẽ thường, tỉ lệ vốn để công ty mẹ chi phối công ty con được xác định là quá bán cho dù thực tế không phải trường hợp nào cũng như vậy.

+ Quyền chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty

Quyền chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty là hình thức công ty mẹ cử đa số người vào ban điều hành công ty con, chi phối hoặc quyết định phương thức kinh doanh công ty con. Việc cử người quản lý từ công ty mẹ vào ban điều hành của công ty con có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong trường hợp trực tiếp, công ty con chấp nhận những điều kiện để trở thành thành viên tập đoàn, cho phép công ty mẹ được bổ nhiệm các chức danh quản lý quan trọng của công ty, công ty mẹ được quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty bị chi phối. Việc chấp nhận điều kiện này tạo cho công ty con cơ hội gia nhập tập đoàn, từ đó được hưởng lợi ích từ tập đoàn. Trong trường hợp gián tiếp, công ty mẹ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của công ty con nhưng chưa ở mức chi phối, tuy nhiên sau khi bầu ban điều hành, với số cổ phần, phần vốn góp nắm giữ công ty mẹ vẫn cử được đa số thành viên trong ban điều hành công ty con.

Thứ hai, công ty mẹ, công ty con đều là các pháp nhân độc lập, bình đẳng trước pháp luật, có tài sản riêng, tự mình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của mình. Trong trường hợp, công ty mẹ hay công ty con phá sản, các công ty trong nhóm công ty không phải chịu các loại ữách nhiệm liên đới. về nguyên tắc, công ty mẹ được quyền chi phối hoạt động của công ty con, nhưng không được vượt quá thẩm quyền và phạm vi cho phép. Công ty con được tự chủ kinh doanh nhưng phải tuân theo các chiến lược kinh doanh chung của nhóm công ty. Công ty con có thể áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị công ty mẹ can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh.

Thứ ba, mô hình công ty mẹ - công ty con có nhiều cấp. cấp một gồm công ty chi phối ban đầu (công ty mẹ) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp một), cấp hai bao gồm công ty chi phối (là công ty con cấp một) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp hai), ... số cấp trong mô hình công ty mẹ - công ty con có thể bị giới hạn để đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của công ty mẹ. Các công ty mẹ, công ty con cấp một, công ty con cấp hai, ... có thể mang chung thành tố trong tên của công ty mẹ ban đầu, thành tố này trở thành nhãn hiệu hoặc thương hiệu tập đoàn. Các công ty trong nhóm công ty mẹ - công ty con có thể bị hạn chế quyền đầu tư để sở hữu vốn lẫn nhau. Tùy từng giai đoạn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể quy định hạn chế việc đầu tư sở hữu chéo giữa các công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)