CÔNG ƯỚC

CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ CHUYÊN CHỞ HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN,1978

LỜI MỞ ĐẦU

Các quốc gia tham gia Công ướcnày,

Thừa nhận sự mong muốn ấn định bằngsự thỏa thuận một số quy tắc liên quan tới chuyên chở hàng hóa bằng đường biển,

Đã quyết định ký kết một Công ướcnhằm mục đích đó và thỏa thuận về Công ước này như sau:

Phần I.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Cácđịnh nghĩa

Trong Công ước này:

1. “Người chuyên chở” là bấtkỳ người nào, tự mình hoặc trên danh nghĩa của mình, một hợp đồng vận tải bằngđường biển đã được ký kết với người gửi hàng.

2. “Người chuyên chở thực tế”là bất kỳ người nào được người chuyên chở ủy thác thực hiện việc chuyên chở hànghóa hoặc một phần việc chuyên chở đó, và bao gồm bất kỳ người nào khác đượcgiao phó thực hiện việc chuyên chở đó.

3. “Người gửi hàng” là bấtkỳ người nào tự ký hay được người khác đứng tên hoặc thay mặt ký một hợp đồngvận tải hàng hóa bằng đường biển với người chuyên chở, hoặc là bất kỳ người nàomà chính người đó giao hoặc được người khác đứng tên hay thay mặt giao hàng chongười chuyên chở liên quan tới hợp đồng vận tải đường biển.

4. “Người nhận hàng” là ngườicó quyền nhận hàng.

5. “Hàng hóa” gồm cả súc vậtsống, nếu hàng hóa được đóng trong container, pallet hoặc công cụ vận tải tươngtự, hoặc khi hàng hóa được bao gói, “hàng hóa” bao gồm cả công cụ vận tải hoặcbao gói đó nếu chúng được người gửi hàng cung cấp.

6. “Hợp đồng vận tải đường biển”là bất kỳ hợp đồng nào mà theo đó người chuyên chở đảm nhận việc chuyên chởhàng hóa bằng đường biển từ một cảng này đến một cảng khác để thu tiền cước.Tuy nhiên, một hợp đồng bao gồm chuyên chở bằng đường biển và cả bằng phươngtiện khác, hợp đồng đó chỉ được coi là hợp đồng vận tải đường biển theo nghĩatrong Công ước này, nếu nó liên quan đến vận tải đường biển.

7. “Vận đơn đường biển”là một chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng vận tải đường biển và cho việc ngườichuyên chở đã nhận hàng để chở hoặc xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này,người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình nó. Một điều khoản trongchứng từ này quy định rằng lô hàng phải được giao theo lệnh của người được ghiđích danh hoặc giao theo lệnh, hoặc giao cho người cầm vận đơn chính là sự camkết đó.

8. “Văn bản” ngoài những cáikhác, bao gồm cả điện tín và telex.

Điều 2. Phạmvi áp dụng

1. Những quy định trong Công ướcnày được áp dụng cho mọi hợp đồng vận tải đường biển giữa hai nước, nếu:

a. Cảng bốc hàng quy định trong hợpđồng vận tải bằng đường biển nằm ở một nước tham gia Công ước, hoặc

b. Cảng dỡ hàng quy định trong hợpđồng vận tải đường biển nằm ở một nước tham gia Công ước, hoặc

c. Một trong các cảng dỡ hàng lựachọn, quy định trong hợp đồng vận tải đường biển là cảng dỡ hàng thực tế và cảngđó nằm trong một nước tham gia Công ước, hoặc

d. Vận đơn hoặc chứng từ khác làmbằng chứng cho hợp đồng vận tải đường biển được phát hành tại một nước tham giaCông ước, hoặc

e. Vận đơn hoặc chứng từ khác làmbằng chứng cho hợp đồng vận tải đường biển quy định rằng những điều khoản củaCông ước này hoặc luật pháp của bất kỳ quốc gia nào cho thi hành những quy địnhcủa Công ước này là luật quy định hợp đồng.

2. Những quy định của Công ước nàyđược áp dụng không phụ thuộc vào quốc tịch của tàu, của người chuyên chở, ngườichuyên chở thực tế, người gửi hàng, người nhận hàng hoặc bất kỳ người nào kháccó liên quan.

3. Những quy định của Công ước nàykhông áp dụng cho hợp đồng thuê tàu. Tuy nhiên, khi một vận đơn được cấp theomột hợp đồng thuê tàu, những quy định của Công ước này sẽ được áp dụng cho vậnđơn đó, nếu vận đơn có quy định quan hệ giữa người chuyên chở với người cầm vậnđơn không phải là người thuê tàu.

4. Nếu một hợp đồng quy định sẽ chuyênchở hàng hóa làm nhiều chuyến trong một thời kỳ thỏa thuận, những quy định củaCông ước này sẽ áp dụng cho từng chuyến. Tuy nhiên, khi một lô hàng được chuyênchở theo một hợp đồng thuê tàu, những quy định trong mục 3 Điều này sẽ được ápdụng.

Điều 3. Giảithích Công ước

Khi giải thích và áp dụng các điềukhoản của Công ước này phải xét đến tính chất quốc tế của nó và sự cần thiếtphải tăng cường sự đồng nhất.

Phần II.

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜICHUYÊN CHỞ

Điều 4. Thờihạn trách nhiệm

1. Trách nhiệm của người chuyên chởđối với hàng hóa, theo Công ước này, bao gồm khoảng thời gian mà người chuyênchở đã chịu trách nhiệm về hàng hóa ở cảng xếp hàng, trong quá trình chuyên chởvà ở cảng dỡ hàng.

2. Theo Mục 1 của Điều này, ngườichuyên chở được coi là chịu trách nhiệm về hàng hóa:

a. Kể từ khi người chuyên chở đãnhận hàng từ:

(i) Người gửi hàng hoặc một ngườithay mặt người gửi hàng, hoặc

(ii) Một cơ quan hoặc người thứ bakhác mà theo luật pháp hoặc quy định ở cảng xếp hàng, hàng hóa phải được traocho họ để gửi đi.

b. Cho đến khi người chuyên chởđã giao hàng:

(i) Bằng cách chuyển giao hàng chongười nhận, hoặc

(ii) Trong trường hợp người nhậnkhông nhận hàng từ người chuyên chở, bằng cách đặt hàng hóa dưới sự định đoạt củangười nhận hàng, phù hợp với hợp đồng hoặc luật lệ hay tập quán buôn bán mặthàng đó tại cảng dỡ, hoặc

(iii) Bằng cách chuyển giao cho mộtcơ quan hoặc cho một người thứ ba khác mà theo luật lệ hoặc quy định áp dụng ởcảng dỡ, hàng hóa phải được chuyển giao cho họ.

3. Trong Mục 1 và 2 của Điều này,khi nói đến người chuyên chở hoặc người nhận hàng, ngoài người chuyên chở hoặcngười nhận hàng ra, còn có nghĩa là nói đến cả người làm công hay đại lý của họ.

Điều 5. Cơsở trách nhiệm

1. Người chuyên chở chịu trách nhiệmvề những thiệt hại do hàng hóa bị mất mát hoặc hư hỏng cũng như do việc chậmgiao hàng; nếu sự cố gây ra mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng xảy ra trongkhi hàng hóa đang thuộc trách nhiệm của người chuyên chở theo quy định của Điều4, trừ khi người chuyên chở chứng minh được rằng bản thân mình, những người làmcông hoặc người đại lý của mình đã áp dụng mọi biện pháp hợp lý, cần thiết đểtránh sự cố đó và hậu quả của nó.

2. Được coi là chậm giao hàng khihàng không được giao ở cảng dỡ hàng quy định trong hợp đồng vận tải đường biểntrong thời gian đã thỏa thuận rõ ràng, hoặc nếu không có sự thỏa thuận như vậy,trong thời gian hớp lý có thể đòi hỏi ở một người chuyên chở cần mẫn, có xétđến hoàn cảnh của sự việc.

3. Người có quyền khiếu nại về việcmất hàng có thể coi là hàng hóa đã bị mất, nếu hàng đó không được giao theo quyđịnh của Điều 4, trong vòng 60 ngày liên tục tiếp sau ngày hết hạn giao hàngnói trong Mục 2 của Điều này.

4. a. Người chuyên chở chịu tráchnhiệm về:

(i) Mất mát hoặc hư hỏng của hànghóa hay chậm giao hàng do cháy gây ra, nếu người khiếu nại chứng minh được rằngcháy xảy ra là do lỗi hoặc sơ suất của người chuyên chở, người làm công hoặcđại lý của người chuyên chở.

(ii) Mất mát, hư hỏng hoặc chậm giaohàng mà người khiếu nại chứng minh được là do lỗi hoặc do sơ suất của người chuyênchở, người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở gây ra trong khi thi hànhmọi biện pháp hợp lý, cần thiết để dập tắt lửa và để tránh, hạn chế hậu quả củacháy.

b. Trong trường hợp cháy trên tàuảnh hưởng đến hàng hóa, nếu người khiếu nại hoặc người chuyên chở yêu cầu, phảitiến hành giám định theo đúng thực tiễn hàng hải để xác định nguyên nhân vàtình hình của vụ cháy và một bản sao biên bản giám định phải được chuyển cho ngườichuyên chở và người khiếu nại theo yêu cầu của họ.

5. Đối với súc vật sống, người chuyênchở không chịu trách nhiệm về mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng xảy ra dobất kỳ rủi ro đặc biệt nào vốn có trong loạt chuyên chở này. Nếu người chuyênchở đã chứng minh được rằng mình đã làm đúng mọi chỉ dẫn đặc biệt của người gửihàng liên quan đến súc vật và chứng minh được rằng trong hoàn cảnh đó, sự mấtmát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng có thể đã do những rủi ro nói trên gây ra,việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng được suy đoán là do nguyên nhân đógây ra trừ phi có bằng chứng là toàn bộ hoặc một phần mất mát, hư hỏng hoặcchậm giao hàng gây ra do lỗi hoặc sơ suất của người chuyên chở, người làm cônghoặc đại lý của người chuyên chở.

6. Trừ trường hợp tổn thất chung,người chuyên chở không chịu trách nhiệm khi mất mát, hư hỏng hoặc chậm giaohàng xảy ra do thi hành những biện pháp nhằm cứu sinh mạng hay những biện pháphợp lý nhằm cứu tài sản trên biển.

7. Khi lỗi lầm hoặc sơ suất của ngườichuyên chở, người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở cùng với một nguyênnhân khác gây ra mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng, người chuyên chở chỉchịu trách nhiệm trong phạm vi việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng xảy rado lỗi hoặc sơ suất đó, với điều kiện là người chuyên chở chứng minh được phầnmất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng không do lỗi hoặc sơ suất đó gây nên.

Điều 6. Giớihạn trách nhiệm

1. a. Trách nhiệm của người chuyênchở về thiệt hại do hàng hóa bị mất mát hoặc hư hỏng theo những quy định củaĐiều 5 được giới hạn bằng số tiền tương đương 835 đơn vị tính toán cho mỗi kiệnhoặc đơn vị chuyên chở khác hoặc tương đương 2,5 đơn vị tính toán cho mỗi kilogramtrọng lượng cả bao bì của hàng hóa bị mất mát hoặc bị hư hỏng, tùy theo cáchtính nào cao hơn.

b. Trách nhiệm của người chuyên chởvề việc chậm giao hàng theo những quy định của Điều 5 được giới hạn bởi số tiềntương đương 2,5 lần tiền cước phải trả cho số hàng giao chậm nhưng không vượtquá tổng số tiền cước phải trả theo quy định của hợp đồng vận tải hàng hóa bằngđường biển.

c. Trong mọi trường hợp, tổng tráchnhiệm của người chuyên chở theo tiểu mục (a) và (b) của mục này không được vượtquá giới hạn trách nhiệm được xác định theo tiểu mục (a) của mục này đối vớitrường hợp tổn thất toàn bộ hàng hóa mà người chuyên chở có trách nhiệm.

2. Để tính toán số tiền nào lớn hơntheo Mục 1 (a) của Điều này, những quy tắc sau đây được áp dụng:

a. Nếu container, pallet hay côngcụ vận tải tương tự được dùng để đóng hàng, những kiện hoặc những đơn vị chuyênchở khác liệt kê trong vận đơn, nếu vận đơn được cấp, hoặc trong bất cứ chứngtừ nào làm bằng chứng cho hợp đồng vận tải đường biển và được đóng trong côngcụ vận tải đó, đều được coi là những kiện hoặc những đơn vị chở hàng. Ngoàicách nói trên, những hàng hóa chứa trong công cụ vận tải đó chỉ được coi là mộtđơn vị chuyên chở.

b. Trong những trường hợp mà bảnthân công cụ vận tải bị mất hoặc hư hỏng, công cụ vận tải đó được coi là một đơnvị chuyên chở riêng biệt, nếu nó không do người chuyên chở sở hữu hoặc cung cấp.

3. Đơn vị tính toán là đơn vị tínhtoán nói ở Điều 26.

4. Người chuyên chở và người gửihàng có thể thỏa thuận quy định những giới hạn trách nhiệm vượt quá các giới hạnquy định của Mục 1.

Điều 7. Ápdụng đối với các vụ khiếu nại không thuộc hợp đồng

1. Những miễn trách và giới hạn tráchnhiệm quy định trong Công ước này được áp dụng cho những vụ kiện người chuyênchở về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa được vận chuyển theo hợp đồng vận tảiđường biển, cũng như về việc chậm giao hàng, dù vụ kiện đó dựa vào hợp đồng,ngoài hợp đồng hoặc dựa vào cơ sở khác.

2. Nếu một vụ kiện như vậy nhằm vàomột người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở, người làm công hoặc đại lýđó sẽ được quyền hưởng những miễn trách và giới hạn trách nhiệm mà người chuyênchở có quyền viện dẫn theo Công ước này, nếu người làm công hoặc đại lý đóchứng minh được rằng mình đã hành động trong phạm vi công việc được giao.

3. Trừ những quy định của Điều 8,tổng số tiền bồi thường từ người chuyên chở và từ bất kỳ những người nào đượcnói đến ở Mục 2 của Điều này sẽ không vượt quá mức giới hạn trách nhiệm đượcquy định trong Công ước này.

Điều 8. Mấtquyền hưởng giới hạn trách nhiệm

1. Người chuyên chở không được quyềnhưởng giới hạn trách nhiệm quy định trong Điều 6, nếu có bằng chứng rằng mấtmát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng là do hành động hoặc thiếu sót của người chuyênchở được thực hiện một cách có ý thức nhằm gây ra mất mát, hử hỏng hoặc chậmgiao hàng hoặc thực hiện một cách thiếu thận trọng trong khi biết rằng mất mát,hư hỏng hoặc chậm giao hàng đó có thể xảy ra.

2. Mặc dù có những quy định ở Mục2 Điều 7, một người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở không có quyềnhưởng giới hạn trách nhiệm quy định ở Điều 6, nếu có bằng chứng rằng mất mát,hư hỏng hoặc chậm giao hàng là do hành động hoặc thiếu sót của người làm cônghoặc đại lý được tiến hành một cách có ý thức nhằm gây ra mất mát, hư hỏng hoặcchậm giao hàng, hoặc được tiến hành một cách thiếu thận trọng trong khi biếtrằng mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng đó có thể xảy ra.

Điều 9. Hàngtrên boong

1. Người chuyên chở chỉ có quyềnchuyên chở hàng trên boong, nếu được sự thỏa thuận của người gửi hàng hoặc theođúng tập quán của mặt hàng có liên quan hoặc do đòi hỏi của những quy tắc pháp luậthoặc thể lệ hiện hành.

2. Người chuyên chở và người gửihàng đã thỏa thuận rằng hàng sẽ hoặc có thể chở trên boong, người chuyên chở phảighi điều này vào vận đơn hoặc vào chứng từ khác làm bằng chứng cho hợp đồng vậntải đường biển. Nếu trên vận đơn không có điều kiện ghi chú đó, người chuyênchở đó có trách nhiệm chứng minh rằng đã có sự thỏa thuận về việc chở hàng trênboong, tuy nhiên người chuyên chở không có quyền viện dẫn thỏa thuận đó đối vớingười thứ ba, kể cả người nhận hàng, người đã có được vận đơn một cách thiện ý.

3. Khi hàng hóa được chở trên boongtrái với những quy định ở mục 1 Điều này, hoặc khi người chuyên chở không thểtheo mục 2 Điều này viện dẫn về thỏa thuận chở hàng trên boong, mặc dù có nhữngquy định của Mục 1 Điều 5, người chuyên chở vẫn chịu trách nhiệm mất mát hoặchư hỏng của hàng hóa cũng như đối với việc chậm giao hàng chỉ do việc chở hàngtrên boong gây nên và mức độ trách nhiệm của người chuyên chở phải được xácđịnh theo những quy định của Điều 6 hoặc Điều 8 của Công ước này, tùy trườnghợp cụ thể.

4. Việc chở hàng trên boong tráivới sự thỏa thuận rõ ràng là hàng phải chở trong hầm tàu được coi là một hành vihoặc thiếu sót của người chuyên chở theo ý nghĩa của Điều 8.

Điều 10.Trách nhiệm của người chuyên chở và người chuyên chở thực tế

1. Khi việc chuyên chở hay một phầnchuyên chở được giao cho người chuyên chở thực tế đảm nhiệm, dù việc ủy thác đócó phù hợp với quyền tự do trong hợp đồng vận tải đường biển hay không, ngườichuyên chở vẫn phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình chuyên chở theođúng những quy định của Công ước này. Đối với phần chuyên chở do người chuyênchở thực tế tiến hành, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những hành vivà thiếu sót của người chuyên chở thực tế và của người làm công và đại lý củangười chuyên chở thực tế chỉ khi những người này hoạt động trong phạm vi côngviệc được giao.

2. Tất cả các quy định của Công ướcnày quy định trách nhiệm của người chuyên chở cũng được áp dụng đối với tráchnhiệm của người chuyên chở thực tế trong quãng đường chuyên chở do người nàythực hiện. Những quy định của Mục 2 và 3 Điều 7 và của Mục 2 Điều 8 sẽ áp dụng,nếu có việc kiện người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở thực tế.

3. Bất kỳ thỏa thuận đặc biệt nàomà theo đó người chuyên chở đảm nhận những nhiệm vụ không được đặt ra trong Côngước, hoặc từ bỏ những quyền được hưởng theo Công ước này, chỉ có hiệu lực đốivới người chuyên chở thực tế, nếu được người chuyên chở thực tế đồng ý rõ ràngbằng văn bản. Dù người chuyên chở thực tế có đồng ý như vậy hay không, ngườichuyên chở vẫn bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ hoặc bởi những sự từ bỏ phátsinh từ sự thỏa thuận đặc biệt đó.

4. Trong trường hợp và trong chừngmực mà cả người chuyên chở và người chuyên chở thực tế cùng chịu trách nhiệm,trách nhiệm của họ là liên đới và riêng biệt.

5. Tổng số tiền bồi thường màngười chuyên chở, người chuyên chở thực tế và những người làm công và đại lýcủa họ phải chịu không được vượt quá những giới hạn trách nhiệm quy định trongCông ước này.

6. Không một quy định nào trong Điềunày làm phương hại đến quyền truy đòi có thể có giữa người chuyên chở và ngườichuyên chở thực tế.

Điều 11.Chuyên chở suốt

1. Mặc dù có những quy định của Mục1 Điều 10, khi một hợp đồng chuyên chở bằng đường biển quy định rõ ràng một phầncụ thể của việc chuyên chở theo hợp đồng đó, được thực hiện bởi một người cụthể khác, không phải là người chuyên chở, hợp đồng cũng có thể quy định rằng ngườichuyên chở không chịu trách nhiệm về sự mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng mànguyên nhân là một sự kiện xảy ra trong khi hàng hóa thuộc trách nhiệm củangười chuyên chở thực tế trong phần chuyên chở đó. Tuy nhiên, bất kỳ quy địnhnào hạn chế hoặc loại trừ trách nhiệm đó đều vô hiệu, nếu không thể kiện đượcngười chuyên chở thực tế tại một Tòa án có thẩm quyền theo Mục 1 hoặc 2 Điều 21.Người chuyên chở có trách nhiệm chứng minh rằng mọi sự mất mát, hư hỏng hoặcchậm giao hàng là do sự kiện đó gây ra.

2. Người chuyên chở thực tế chịutrách nhiệm theo đúng những quy định ở Mục 2 Điều 10 về mất mát, hư hỏng hoặc chậmgiao hàng do một sự kiện xảy ra trong khi hàng hóa đang thuộc trách nhiệm củamình.

Phần III.

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜIGỬI HÀNG

Điều 12.Quy tắc chung

Người gửi hàng không chịu trách nhiệmvề thiệt hại của người chuyên chở hoặc của người chuyên chở thực tế, cũng nhưnhững hư hỏng của tàu, trừ khi thiệt hại hoặc hư hỏng đó do lỗi hoặc do sơ suấtcủa người gửi hàng, những người làm công hoặc đại lý của người gửi hàng gây ra.Những người làm công hoặc đại lý của người gửi hàng cũng không chịu trách nhiệmvề thiệt hại hoặc hư hỏng đó, trừ phi thiệt hại hoặc hư hỏng đó do lỗi hoặc sơsuất của họ gây ra.

Điều 13.Những quy tắc đặc biệt liên quan đến hàng nguy hiểm

1. Người gửi phải ghi ký mã hiệu,hoặc dán nhãn hiệu một cách thích hợp để làm rõ đó là hàng nguy hiểm.

2. Khi người gửi hàng chuyển giaohàng nguy hiểm cho người chuyên chở hoặc cho một người chuyên chở thực tế, tùytrường hợp cụ thể, người gửi hàng phải thông báo cho người này về tính chất nguyhiểm của hàng hóa và nếu cần, về những biện pháp phòng ngừa phải thi hành. Nếungười gửi hàng không làm như vậy và người chuyên chở hoặc người chuyên chở thựctế không có cách nào khác biết được tính chất nguy hiểm của hàng hóa, thì:

a. Người gửi hàng chịu trách nhiệmđối với người chuyên chở và bất kỳ người chuyên chở thực tế nào về thiệt hại doviệc gửi hàng đó gây nên, và

b. Hàng hóa có thể vào bất kỳ lúcnào được dỡ xuống, phá hủy hoặc làm vô hại, tùy hoàn cảnh đòi hỏi mà không phảitrả tiền bồi thường.

3. Bất kỳ người nào, trong quá trìnhchuyên chở đã nhận trách nhiệm về hàng hóa mà đã biết tính chất nguy hiểm củanó, sẽ không được viện dẫn những quy định ở Mục 2 Điều này.

4. Trong các trường hợp mà nhữngquy định ở tiểu Mục 2 (b) của Điều này không áp dụng hoặc không viện dẫn được, hàngnguy hiểm trở nên một mối nguy hiểm thực sự đối với sinh mạng hoặc tài sản,hàng hóa đó có thể được dỡ xuống, phá hủy hoặc làm vô hại, tùy hoàn cảnh đòihỏi, mà không phải trả tiền bồi thường, trừ trường hợp có nghĩa vụ đóng góp vàotổn thất chung hoặc khi người chuyên chở phải chịu trách nhiệm theo những quyđịnh của Điều 5.

Phần IV.

CHỨNG TỪ VẬN TẢI

Điều 14.Phát hành vận đơn

1. Khi người chuyên chở hoặc ngườichuyên chở thực tế nhận hàng để chở, người chuyên chở phải phát hành một vậnđơn cho người gửi hàng, theo yêu cầu của người này.

2. Vận đơn có thể do một người đượcngười chuyên chở ủy quyền ký phát. Một vận đơn do thuyền trưởng của tàu chởhàng ký được coi là đã ký thay mặt người chuyên chở.

3. Chữ ký trên vận đơn có thể đượcký bằng tay, in chữ ký tay, đục lỗ, đóng dấu, ký hiệu tượng trưng hoặc bằng cácphương tiện cơ khí hoặc điện tử khác, nếu những cách ký này không trái với luậtcủa nước mà tại đó vận đơn được phát hành.

Điều 15.Nội dung của vận đơn

1. Vận đơn phải bao gồm, ngoài cácchi tiết khác, những chi tiết sau đây:

a. Tính chất chung của hàng hóa,những ký hiệu chủ yếu cần thiết cho việc nhận biết hàng hóa, một ghi chú rõ ràngvề tính chất nguy hiểm của hàng hóa, nếu cần, số kiện hoặc số chiếc và trọnglượng hàng hoặc số lượng hàng được thể hiện bằng cách khác, tất cả các chi tiếtđó do người gửi hàng cung cấp;

b. Tình trạng bên ngoài của hànghóa;

c. Tên và địa điểm kinh doanh chínhcủa người chuyên chở;

d. Tên người gửi hàng;

e. Tên người nhận hàng, nếu ngườigửi hàng chỉ định;

f. Cảng xếp hàng theo hợp đồng vậntải bằng đường biển và ngày hàng được trao cho người chuyên chở tại cảng xếphàng;

g. Cảng dỡ hàng theo hợp đồng vậntải bằng đường biển;

h. Số bản gốc của vận đơn, nếu cóhơn một bản;

i. Nơi cấp vận đơn;

j. Chữ ký của người chuyên chở hoặccủa người thay mặt người chuyên chở;

k. Tiền cước trong phạm vi mà ngườinhận hàng phải trả, hoặc chỉ dẫn khác nói lên tiền cước do người nhận trả;

l. Điều ghi chú nói đến trong Mục3 Điều 23;

m. Điều ghi chú, nếu có áp dụng làhàng hóa sẽ hoặc có thể được chở trên boong;

n. Ngày hoặc thời hạn giao hàng tạicảng dỡ hàng, nếu điều này được các bên thỏa thuận rõ ràng và

o. Sự tăng thêm giới hạn trách nhiệmmà các bên thỏa thuận theo Mục 4 Điều 6.

2. Sau khi hàng hóa đã được xếp lêntàu, người chuyên chở phải cấp cho người gửi một vận đơn “đã xếp hàng” nếu ngườigửi hàng yêu cầu. Vận đơn này, ngoài những chi tiết theo yêu cầu của Mục 1 Điềunày, phải ghi rằng hàng hóa đã ở trên một hoặc những chiếc tàu chỉ định và phảighi ngày hoặc những ngày xếp hàng. Nếu người chuyên chở đã cấp trước đó chongười gửi hàng một vận đơn hoặc một chứng từ sở hữu khác về bất kỳ hàng hóa nàotrong số hàng hóa đó, theo yêu cầu của người chuyên chở, người gửi hàng phảigiao lại chứng từ đó cho người chuyên chở để đổi lấy vận đơn “đã xếp hàng”. Đểđáp ứng yêu cầu của người gửi hàng muốn có một vận đơn “hàng đã xếp”, ngườichuyên chở có thể bổ sung vào bất ký chứng từ nào đã cấp phát trước đó, miễn làsau khi được bổ sung, chứng từ đó có đầy đủ thông tin mà một vận đơn “đã xếphàng” phải có.

3. Việc vận đơn thiếu một hoặcnhiều chi tiết nói trong Điều này không ảnh hưởng đến tính hợp pháp của chứngtừ với tư cách là một vận đơn, miễn là chứng từ đó đáp ứng được những yêu cầunêu trong mục 7 Điều 1.

Điều 16.Vận đơn: những bảo lưu và hiệu lực chứng cứ

1. Nếu vận đơn có những chi tiếtvề tính chất chung, những ký hiệu chủ yếu, số kiện hoặc số chiếc, trọng lượng hoặcsố lượng hàng hóa, mà người chuyên chở hoặc người khác cấp vận đơn thay mặtngười chuyên chở biết hoặc có cơ sở hợp lý nghi ngờ là không mô tả đúng hànghóa thực tế đã nhận hoặc đã xếp xuống tàu, trong trường hợp đã cấp một vận đơn“đã xếp hàng”, hoặc nếu không có phương tiện hợp lý để kiểm tra những chi tiếtđó, người chuyên chở hoặc người khác đó phải ghi vào vận đơn một điều khoản bảolưu những điểm không chính xác đó, những cơ sở của sự nghi ngờ nói trên hoặcviệc thiếu phương tiện hợp lý để kiểm tra.

2. Nếu người chuyên chở, hoặc ngườikhác cấp vận đơn thay cho người chuyên chở, không ghi vào vận đơn tình trạngbên ngoài của hàng hóa, sẽ coi như người đó đã ghi vào vận đơn rằng hàng hóa cótình trạng bên ngoài tốt.

3. Trừ những chi tiết đã được ghibảo lưu trong phạm vi mà Mục 1 Điều này cho phép thì:

a. Vận đơn là bằng chứng hiển nhiêncủa việc người chuyên chở đã nhận hàng hoặc trong trường hợp vận đơn “đã xếphàng” được cấp của việc đã xếp hàng xuống như mô tả trong vận đơn.

b. Chứng minh ngược lại của ngườichuyên chở không được chấp nhận, nếu vận đơn đã được chuyên chở cho một ngườithứ ba, kể cả người nhận hàng đã hành động một cách có thiện ý, tin cậy vào sựmô tả hàng hóa ghi trong vận đơn đó.

4. Một vận đơn như quy định ở Mục1 tiểu mục (k) Điều 15, không ghi hoặc không chỉ rõ ràng bằng cách khác rằngtiền cước do người nhận hàng trả hoặc không ghi tiền phạt xếp hàng chậm ở cảngbốc hàng do người nhận hàng trả, vận đơn đó là bằng chứng hiển nhiên là ngườinhận hàng không phải trả tiền cước hoặc tiền phạt xếp hàng chậm đó. Tuy nhiên,chứng minh ngược lại của người chuyên chở không được chấp nhận, khi vận đơn đãđược chuyển cho một người thứ ba, kể cả người nhận hàng đã hành động một cáchcó thiện ý dựa vào việc không có những điều ghi như vậy trong vận đơn.

Điều 17.Bảo đảm của người gửi hàng

1. Người gửi hàng được coi là đãđảm bảo với người chuyên chở về tính chính xác của những chi tiết liên quan đếntính chất chung của hàng hóa, ký hiệu, số, trọng lượng và số lượng của những hànghóa đó như người gửi hàng đã cung cấp để ghi vào vận đơn. Người gửi hàng phảibồi thường cho người chuyên chở thiệt hại do những điểm không chính xác trongcác chi tiết đó gây ra. Người gửi hàng vẫn chịu trách nhiệm cả trong trường hợpvận đơn đã được chuyển nhượng. Quyền của người chuyên chở về việc đòi bồithường đó không hề hạn chế trách nhiệm của người chuyên chở theo hợp đồng chuyênchở bằng đường biển đối với bất kỳ ai không phải là người gửi hàng.

2. Bất kỳ thư bảo đảm, hoặc thỏathuận nào theo đó người gửi hàng nhận bồi thường cho một người chuyên chở thiệthại do việc người chuyên chở hoặc một người thay mặt người chuyên chở phát hànhvận đơn không có bảo lưu về những chi tiết được người gửi hàng cung cấp để ghi vàovận đơn hoặc tình trạng bên ngoài của hàng hóa đều vô giá trị và không có hiệulực đối với bất kỳ người thứ ba nào, kể cả đối với người nhận hàng đã được chuyểngiao vận đơn.

3. Thư bảo đảm hoặc thỏa thuận nhưvậy có hiệu lực đối với người gửi hàng, trừ khi người chuyên chở hoặc người thaymặt người chuyên chở có ý định bằng cách xóa bỏ điều bảo lưu nói ở Mục 2 Điềunày lừa gạt một người thứ ba kể cả người nhận hàng đã hành động dựa vào sự môtả hàng hóa ghi trong vận đơn. Trong trường hợp này, nếu điều bảo lưu bị xóa bỏcó liên quan đến những chi tiết được người gửi hàng cung cấp để ghi vào vận đơn,người chuyên chở không có quyền đòi người gửi hàng bồi thường theo Mục 1 Điềunày.

4. Trong trường hợp cố ý man tránhư nói ở Mục 3 Điều này, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm mà không được hưởnggiới hạn trách nhiệm quy định trong Công ước này, về thiệt hại của người thứba, kể cả người nhận hàng, bởi vì người này đã hành động dựa vào sự mô tả hànghóa ghi trong vận đơn.

Điều 18.Các chứng từ không phải vận đơn

Khi một người chuyên chở phát hànhmột chứng từ không phải là vận đơn để làm bằng chứng cho việc nhận hàng để chở,chứng từ đó là bằng chứng hiển nhiên của việc ký kết hợp đồng vận tải đườngbiển và của việc người chuyên chở nhận hàng hóa như mô tả trong chứng từ đó.

Phần V.

KHIẾU NẠI VÀ KIỆN TỤNG

Điều 19.Thông báo về mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng

1. Trừ khi có thông báo về mất mát,hoặc hư hỏng nói rõ tính chất chung của mất mát hoặc hư hỏng do người nhận hànggửi cho người chuyên chở bằng văn bản không muộn hơn ngày làm việc sau ngàyhàng được giao cho người nhận hàng, việc giao hàng đó là bằng chứng hiển nhiêncủa việc người chuyên chở đã giao hàng hóa đúng như được mô tả trong chứng từvận tải, hoặc đã giao hàng trong trạng thái tốt, nếu không có chứng từ vận tảiđó.

2. Trong trường hợp mất mát hoặchư hỏng khó thấy, những quy định trong Mục 1, Điều này được áp dụng tương ứng nếukhông có thông báo bằng văn bản trong vòng 15 ngày liên tục tính từ ngày hàngđược chuyển giao cho người nhận.

3. Nếu tình trạng hàng hóa vào lúcchuyển giao cho người nhận đã được kiểm tra hoặc giám định đối tịch giữa cácbên, sẽ không cần phải có thông báo bằng văn bản về mất mát hoặc hư hỏng đã đượcxác định trong quá trình kiểm tra hoặc giám định đó.

4. Trong trường hợp có mất mát hoặchư hỏng thực sự hoặc suy đoán, người chuyên chở và người nhận hàng phải dànhcho nhau mọi điều kiện thuận tiện hợp lý để kiểm tra và kiểm điếm hàng hóa.

5. Thiệt hại do chậm giao hàng gâynên sẽ không được bồi thường, nếu không thông báo bằng văn bản cho người chuyênchở trong vòng 60 ngày liên tục sau ngày hàng hóa được chuyển giao cho ngườinhận hàng.

6. Nếu hàng hóa do một người chuyênchở thực tế giao, mọi thông báo gửi cho người chuyên chở thực tế theo quy địnhcủa Điều này cũng có hiệu lực như gửi cho người chuyên chở và mọi thông báo gửicho người chuyên chở cũng có hiệu lực như gửi cho người chuyên chở thực tế.

7. Nếu trong vòng 90 ngày liên tục,tính từ ngày xảy ra mất mát, hư hỏng hoặc ngày giao hàng nói trong Mục 2 Điều4, tùy theo ngày nào xảy ra sau, mà người chuyên chở hoặc người chuyên chở thựctế không gửi cho người gửi hàng bằng văn bản, thông báo về mất mát hoặc hư hỏng,xác định tính chất chung của mất mát và hư hỏng đó, đó là bằng chứng hiển nhiênvề việc người chuyên chở hoặc người chuyên chở thực tế không hề bị mất mát hoặchư hỏng nào do lỗi hoặc sơ suất của người gửi hàng, nhân viên hoặc đại lý củangười này gây ra.

8. Nhằm mục đích của Điều này, thôngbáo gửi cho một người thay mặt người chuyên chở hoặc người chuyên chở thực tếkể cả Thuyền trưởng và sĩ quan phụ trách tàu, hoặc gửi cho một người thay mặt gửihàng cũng coi như là đã trao cho người chuyên chở, người chuyên chở thực tếhoặc người gửi hàng.

Điều 20.Thời hiệu tố tụng

1. Việc kiện tụng liên quan đến chuyênchở hàng hóa theo Công ước này đều hết hiệu lực, nếu trong thời hạn 2 năm khôngtiến hành các thủ tục đưa ra Tòa hoặc Trọng tài.

2. Thời hiệu tố tụng bắt đầu tínhtừ ngày người chuyên chở đã giao toàn bộ hay một phần hàng hóa hoặc trong trườnghợp không giao hàng, sẽ tính từ ngày cuối cùng mà hàng hóa đáng lẽ phải đượcgiao.

3. Ngày khởi đầu của kỳ hạn thờihiệu không tính vào thời hiệu tố tụng.

4. Người bị kiện có thể vào bất kỳlúc nào của thời hiệu tố tụng kéo dài kỳ hạn đó bằng một bản tuyên bố gửi chongười đi kiện. Kỳ hạn này có thể lại được kéo dài thêm bằng một hoặc nhiều bảntuyên bố khác.

5. Người chịu trách nhiệm bồi thườngcó thể kiện truy đòi bồi thường cả sau khi hết kỳ hạn thời hiệu tố tụng quyđịnh trong các mục trên, nếu đi kiện trong thời hạn được phép theo luật của nướcmà tại đó vụ kiện được tiến hành. Tuy nhiên, thời hạn được phép này không thểít hơn 90 ngày tính từ ngày người đi kiện truy đòi bồi thường đã thanh toán tiềnbồi thường hoặc đã nhận thông báo về việc mình bị kiện.

Điều 21.Thẩm quyền xét xử

1. Trong những vụ kiện liên quanđến chuyên chở hàng hóa theo Công ước này, bên nguyên có thể theo sự lựa chọn củamình, phát đơn kiện tại một Tòa án mà luật pháp của nước đó có Tòa án này côngnhận là có thẩm quyền và trong phạm vi quyền hạn xét xử của Tòa án đó có mộttrong các địa điểm sau:

a. Nơi kinh doanh của bên bị hoặcnơi cư trú thường xuyên của bên bị, nếu bên bị không có trụ sở kinh doanh chính,hoặc

b. Nơi ký kết hợp đồng với điều kiệnlà tại đó bên bị có trụ sở kinh doanh, chi nhánh hoặc đại lý qua đó hợp đồngđược ký kết, hoặc

c. Cảng xếp hàng hoặc cảng dỡ hàng,hoặc

d. Bất kỳ một địa điểm bổ sung nàođược hợp đồng vận tải đường biển quy định cho mục đích trên.

2. a. Mặc dù có những quy định nêutrên của Điều này, vẫn có thể đi kiện tại những Tòa án ở bất kỳ một cảng hoặcmột nơi nào thuộc một nước tham gia Công ước mà tại đó tàu chở hàng hoặc mộttàu nào khác của cùng một chủ tàu đã bị bắt giữ theo các quy tắc được áp dụngcủa luật nước đó và của luật quốc tế. Tuy nhiên, trong trường hợp ấy, theo yêucầu của bên bị, bên nguyên phải chuyển vụ kiện tùy theo sự lựa chọn của mìnhđến một trong những nơi có thẩm quyền xét xử quy định trong mục 1 Điều này đểgiải quyết, nhưng trước đó bên bị phải nộp một khoản tiền bảo đảm đủ để trả mọikhoản tiền mà sau đó Tòa án có thể xử cho bên nguyên được hưởng.

b. Tòa án tại cảng hoặc tại nơi tiếnhành bắt giữ sẽ quyết định khoản tiền bảo đảm này có đủ hay đến mức nào mới đủ.

3. Không một vụ kiện nào liên quanđến chuyên chở hàng hóa theo Công ước này có thể được tiến hành tại một nơikhông được quy định trong mục 1 hoặc 2 của Điều này. Những quy định trong mụcnày không gây cản trở gì đối với thẩm quyền của các Tòa án của các nước thamgia Công ước về những biện pháp tạm thời hoặc những biện pháp bảo vệ.

4. a. Khi một vụ kiện đã được đưara trước một Tòa án có thẩm quyền theo mục 1 hoặc 2 của Điều này hoặc khi Tòaán đó đã ra phán quyết, hai bên không thể kiện lại nhau vẫn vì những lý do nhưcũ, trừ phi phán quyết của Tòa án nơi vụ kiện đầu tiên được tiến hành không thểthi hành được tại nước mà thủ tục kiện mới được đưa ra.

b. Để thực hiện Điều này, việc địnhra những biện pháp nhằm thực hiện một phán quyết không được coi là khởi đầu mộtvụ kiện mới.

c. Để thực hiện Điều này, việc chuyểnmột vụ kiện đến một Tòa án khác trong cùng một nước, hoặc đến một Tòa án củamột nước khác, theo như tiểu mục 2 (a) Điều này, không được coi là việc bắt đầumột vụ kiện mới.

5. Mặc dù có những quy định ở cácmục trên đây, sau khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở bằng đườngbiển, sự thỏa thuận giữa các bên về chỉ định địa điểm mà bên khiếu nại đưa đơnkiện sẽ có hiệu lực.

Điều 22.Trọng tài

1. Tùy thuộc vào những quy định củaĐiều này, các bên có thể thỏa thuận bằng văn bản quy định rằng mọi tranh chấpcó thể phát sinh liên quan đến chuyên chở hàng hóa theo Công ước này sẽ đượcđưa ra trọng tài xét xử.

2. Khi một hợp đồng thuê tàu có mộtđiều khoản quy định bằng những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tàu đó đượcđưa ra trọng tài xét xử và trong vận đơn phát hành theo hợp đồng thuê tàu đókhông có ghi chú đặc biệt xác định rằng quy định nói trên sẽ ràng buộc hoặc ngườicầm giữ vận đơn, người chuyên chở không thể viện dẫn quy định đó đối với ngườicầm giữ vận đơn đã nhận được vận đơn một cách có thiện ý.

3. Việc xét xử của trọng tài, tùytheo sự lựa chọn của bên nguyên có thể tiến hành tại một trong những địa điểmsau:

a. Một địa điểm trong một nước, màtrên lãnh thổ của nước đó có:

(i) Nơi kinh doanh chính của bênbị hoặc nơi cư trú thường xuyên của bên bị, nếu bên bị không có nơi kinh doanh chínhhoặc

(ii) Nơi ký hợp đồng, với điều kiệnlà tại đó bên bị có trụ sở kinh doanh, chi nhánh hoặc đại lý qua đó hợp đồngđược ký kết, hoặc

(iii) Cảng xếp hàng hoặc cảng dỡhàng, hoặc

b. Bất kỳ một địa điểm nào được điềukhoản trọng tài hoặc thỏa thuận chỉ định cho mục đích trên.

4. Trọng tài viên hoặc Tòa án sẽáp dụng những quy tắc của Công ước này.

5. Những quy định của mục 3 và 4Điều này được coi là bộ phận của mọi điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọngtài và bất kỳ điều kiện nào trong điều khoản trọng tài này hoặc thỏa thuận trọngtài trái với những quy định đó đều vô hiệu.

6. Không một quy định nào của Điềunày ảnh hưởng đến hiệu lực của một thỏa thuận giữa hai bên về trọng tài, saukhi có khiếu nại phát sinh từ hợp đồng chuyên chở bằng đường biển.

Phần VI.

QUY ĐỊNH BỔ SUNG

Điều 23. Nhữngquy định về hợp đồng

1. Mọi quy định trong hợp đồng vậntải đường biển, trong một vận đơn hoặc trong một chứng từ khác chứng minh chohợp đồng vận tải đường biển đều vô hiệu trong chừng mực điều khoản đó trực tiếphoặc gián tiếp trái với những quy định của Công ước này. Sự vô hiệu của mộtđiều khoản như vậy không ảnh hưởng đến hiệu lực của các điều khoản khác của hợpđồng hoặc của chứng từ có điều khoản ấy. Một điều khoản nhượng quyền lợi bảohiểm hàng hóa cho người chuyên chở hoặc bất kỳ điều khoản nào tương tự đều vôhiệu.

2. Mặc dù có những quy định tại Điểm1 Điều này, một người chuyên chở có thể tăng trách nhiệm và nghĩa vụ của mìnhso với trách nhiệm và nghĩa vụ quy định trong Công ước này.

3. Khi một vận đơn hoặc bất kỳ chứngtừ nào khác làm bằng chứng cho hợp đồng vận tải đường biển được phát hành, vậnđơn hoặc chứng từ ấy phải có một điều nói rõ là việc chuyên chở phụ thuộc vàocác quy định của Công ước này, và Công ước này sẽ làm vô hiệu mọi quy định tráivới Công ước và gây thiệt hại cho người gửi hàng hoặc người nhận hàng.

4. Khi người khiếu nại về hàng hóabị thiệt hại, do một điều khoản vô hiệu theo quy định của Điều này hoặc do khôngghi điều tuyên bố nói trong mục 3 Điều này, người chuyên chở phải trả cho ngườikhiếu nại về hàng hóa theo đúng quy định của Công ước này tiền bồi thường tớimức độ cần thiết để đền bù cho mọi mất mát, hư hỏng của hàng hóa cũng như choviệc chậm giao hàng. Ngoài ra, người chuyên chở còn phải bồi hoàn những chi phímà người khiếu nại về hàng hóa đã chi ra nhằm thực hiện quyền của mình, với điềukiện là những chi phí phát sinh trong vụ kiện có viện dẫn quy định nêu trênphải được ấn định đúng theo luật của nước mà tại đó vụ kiện được đưa ra.

Điều 24.Tổn thất chung

1. Không một quy định nào của Côngước này ngăn cản việc áp dụng những quy định của hợp đồng vận tải đường biểnhoặc luật quốc gia liên quan đến tính toán, phân bổ tổn thất chung.

2. Ngoại trừ Điều 20, những quy địnhcủa Công ước này liên quan đến trách nhiệm của người chuyên chở về những mấtmát hoặc hư hỏng của hàng hóa cũng quyết định cả vấn đề là người nhận hàng cóthể từ chối đóng góp tổn thất chung hay không và quyết định về trách nhiệm củangười chuyên chở phải bồi hoàn cho người nhận hàng về khoản đóng góp đó hoặc vềchi phí cứu nạn mà người nhận hàng đã trả.

Điều 25.Các Công ước khác

1. Công ước này không làm thay đổinhững quyền lợi và nghĩa vụ của người chuyên chở, người chuyên chở thực tế vànhững người làm công, đại lý của họ đã được quy định trong các Công ước quốc tếhoặc trong luật quốc gia liên quan đến giới hạn trách nhiệm của các chủ tàu biển.

2. Những quy định của Điều 21 và22 của Công ước này không ngăn cản việc áp dụng những quy định bắt buộc của cácCông ước nhiều bên khác đang có hiệu lực vào ngày Công ước này được ký kết có liênquan đến những vấn đề được đề cập đến trong các điều nói trên, với điều kiện làtranh chấp phát sinh hoàn toàn chỉ liên quan đến các bên có trụ sở chính tạinhững nước tham gia Công ước khác đó. Tuy vậy, mục này không ảnh hưởng đến việcáp dụng mục 4 Điều 22 của Công ước này.

3. Theo các quy định của Công ướcnày, không một trách nhiệm nào phát sinh đối với hư hại do tai nạn hạt nhân gâyra nếu người điều hành cơ sở hạt nhân phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó:

a. Theo Công ước Paris ngày 29/7/1960 về trách nhiệm người thứ ba trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân đã đượcsửa đổi theo Nghị định thư bổ sung ngày 28/1/1964 hoặc theo Công ước Vienna ngày 21/5/1963 về trách nhiệm dân sự đối với hư hại hạt nhân, hoặc

b. Theo luật quốc gia quy định tráchnhiệm về những hư hại đó với điều kiện là đối với những người có thể bị thiệthại, luật đó cũng có lợi về mọi phương diện như Công ước Paris hoặc Công ước Vienna.

4. Theo những quy định của Công ướcnày, không một trách nhiệm nào phát sinh đối với mọi mất mát, hoặc hư hại, hoặcchậm giao hành lý mà người chuyên chở chịu trách nhiệm theo một Công ước quốctế hoặc luật quốc gia liên quan đến chuyên chở hành khách và hành lý bằng đườngbiển.

5. Không một quy định nào trong Côngước này ngăn cản một nước thành viên áp dụng bất kỳ Công ước quốc tế nào khácđã có hiệu lực vào ngày ký kết Công ước này và được áp dụng bắt buộc đối vớicác hợp đồng chuyên chở hàng hóa mà lúc đầu bằng phương thức vận tải khác ngoàiphương thức chuyên chở bằng đường biển. Quy định này cũng áp dụng đối với mọisửa chữa và sửa đổi sau này của Công ước quốc tế đó.

Điều 26.Đơn vị tính toán

1. Đơn vị tính toán nói ở Điều 6của Công ước này là Quyền Rút vốn Đặc biệt (SDR) do Quỹ Tiền tệ Quốc tế xác định.Những số tiền nói ở Điều 6 được chuyển đổi ra đồng tiền quốc gia của một nướctheo giá trị của đồng tiền đó vào ngày phán quyết hoặc vào một ngày được cácbên thỏa thuận. Giá trị biểu thị bằng Quyền Rút vốn Đặc biệt của đồng tiền quốcgia của một nước ký kết là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế được tính theophương pháp mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế áp dụng vào ngày liên quan đối với nhữngnghiệp vụ và giao dịch của Quỹ. Giá trị biểu thị bằng Quyền Rút vốn Đặc biệtcủa đồng tiền quốc gia của một nước ký kết không phải là thành viên của QuỹTiền tệ Quốc tế được tính theo phương pháp do nước đó quy định.

Tuy nhiên, các nước không phải làthành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế mà luật pháp của những nước đó không cho phépáp dụng những quy định của mục 1 Điều này, có thể vào lúc ký hoặc phê chuẩn,chấp nhận, thông qua hoặc gia nhập hoặc bất cứ lúc nào sau đó, tuyên bố rằngnhững giới hạn trách nhiệm nêu trong Công ước này được áp dụng trên lãnh thổnước mình bằng 12.500 đơn vị tiền tệ đối với mỗi kiện hay đơn vị chuyên chở khác,hoặc 37,5 đơn vị tiền tệ đối với mỗi kilogram trọng lượng cả bì của hàng hóa.

3. Đơn vị tiền tệ nói ở mục 2 Điềunày tương tứng với 65,5 miligram vàng có độ nguyên chất 900 phần nghìn. Việctính đổi những số tiền nói ở mục 2 ra tiền quốc gia phải được tiến hành theođúng luật pháp của nước liên quan.

4. Cách tính nêu trong câu cuối cùngcủa mục 1 và việc tính đổi nêu ở mục 3 Điều này phải được tiến hành bằng cáchnào gần nhất với giá trị thực tế của những số tiền nói ở Điều 6, được biểu thịbằng đơn vị tính toán. Vào lúc ký hoặc vào lúc trao đổi văn bản phê chuẩn, chấpnhận, thông qua hoặc gia nhập hoặc khi có sự thay đổi trong phương pháp tínhtoán hoặc trong kết quả tính đổi, các nước tham gia Công ước này phải tùy từngtrường hợp, thông báo ngay cho người lưu giữ Công ước về phương pháp tính toáncủa mình theo đúng quy định của mục 1 Điều này hoặc về những kết quả của việctính đổi theo đúng quy định của mục 3 Điều này.

Phần VII.

CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 27.Người lưu giữ

Tổng thư ký Liên hiệp quốc được chỉđịnh là người lưu giữ Công ước này.

Điều 28. Kýkết, phê chuẩn, chấp nhận, thông qua, gia nhập Công ước

1. Công ước này được để ngỏ cho tấtcả các nước ký tại trụ sở Liên hiệp quốc tại New York cho đến ngày 30/4/1979.

2. Công ước phải được các nước kýkết phê chuẩn, chấp nhận hoặc thông qua.

3. Sau ngày 30/4/1979, Công ước nàysẽ được để ngỏ cho các nước không phải là nước ký Công ước gia nhập.

4. Các văn bản phê chuẩn, chấp nhận,thông qua và gia nhập được lưu giữ tại Tổng thư ký Liên hiệp quốc.

Điều 29. Bảolưu

Không thực hiện một bảo lưu nào đốivới Công ước này.

Điều 30.Ngày có hiệu lực

1. Công ước này sẽ có hiệu lực vàongày đầu của tháng sau khi hết thời hạn một năm kể từ ngày văn bản phê chuẩn,chấp nhận, thông qua hoặc gia nhập thứ 20 được lưu giữ.

2. Đối với bất kỳ nước nào trở thànhnước thành viên của Công ước này, sau ngày trao văn bản phê chuẩn, chấp nhận,thông qua hoặc gia nhập thứ 20, Công ước này sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiêncủa tháng sau, khi hết thời hạn 1 năm kể từ ngày lưu giữ văn bản thích hợp nhândanh nước đó.

3. Mỗi nước ký kết sẽ áp dụng cácđiều quy định của Công ước này đối với các hợp đồng vận tải đường biển được kýkết từ ngày Công ước này có hiệu lực đối với nước đó.

Điều 31.Bãi bỏ các Công ước khác

1. Khi trở thành thành viên của Côngước này, bất kỳ nước nào là thành viên của “Công ước quốc tế để thống nhất mộtsố quy tắc về vận đơn” ký tại Brussels ngày 25/8/1924 (Công ước 1924) phải thôngbáo cho Chính phủ Bỉ, người lưu giữ Công ước 1924 biết là mình đã bãi bỏ Côngước đó với lời tuyên bố rằng việc bãi bỏ đó có hiệu lực từ ngày mà Công ước nàycó hiệu lực đối với mình.

2. Khi Công ước này có hiệu lực nhưnói ở mục 1 Điều 30, người lưu giữ Công ước này phải thông báo cho Chính phủBỉ, người lưu giữ Công ước 1924 về ngày có hiệu lực đó cũng như về tên các nướcký kết mà đối với họ Công ước này có hiệu lực.

3. Các quy định của các mục 1 và2 Điều này cũng được áp dụng một cách tương ứng đối với các nước tham gia Nghị địnhthư ký ngày 23/2/1968 nhằm sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quytắc về vận đơn ký tại Brussels ngày 25/8/1924.

4. Mặc dù có những quy định của Điều2 Công ước này nhưng nhằm phục vụ mục 1 Điều này, một nước thành viên có thểkhi xét thấy cần thiết hoãn việc bãi bỏ Công ước 1924 và Công ước 1924 được sửađổi bằng Nghị định thư 1968 trong một thời hạn tối đa là 5 năm kể từ ngày cóhiệu lực của Công ước này. Trong trường hợp này, nước đó phải thông báo ý địnhnói trên cho Chính phủ Bỉ. Trong thời kỳ quá độ này, nước đó phải áp dụng Côngước này đơn vị các nước ký kết.

Điều 32.Sửa chữa và sửa đổi

1. Theo yêu cầu của ít nhất là mộtphần ba số nước thành viên Công ước này, người lưu giữ phải triệu tập một hộinghị những nước thành viên để sửa chữa hoặc sửa đổi Công ước này.

2. Mọi văn bản phê chuẩn, chấp nhận,thông qua hoặc gia nhập gửi lưu giữ sau khi một sửa đổi của Công ước này cóhiệu lực, được coi là áp dụng đối với Công ước đã được sửa đổi như vậy.

Điều 33.Sửa đổi các số tiền giới hạn và đơn vị tính toán hoặc đơn vị tiền tệ

1. Mặc dù có những quy định của Điều22, người lưu giữ sẽ triệu tập theo đúng mục 2 Điều này, một hội nghị chỉ nhằmmục đích sửa đổi các số tiền nói ở Điều 6 và ở mục 2 Điều 26 hoặc để thay mộttrong hai hoặc cả hai đơn vị được xác định ở mục 1 và 3 Điều 26 bằng những đơnvị khác. Chỉ tiến hành sửa đổi các số tiền khi giá trị thực tế của chúng thayđổi đáng kể.

2. Khi có yêu cầu của ít nhất làmột phần tư số nước tham gia Công ước này, người lưu giữ phải triệu tập một hộinghị sửa đổi.

3. Mọi quyết định của Hội nghị phảiđược thông qua với đa số 2/3 các nước tham gia hội nghị. Điều sửa đổi phải đượclưu giữ thông báo cho tất cả các nước thành viên để chấp nhận và cho tất cả cácnước ký Công ước để biết.

4. Mọi sửa đổi được thông qua sẽcó hiệu lực vào ngày đầu của tháng tiếp, sau khi hết thời hạn một năm kể từ khisửa đổi đó được 2/3 các nước thành viên chấp nhận. Việc chấp nhận phải được thựchiện bằng cách trao một văn bản chính thức về việc đó cho người lưu giữ.

5. Sau khi sửa đổi có hiệu lực, nướcký kết đã chấp nhận sửa đổi có quyền áp dụng Công ước đã được sửa đổi như vậytrong quan hệ của mình với những nước ký kết mà trong vòng 6 tháng sau khi sửađổi đó được thông qua, những nước này không thông báo cho người lưu giữ biếtrằng họ không bị ràng buộc bởi sửa đổi đó.

6. Mọi văn bản phê chuẩn, chấp nhận,thông qua hoặc gia nhập được lưu giữ sau khi một sửa đổi của Công ước này cóhiệu lực được coi là áp dụng đối với Công ước đã được sửa đổi.

Điều 34.Bãi bỏ Công ước

1. Bất kỳ nước ký kết nào đều cóthể bãi bỏ Công ước này vào bất kỳ lúc nào bằng cách thông báo bằng văn bản chongười lưu giữ.

2. Việc bãi bỏ có hiệu lực vào ngàyđầu của tháng tiếp theo, sau khi hết thời hạn một năm kể từ ngày người lưu giữnhận được thông báo. Nếu một thời hạn dài hơn được ghi trong thông báo, việcbãi ước sẽ bắt đầu có hiệu lực từ lúc kết thúc thời hạn này kể từ ngày ngườilưu giữ nhận được thông báo.

Làm tại Hamburg, ngày 31 tháng3 năm 1978 thành một bản gốc duy nhất, bằng các tiếng Ả Rập, Trung Quốc, Anh,Pháp, Nga và Tây Ban Nha và đều có giá trị như nhau.

Để chứng tỏ những điều trên, nhữngngười đại diện toàn quyền ký tên dưới đây, được các Chính phủ nước mình ủyquyền hợp lệ, đã ký Công ước này.