CÔNG ƯỚC

CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN

(Ký kết ngày 10 tháng 12 năm 1982)

CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN CỦA CÔNG ƯỚC

Với lòng mong muốn giải quyết, trên tinh thần hiểu biết vàhợp tác với nhau, mọi vấn đề liên quan đến luật biển, và ý thức được tầm vóclịch sử của Công ước là một cống hiến quan trọng vào việc giữ gìn hòa bình,công lý và tiến bộ cho tất cả các dân tộc trên thế giới;

Nhận thấy rằng, những sự kiện mới nảy sinh kể từ các Hộinghị của Liên hợp quốc về luật biển được nhóm họp tại Giơnevơ năm 1958 và năm1960, đã làm tăng thêm sự cần thiết phải có một Công ước mới về luật biển cóthể được mọi người chấp nhận;

Ý thức rằng, những vấn đề về các vùng biển có liên quan chặtchẽ với nhau và cần được xem xét một cách đồng bộ;

Thừa nhận rằng, điều đáng mong muốn là, bằng Công ước với sựquan tâm đúng mức đến chủ quyền của tất cả các quốc gia, thiết lập được mộttrật tự pháp lý cho các biển và đại dương làm dễ dàng cho việc sử dụng côngbằng và hiệu quả những tài nguyên, việc bảo tồn những nguồn lợi sinh vật củacác biển và các đại dương, việc nghiên cứu, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

Cho rằng, việc thực hiện các mục tiêu này sẽ góp phần thiếtlập nên một trật tự kinh tế quốc tế đúng đắn và công bằng, trong đó có tính đếncác lợi ích và nhu cầu của toàn thể loài người và đặc biệt là các lợi ích vànhu cầu riêng của các nước đang phát triển, dù có biển hay không có biển;

Mong muốn phát triển bằng Công ước, các nguyên tắc trongNghị quyết 2749 (XXV) ngày 17 tháng 12 năm 1970, trong đó Đại hội đồng Liên hợpquốc đã đặc biệt trịnh trọng tuyên bố rằng khu vực đáy biển và đại dương, cũngnhư lòng đất dưới đáy các khu vực nằm ngoài giới hạn chung của loài người vàviệc thăm dò, khai thác khu vực này sẽ được tiến hành vì lợi ích của toàn thể loàingười, không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia;

Tin tưởng rằng, việc pháp điển hóa và sự phát triển theochiều hướng tiến hóa của Luật biển được thực hiện trong Công ước sẽ góp phầntăng cường hòa bình, an ninh, hợp tác và quan hệ hữu nghị giữa tất cả các dântộc phù hợp với các nguyên tắc công bằng và bình đẳng về quyền, và sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho tiến bộ về kinh tế và xã hội của tất cả các dân tộc trên thếgiới, phù hợp với các mục tiêu và các nguyên tắc của Liên hợp quốc như đã được nêutrong Hiến chương;

Khẳng định rằng, các vấn đề không quy định trong Công ước sẽtiếp tục được xử lý bằng các quy tắc và nguyên tắc của pháp luật quốc tế chung;

Đã thỏa thuận như sau:

Phần I

MỞ ĐẦU

ĐIỀU 1. Sử dụng các thuật ngữ vàphạm vi áp dụng

1. Những thuật ngữ được sử dụng trong Công ước cần được hiểunhư sau:

1. “Vùng” (Zone): là đáy biển và lòng đất dưới đáybiển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia;

2. “Cơ quan quyền lực” (Autorité): là cơ quan quyền lựcquốc tế về đáy biển;

3. “Các hoạt động được tiến hành trong Vùng” (activitésmenées dans la Zone): là mọi hoạt động thăm dò và khai thác các tài nguyên củaVùng;

4. “Ô nhiễm môi trường biển” (Pullution du milieumarin): là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc nănglượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thểgây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vậtvà hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho cáchoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cáchhợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó vàlàm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển;

5. a) “Sự nhận chìm” (immersion) là:

i. mọi sự trút bỏ có ý thức xuống biển các chất thải hoặccác chất khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc công trình khácđược bố trí ở biển.

ii. mọi sự đánh chìm tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổihoặc các công trình khác được bố trí ở biển.

b) Thuật ngữ “nhận chìm” không nhằm vào:

i. việc vứt bỏ các chất thải hoặc các chất khác được sảnsinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phươngtiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác được bố trí trên biển, cũng như cácthiết bị của chúng, ngoại trừ các chất thải hoặc các chất khác được chuyên chởhoặc chuyển tài trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các côngtrình khác bố trí ở biển được dùng để thải bỏ các chất đó, trên các tàu thuyền,phương tiện bay, giàn nổi hay các công trình đó tạo ra;

ii. việc tàng chứa các chất với mục đích không phải chỉ là đểthải bỏ chúng với điều kiện là việc tàng chứa này không đi ngược lại những mụcđich của Công ước.

2.1 “Các quốc gia thành viên” (Etats Parties) lànhững quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc của Công ước và Công ước có hiệu lựcđối với các quốc gia đó.

2. Công ước được áp dụng mulatis mutandis (với những thayđổi cần thiết về chi tiết) cho những thực thể nói trong Điều 305 khoản 1, điểmb, c, d, e và f đã trở thành thành viên của Công ước, theo đúng với các điềukiện liên quan đến từng thực thể; trong giới hạn đó, thuật ngữ “quốc gia thànhviên” cũng dùng để chỉ những thực thể này.

Phần II

LÃNH HẢI VÀ VÙNG TIẾPGIÁP

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 2. Chế độ pháp lý của lãnh hảivà vùng trời ở trên lãnh hải cũng như đáy và lòng đất dưới đáy của lãnh hải

Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnhthổ và nội thủy của mình, và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùngnước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải (merterritoriale)

Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũngnhư đến đáy và lòng đất của biển này.

Chủ quyền của Công ước và các quy tắc khác của pháp luậtquốc tế trù định.

Mục 2. RANH GIỚI CỦA LÃNH HẢI

ĐIỀU 3. Chiều rộng của lãnh hải

Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải củamình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theođúng Công ước.

ĐIỀU 4. Ranh giới phía ngoài của lãnh hải

Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ởtrên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiềurộng của lãnh hải.

ĐIỀU 5. Đường cơ sở thông thường

Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thôngthường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theobờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biểnchính thức công nhận.

ĐIỀU 6. Các mỏm đá (recifs)

Trong trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặccác đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, thì đường cơ sở dùng để tính chiều rộnglãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cũng của các mỏm đá, như đãđược thể hiện trên các hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận.

ĐIỀU 7. Đường cơ sở thẳng

1. Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có mộtchuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳngnối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải.

2. Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổvà những đặc điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọctheo ngấn nước triều thấp nhất có chuyển dịch vào phía trong bờ, các đường cơ sởđã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi đúngtheo Công ước.

3. Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướngchung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắnvới đắt liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy.

4. Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất pháttừ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc cácthiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sởthẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế.

5. Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sởthẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thểtính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quantrọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng.

6. Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng khôngđược làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùngđặc quyền kinh tế.

ĐIỀU 8. Nội thủy

1. Trừ trường hợp đã được quy định ở Phần IV, các vùng nướcở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia.

2. Khi một đường cơ sở thẳng được vạch ra theo đúng phươngpháp được nói ở Điều 7 gộp vào nội thủy các vùng nước trước đó chưa được coi lànội thủy, thì quyền đi qua không gây hại nói trong Công ước vẫn được áp dụng ởcác vùng nước đó.

ĐIỀU 9. Cửa sông

Nếu một con sông đổ ra biển mà không tạo thành vụng thìđường cơ sở là một đường thẳng được kẻ ngay qua cửa sông nối liền các điểmngoài cùng của ngấn nước triều thấp nhất ở hai bên bờ sông.

ĐIỀU 10. Vịnh

1. Điều này chỉ liên quan đến những vịnh mà bờ vịnh thuộcmột quốc gia duy nhất.

2. Trong Công ước, “Vịnh” (baie) cần được hiểu là một vùnglõm sâu rõ rệt

vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiềurộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanhvà vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển. Tuy nhiên, một vũng lõmchỉ được coi là một vịnh nếu như diện tích của nó ít nhất cũng bằng diện tíchmột nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùnglõm.

3. Diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triềuthấp nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nướctriều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên. Nếu do có các đảo mà một vùnglõm có nhiều cửa vào, thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng sốchiều dài các đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó. Diện tích của các đảo nằmtrong một vùng lõm được tính vào diện tích chung của vùng lõm.

4. Nếu khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở cácđiểm của cửa vào tự nhiên một vịnh không vượt quá 24 hải lý, thì đường phângiới có thể được vạch giữa hai ngấn nước triều thấp nhất này và vùng nước ởphía bên trong đường đó được coi là nội thủy.

5. Khi khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở cácđiểm của cửa vào tự nhiên của một vịnh vượt quá 24 hải lý, thì được kẻ một đoạnđường cơ sở thẳng dài 24 hải lý ở phía trong vịnh, sao cho phía trong của nó cómột diện tích nước tối đa.

6. Các quy định trên đây không áp dụng đối với các vịnh gọilà “vịnh lịch sử” và cũng không áp dụng đối với các trường hợp làm theo phươngpháp đường cơ sở thẳng được trù định trong Điều 7.

ĐIỀU 11. Cảng

Để ấn định ranh giới lãnh hải, các công trình thiết bị thườngxuyên là bộ phận hữu cơ của một hệ thống cảng, nhô ra ngoài khơi xa nhất, đượccoi là thành phần của bờ biển. Các công trình thiết bị ở ngoài khơi xa bờ biểnvà các đảo nhân tạo không được coi là những công trình thiết bị cảng thườngxuyên.

ĐIỀU 12. Vũng tàu

Các vũng tàu được dùng thường xuyên vào việc xếp dỡ hàng hóavà làm khu neo tàu, bình thường nằm hoàn toàn hoặc một phần ở ngoài đường ranhgiới bên ngoài của lãnh hải cũng được coi như là bộ phận của lãnh hải.

ĐIỀU 13. Bãi cạn lúc chìm lúc nổi

1. “Bãi cạn lúc chìm lúc nổi” (haut-fonds découvrants) là nhữngvùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước. Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đóở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnhhải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này có thể được dùng làmđường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải.

2. Khi các bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn ở cách lục địahoặc một đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì chung khôngcó lãnh hải riêng.

ĐIỀU 14. Sự kết hợp các phương phápđể vạch các đường cơ sở

Quốc gia ven biển, tùy theo hoàn cảnh khác nhau, có thể vạchra các đường cơ sở theo một hay nhiều phương pháp được trù định ở các điều nóitrên.

ĐIỀU 15. Việc hoạch định ranh giới lãnhhải giữa các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau

Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau,không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọiđiểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuynhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịchsử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hảicủa hai quốc gia một cách khác.

ĐIỀU 16. Hải đồ và bản kê các tọa độđịa lý

1. Các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải đượcvạch ra theo đúng các Điều 7, 9 và 10 hoặc các ranh giới hình thành từ các điềuđó và các đường hoạch định ranh giới được vạch ra đúng theo các Điều 12 và 15,được thể hiện trên các hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí củanó. Nếu không, thì có thể thay thế bằng một bản kê các tọa độ địa lý các điểm,có ghi rõ hệ thống trắc địa đã được sử dụng.

2. Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các hải đồhay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bảnđể lưu chiếu.

Mục 3. ĐI QUA KHÔNG GÂY HẠI TRONGLÃNH HẢI

TIỂU MỤC A. CÁC QUY TẮC ÁP DỤNG CHOTẤT CẢ CÁC LOẠI TÀU THUYỀN

ĐIỀU 17. Quyền đi qua không gây hại

Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cảcác quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hạitrong lãnh hải.

ĐIỀU 18. Nghĩa của thuật ngữ “Điqua” (Passage)

1. “Đi qua” là đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích

a) Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy, không đậu lạitrong một vũng tàu hoặc một công trình cảng ở bên ngoài nội thủy; hoặc

b) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy, hoặc đậu lại hay rời khỏimột vũng tàu hay một công trình cảng trong nội thủy.

2. Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việcđi qua bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phảinhững sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng haymắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đanglâm nguy hoặc mắc nạn.

ĐIỀU 19. Nghĩa của thuật ngữ “đi quakhông gây hại” (Passage inoffensif)

1. Việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làmphương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Việc đi quakhông gây hại cần phải được thực hiện theo đúng với các quy định của Công ướcvà các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.

2. Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi nhưphương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ởtrong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sauđây:

a) Đe dọa hoặc dùng vũ lục chống lại chính quyền, toàn vẹnlãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách kháctrái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chươngLiên hợp quốc;

b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;

c) Thu nhập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay anninh của quốc gia ven biển;

d) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quânsự;

f) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh củaquốc gia ven biển;

g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuốngtàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư củaquốc gia ven biển;

h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;

i) Đánh bắt hải sản;

j) Nghiên cứu hay đo đạc;

k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liênlạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;

l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc điqua.

ĐIỀU 20. Tàu ngầm và các phương tiệnđi ngầm khác

Ở trong lãnh hải, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khácbuộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch.

ĐIỀU 21. Các luật và quy định củaquốc gia ven biển liên quan đến việc đi qua không gây hại

1. Quốc gia ven biển có thể định ra, phù hợp với các quyđịnh của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế, các luật và quyđịnh liên quan đến việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình về cácvấn đề sau đây:

a) An toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển;

b) Bảo vệ các thiết bị và các hệ thống bảo đảm hàng hải vàcác thiết bị hay công trình khác;

c) Bảo vệ các đường giây cáp và ống dẫn;

d) Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển;

e) Ngăn ngừa những sự vi phạm các luật và quy định của quốcgia ven biển liên quan đến việc đánh bắt;

f) Gìn giữ môi trường của quốc gia ven biển và ngăn ngừa,hạn chế, chế ngự ô nhiễm môi trường;

g) Nghiên cứu khoa học biển và đo đạc thủy văn;

h) Ngăn ngừa những sự vi phạm các luật và quy định về hảiquan, thuế khóa, y tế hay nhập cư của quốc gia ven biển;

2. Các luật và quy định này không áp dụng đối với cách thiếtkế, việc đóng hoặc đối với trang bị của tàu thuyền nước ngoài, nếu chúng khôngcó ảnh hưởng gì đến các quy tắc hay quy phạm quốc tế được chấp nhận chung.

3. Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các luật vàquy định này.

4. Khi thực hiện quyền đi qua không gây hại ở trong lãnh hảitàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ các luật và quy định này, cũng như tất cảcác quy định quốc tế được chấp nhận chung có liên quan đến việc phòng ngừa đâmva trên biển.

ĐIỀU 22. Các tuyến đường và cách bốtrí phân chia luồng giao thông ở trong lãnh hải

1. Quốc gia ven biển khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thểđòi hỏi tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải của mình phảiđi theo các tuyến đường do mình ấn định và phải tôn trọng các cách bố trí phân chiacác luồng giao thông do mình quy định nhằm điều phối việc qua lại các tàuthuyền.

2. Đặc biệt, đối với các tàu xi-teec (navires-citernes), cáctàu có động cơ chạy bằng năng lượng hại nhân và các tàu chở các chất hay cácnguyên liệu phóng xạ hoặc các chất khác vốn nguy hiểm hay độc hại, có thể bịbắt buộc chỉ được đi theo các tuyến đường này.

3. Khi ấn định các tuyến đường và quy định cách bố trí phânchia luồng giao thông theo điều này, quốc gia ven biển lưu ý đến:

a) Các kiến nghị của tổ chức quốc tế có thẩm quyền;

b) Tất cả các luồng lạch thường được sử dụng cho hàng hảiquốc tế;

c) Các đặc điểm riêng của một số loại tàu thuyền và luồnglạch;

d) Mật độ giao thông.

4. Quốc gia ven biển ghi rõ các tuyến đường và các cách phânchia luồng giao thông nói trên lên hải đồ và công bố theo đúng thủ tục.

ĐIỀU 23. Tàu thuyền nước ngoài cóđộng cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân và tàu thuyền chuyên chở các chất phóngxạ hay các chất vốn nguy hiểm hoặc độc hại.

Các tàu thuyền nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượnghạt nhân cũng như các tàu thuyền chuyên chở các chất phóng xạ hay các chất khácvốn nguy hiểm hay độc hại, khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnhhải, buộc phải mang đầy đủ các tài liệu và áp dụng những biện pháp phòng ngừađặc biệt theo quy định của các điều ước quốc tế đối với loại tàu thuyền đó.

ĐIỀU 24. Các nghĩa vụ của quốc giaven biển

1. Quốc gia ven biển không được cản trở quyền đi qua khônggây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp màCông ước đã trù định. Đặc biệt khi áp dụng Công ước, quốc gia ben biển khôngđược:

a) Áp đặt cho các tàu thuyền nước ngoài những nghĩa vụ dẫnđến việc cản trở hay hạn chế việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của cáctàu thuyền này;

b) Phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế đốivới các tàu thuyền chở hàng từ một quốc gia nhất định hay đến quốc gia đó hoặcnhân danh một quốc gia nhất định.

2. Quốc gia ven biển thông báo thích đáng mọi nguy hiểm vềhàng hải của mình biết trong lãnh hải của mình.

ĐIỀU 25. Quyền bảo vệ các quốc giaven biển

1. Quốc gia ven biển có thể thi hành các biện pháp cần thiếttrong lãnh hải của mình để ngăn cản mọi việc đi qua có gây hại.

2. Đối với tàu thuyền đi vào vùng nội thủy hay vào một côngtrình cảng ở bên ngoài vùng nội thủy đó, quốc gia ven biển cũng có quyền thihành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa mọi sự vi phạm đối với các điềukiện mà tàu thuyền này buộc phải tuân theo để được phép vào vùng nội thủy haycông trình cảng nói trên.

3. Quốc gia ven biển có thể tạm thời đình chỉ việc thực hiệnquyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại các khu vực nhất địnhtrong lãnh hải của mình, nếu biện pháp này là cần thiết để bảo đảm an ninh củamình, kể cả để thử vũ khí, nhưng không được phân biệt đối xử về mặt pháp lý hayvề mặt thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệulực sau khi đã được công bố theo đúng thủ tục.

ĐIỀU 26. Lệ phí đối với tàu thuyềnnước ngoài

1. Không được thu lệ phí đối với tàu thuyền nước ngoài điqua lãnh hải, nếu không phải vì lý do trả công cho những dịch vụ riêng đối vớinhững tàu thuyền này. Khi thu lệ phí đó không được phân biệt đối xử.

TIỂU MỤC B. QUY TẮC ÁP DỤNG CHO TÀUBUÔN VÀ TÀU NHÀ NƯỚC DÙNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI

ĐIỀU 27. Quyền tài phán hình sự ởtrên một tàu nước ngoài

1. Quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phánhình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành việcbắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên contàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp sau đây:

a) Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia venbiển;

b) Nếu vị vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đấtnước hay trật tự trong lãnh hải;

c) Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viênchức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đươngcục địa phương hoặc

d) Nếu các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buônlậu chất ma túy hay các chất kích thích.

2. Khoản 1 không đụng chạm gì đến quyền của quốc gia venbiển áp dụng mọi luật pháp mà luật trong nước mình qui định nhằm tiến hành cácviệc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm ở trên con tàu nước ngoài đi qua lãnhhải, sau khi rời khỏi nội thủy.

3. Trong những trường hợp nêu ở các khoản 1 và 2, nếu thuyềntrưởng yêu cầu, quốc gia ven biển phải thông báo trước về mọi biện pháp cho mộtviên chức ngoại giao hay cho một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờvà phải tạo điều kiện dễ dàng cho viên chức ngoại giao hay viên chức lãnh sự đótiếp xúc với đoàn thủy thủ của con tàu. Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp,việc thông báo này có thể tiến hành trong khi các biện pháp đang được thi hành.

4. Khi xem xét có nên bắt giữ và các thể thức của việc bắtgiữ, nhà đương cục địa phương cần phải chú ý thích đáng đến các lợi ích về hànghải.

5. Trừ trường hợp áp dụng phần XII hay trong trường hợp cósự vi phạm các luật và quy định được định ra theo đúng phần V, quốc gia venbiển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu nước ngoài khinó đi qua lãnh hải nhằm tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụvị phạm hình sự xảy ra trước khi con tàu đi vào lãnh hải mà không đi vào nộithủy.

ĐIỀU 28. Quyền tài phán dân sự đốivới các tàu thuyền nước ngoài

1. Quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước ngoài đangđi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi hành trình của nó để thực hiện quyềntài phán dân sự của mình đối với một người ở trên con tàu đó.

2. Quốc gia ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừngphạt hay biện pháp bảo đảm (mesures conservatoires) về mặt dân sự đối với contàu này, nếu không phải vì những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà contàu phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển của quốc giaven biển.

3. Khoản 2 không đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biểnáp dụng các biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nướccủa quốc gia này quy định đối với tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hảihay đang đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thủy.

TIỂU MỤC C. QUY TẮC ÁP DỤNG CHO CÁCTÀU CHIẾN VÀ CÁC TÀU THUYỀN KHÁC CỦA NHÀ NƯỚC ĐƯỢC DÙNG VÀO NHỮNG MỤC ĐÍCHKHÔNG THƯƠNG MẠI

ĐIỀU 29. Định nghĩa “tàu chiến”(navire de guerre)

Trong Công ước, « tàu chiến » là mọi tàu thuyền thuộc lựclượng vũ trang của một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoài đặc trưng của cáctàu thuyền quân sự thuộc quốc tịch nước đó; do một sĩ quan hải quân phục vụquốc gia đó chỉ huy, người chỉ huy này có tên trong danh sách các sĩ quan haytrong một tài liệu tương đương; và đoàn thủy thủ phải tuân theo các điều lệnhkỷ luật quân sự.

ĐIỀU 30. Tàu chiến không tuân thủcác luật và quy định của quốc gia ven biển

Nếu một tàu chiến không tôn trọng các luật và quy định củaquốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêucầu phải tuân thủ các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốcgia ven biển có thể đòi chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức.

ĐIỀU 31. Trách nhiệm của quốc gia màtàu mang cờ đối với hành động của một tàu chiến hay một tàu khác của Nhà nước

Quốc gia mà tàu mang cờ chịu trách nhiệm quốc tế về mọi tổnthất hoặc về mọi thiệt hại gây ra cho quốc gia ven biển do một tàu chiến hay bấtkỳ tàu thuyền nào khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại viphạm các luật và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qualãnh hải hay vi phạm các quy định của Công ước hoặc các quy tắc khác của phápluật quốc tế.

ĐIỀU 32. Các quyền miễn trừ của cáctàu chiến và các tàu khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại

Ngoài những ngoại lệ đã nêu ở Tiểu mục A và ở các Điều 30 và31, không một quy định nào của Công ước đụng chạm đến các quyền miễn trừ mà cáctàu chiến và các tàu khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mạiđược hưởng.

Mục 4. VÙNG TIẾP GIÁP

ĐIỀU 33. Vùng tiếp giáp

1. Trong một vùng tiếp giáp với lãnh hải của mình, gọi làvùng tiếp giáp, quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết, nhằm:

a) Ngăn ngừa những phạm vi đối với các luật và quy định hải quan,thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;

b) Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nóitrên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

2. Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từđường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải.

Phần III

EO BIỂN DÙNG CHO HÀNG HẢIQUỐC TẾ

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 34. Chế độ pháp lý của vùngnước các eo biển dùng cho hàng hải quốc tế

1. Chế độ đi qua các eo biển dùng cho hàng hải quốc tế màphần này quy định không ảnh hưởng gì về bất cứ phương diện nào khác đến chế độpháp lý của vùng nước các eo biển này, cũng như đến việc quốc gia ven eo biểnthực hiện chủ quyền hay quyền tài phán của mình ở các vùng nước ấy, ở đáy biểntương ứng và lòng đất dưới đáy biển, cũng như vùng trời ở trên các vùng nướcđó.

2. Các quốc gia ven eo biển thực hiện chủ quyền hay quyềntài phán của mình trong những điều kiện do các quy định của phần này và các quytắc khác của pháp luật quốc tế trù định.

ĐIỀU 35. Phạm vi áp dụng của phầnnày

Không một quy định nào của phần này được đụng chạm đến:

a) Nội thủy thuộc một eo biển, trừ khi việc vạch ra mộttuyến đường cơ sở thẳng theo đúng với phương pháp nói ở Điều 7 đã gộp vào trongnội thủy những vùng nước trước đây không được coi là nội thủy;

b) Chế độ pháp lý của các vùng nước nằm ngoài lãnh hải củacác quốc gia ven eo biển, dù chúng thuộc vùng quốc tế hay thuộc biển cả;

c) Chế độ pháp lý của các eo biển mà việc đi qua đã được quyđịnh toàn bộ hay từng phần trong các công ước quốc tế đặc biệt nhằm vào các eobiển này đã có từ lâu đời và vẫn đang có hiệu lực.

ĐIỀU 36. Các đường ở biển cả hayđường qua một vùng đặc quyền kinh tế nằm trong các eo biển dùng cho hàng hảiquốc tế.

Phần này không áp dụng đối với các eo biển dùng cho hàng hảiquốc tế, nếu như có thể vượt qua eo biển đó bằng một con đường ở biển cả haymột con đường qua một vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiện như thế về phươngdiện hàng hải và về các đặc điểm thủy văn; về các con đường này, những phầnkhác tương ứng của công ước có thể được áp dụng, kể cả các quy định liên quanđến tự do hàng hải và tự do hàng không.

Mục 2. QUÁ CẢNH

ĐIỀU 37. Phạm vi áp dụng của mục này

Mục này được áp dụng đối với các eo biển dùng cho hàng hảiquốc tế giữa một bộ phận của biển cả hoặc một vùng đặc quyền về kinh tế và giữamột bộ phận khác của biển cả hoặc một vùng đặc quyền về kinh tế.

ĐIỀU 38. Quyền quá cảnh

1. Trong các eo biển nói ở Điều 37, tất cả các tàu thuyền vàphương tiện bay đều được hưởng quyền quá cảnh mà không bị cản trở, trừ trườnghợp hạn chế là quyền đó không được áp dụng cho các eo biển do lãnh thổ đất liềncủa một quốc gia và một hòn đảo thuộc quốc gia này tạo thành, khi ở ngoài khơihòn đảo đó có một con đường đi trên biển cả, hay có một con đường đi qua mộtvùng đặc quyền về kinh tế cũng thuận tiện như thế về phương diện hàng hải và vềcác đặc điểm thủy văn.

2. Thuật ngữ “quá cảnh” có nghĩa là việc thực hiện, theođúng phần này, quyền tự do hàng hải và hàng không với mục đích duy nhất là điqua liên tục và nhanh chóng qua eo biển giữa một bộ phận của biển cả hoặc mộtvùng đặc quyền về kinh tế và một bộ phận khác của biển cả hoặc một vùng đặcquyền về kinh tế. Tuy nhiên, đòi hỏi quá cảnh liên tục và nhanh chóng khôngngăn cấm việc đi qua eo biển để đến lãnh thổ của một quốc gia ven eo biển, đềrời khỏi hoặc lại đến lãnh thổ đó, theo các điều kiện cho phép đến lãnh thổ củaquốc gia đó.

3. Bất kỳ hoạt động nào không thuộc phạm vi thực hiện quyềnquá cảnh qua các eo biển đều tùy thuộc vào các quy định khác có thể áp dụng củaCông ước.

ĐIỀU 39. Các nghĩa vụ của tàu thuyềnvà phương tiện bay trong khi quá cảnh

1. Trong khi thực hiện quyền quá cảnh, các tàu thuyền vàphương tiện bay:

a) Đi qua hay bay qua eo biển không chậm trễ;

b) Không được đe dọa hay dùng vũ lực để chống lại chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của các quốc gia ven eo biển hay dùngmọi cách khác trái với các nguyên tắc pháp luật quốc tế được nêu trong Hiếnchương Liên hợp quốc;

c) Không được có hoạt động nào khác ngoài những hoạt động cầncho sự quá cảnh liên tục và nhanh chóng, theo phương thức đi bình thường, trừtrường hợp bất khả kháng hoặc trừ trường hợp nguy cấp;

d) Tuân thủ các quy định thích hợp khác của phần này.

2. Trong khi quá cảnh các tàu thuyền tuân thủ:

a) Các quy định, thủ tục và tập quán quốc tế đã được chấpnhận chung về mặt an toàn hàng hải, nhất là các quy tắc quốc tế để phòng ngừađâm va trên biển;

b) Các quy định, thủ tục và tập quán quốc tế đã được chấpnhận chung nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do các tàu thuyền gây ra.

3. Trong khi quá cảnh, các phương tiện bay:

a) Tôn trọng các quy định về hàng không do Tổ chức hàngkhông dân dụng quốc tế đề ra để áp dụng cho các phương tiện bay dân dụng; bìnhthường các phương tiện bay của Nhà nước phải tuân thủ các biện pháp an toàn docác quy định này đề ra và khi hoạt động vào bất kỳ lúc nào, các phương tiện baycũng phải chú ý đến an toàn hàng không.

b) Thường xuyên theo dõi tần số điện đài mà cơ quan có thẩmquyền được quốc tế chỉ định làm nhiệm vụ kiểm soát giao thông hàng không đãphân bổ cho, hoặc tần số quốc tế về nguy cấp.

ĐIỀU 40. Nghiên cứu và đo đạc thủyvăn

Trong khi quá cảnh, các tàu thuyền nước ngoài, kể cả các tàuthuyền chuyên dùng cho nghiên cứu khoa học biển hay cho đo đạc thủy văn, khôngđược dùng để nghiên cứu hoặc đo đạc nếu không được phép trước của các quốc giaven eo biển.

ĐIỀU 41. Các tuyến đường và các cáchbố trí phân chia luồng giao thông trong các eo biển dùng cho hàng hải quốc tế

1. Theo đúng phần này, các quốc gia ven eo biển khi có nhucầu bảo đảm an toàn cho tàu thuyền đi qua các eo biển, có thể ấn định các tuyếnđường và quy định các cách phân chia luồng giao thông.

2. Các quốc gia nói trên, khi hoàn cảnh đòi hỏi và sau khiđã công bố theo đúng thủ tục biện pháp này, có thể ấn định các tuyến đường mới hayquy định các cách mới phân chia luồng giao thông thay thế mọi tuyến đường haymọi cách phân chia luồng giao thông đã được ấn định hay quy định trước đó.

3. Các tuyến đường và cách bố trí phân chia luồng giao thôngcần phải phù hợp với quy định quốc tế đã được chấp nhận chung.

4. Trước khi ấn định hay thay thế các tuyến đường hoặc trướckhi quy định hay thay thế các cách phân chia luồng giao thông, các quốc gia veneo biển gửi các đề nghị của mình cho tổ chức quốc tế có thẩm quyền thông qua.Tổ chức này chỉ có thể chấp nhận các tuyến đường và cách phân chia luồng giaothông nào đã có thể thỏa thuận với các quốc gia ven eo biển; khi đó, các quốcgia này có thể ấn định, quy định hoặc thay thế các tuyến đường và các cách phânchia luồng giao thông này.

5. Khi đề nghị thiết lập trong một eo biển các tuyến đườnghay cách phân chia luồng giao thông có liên quan đến vùng nước của nhiều quốcgia ven eo biển, các quốc gia hữu quan hợp tác với nhau để soạn thảo các đềnghị, có sự tham khảo ý kiến của tổ chức quốc tế có thẩm quyền.

6. Các quốc gia ven eo biển ghi rõ ràng lên các hải đồ tấtcả các tuyến đường hay tất cả các cách phân chia luồng giao thông mà mình đãthiết lập và công bố các hải đồ này theo đúng thủ tục.

7. Trong khi quá cảnh, tàu thuyền tôn trọng các tuyến đường vàcác cách phân chia luồng giao thông đã được thiết lập theo đúng điều này.

ĐIỀU 42. Các luật và quy định củaquốc gia ven eo biển liên quan đến việc quá cảnh

1. Với điều kiện chấp hành mục này, các quốc gia ven eo biểncó thể ra các luật và quy định liên quan đến việc đi qua eo biển về các vấn đềsau:

a) An toàn hàng hải và điều phối giao thông trên biển như đãđược nêu ở Điều 41;

b) Ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường, bằng cáchthi hành quy định quốc tế có thể áp dụng được về việc trút bỏ dầu, cặn dầu vàcác chất độc hại trong eo biển;

c) Việc cấm đánh bắt hải sản đối với các tàu đánh bắt hảisản; kể cả quy định việc xếp đặt các phương tiện đánh bắt;

d) Xếp, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàutrái với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư của quốcgia ven eo biển.

2. Các luật và quy định này không được dẫn đến bất kỳ một sựphân biệt đối xử nào về mặt pháp lý hay về mặt thực tế giữa các tàu thuyền nướcngoài, việc áp dụng các luật và quy định này không được có tác dụng ngăn cản,hạn chế hay gây trở ngại cho việc thực hiện quyền quá cảnh như đã được xác địnhtrong mục này.

3. Các quốc gia ven eo biển công bổ những luật và quy địnhnày theo đúng thủ tục.

4. Các tàu thuyền nước ngoài khi thực hiện quyền quá cảnhqua eo biển phải tuân thủ các luật và quy định này.

5. Trong trường hợp một tàu hay một phương tiện bay được hưởngquyền miễn trừ về chủ quyền vi phạm các luật và quy định này, quốc gia mà contàu mang cờ hay quốc gia đăng ký phương tiện bay phải chịu trách nhiệm quốc tếvề mọi tổn thất hay thiệt hại có thể gây ra cho eo biển.

ĐIỀU 43. Các thiết bị an toàn, bảođảm hàng hải và các thiết bị khác, và việc ngăn ngừa hạn chế, chế ngự ô nhiễmmôi trường

Các quốc gia sử dụng một eo biển và các quốc gia ven eo biểncần thỏa thuận hợp tác với nhau để:

a) Thiết lập và bảo dường các thiết bị an toàn và bảo đảmhàng hải cần thiết cũng như các thiết bị khác đặt trong eo biển dùng để làm dễdàng cho hàng hải quốc tế, và

b) Ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự nạn ô nhiễm do tàu thuyềngây ra.

ĐIỀU 44. Các nghĩa vụ của các quốcgia ven eo biển

Các quốc gia ven eo biển không được gây trở ngại cho việcquá cảnh và phải thông báo đầy đủ và mọi nguy hiểm đối với hàng hải trong eobiển hoặc đối với việc bay trên eo biển mà các quốc gia này nắm được. Việc thựchiện quyền quá cảnh không thể bị đình chỉ.

Mục 3. ĐI QUA KHÔNG GÂY HẠI

ĐIỀU 45. Đi qua không gây hại

1. Chế độ đi qua không gây hại được nêu ở Mục 3 của phần IIđược áp dụng trong các eo biển dùng cho hàng hải quốc tế:

a) Nằm ngoài phạm vi áp dụng của chế độ quá cảnh theo Điều38, khoản 1; hoặc

b) Nối liền lãnh hải của một quốc gia với một bộ phận củabiển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia khác.

2. Việc thực hiện quyền đi qua không gây hại trong các eobiển không thể bị đình chỉ.

Phần IV

CÁC QUỐC GIA QUẦN ĐẢO

ĐIỀU 46. Sử dụng các thuật ngữ

Trong công ước:

a) “Quốc gia quần đảo” (Etat Archipel) là một quốcgia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một sốhòn đảo khác nữa.

b) “Quần đảo” (Archipel) là một tổng thể các đảo, kểcả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên kháccó liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địalý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử.

ĐIỀU 47. Đường cơ sở quần đảo

1. Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳngcủa quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúcchìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấycác đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kểcả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1.

2. Chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hảilý; tuy nhiên có thể tối đa 3% của tổng số các đường cơ sở bao quanh một quầnđảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng không quá 125 hải lý.

3. Tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đườngbao quanh chung của quần đảo.

4. Các đường cơ sở không thể kéo dến hay xuất phát từ cácbãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay cácthiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt biển hoặc trừ trường hợp toàn bộhay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quáchiều rộng lãnh hải.

5. Một quốc gia quần đảo không được áp dụng phương pháp kẻcác đường cơ sở khiến cho các lãnh hải của một quốc gia khác bị tách rời vớibiển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế.

6. Nếu một phần của vùng nước quần đảo của một quốc gia quầnđảo nằm giữa hai mảnh lãnh thổ của một quốc gia kế cận, thì các thuyền và mọilợi ích chính đáng mà quốc gia kế cận này vẫn được hưởng theo truyền thống ởtrong các vùng nước nói trên, cũng như tất cả các quyền nảy sinh từ các điềuước được ký kết giữa hai quốc gia, vẫn tồn tại và vẫn được tôn trọng.

7. Để tính toán tỷ lệ diện tích các vùng nước so với diệntích phần đất đã nêu ở khoản 1, các vùng nước trên trong các bãi đá ngầm baoquanh các đảo và vành đai san hô, cũng như mọi phần của một nền đại dương cósườn dốc đất đứng, hoàn toàn hay gần như hoàn toàn do một chuỗi đảo đá vôi hay mộtchuỗi các mỏm đá lúc chìm lúc nổi bao quanh, có thể được coi như là một bộ phậncủa đất.

8. Các đường cơ sở được vạch ra theo đúng điều này phải đượcghi trên hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí. Bản kê tọa độ địalý của các điểm, có ghi rõ hệ thống trắc địa được sử dụng có thể thay thế chocác bản đồ này.

9. Quốc gia quần đảo công bố theo đúng thủ tục các bản đồhoặc bảng liệt kê tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản đểlưu chiểu.

ĐIỀU 48. Đo chiều rộng lãnh hải, vùngtiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa

Chiều rộng của lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền vềkinh tế và thềm lục địa được tính từ cách đường cơ sở quần đảo theo đúng Điều47.

ĐIỀU 49. Chế độ pháp lý của các vùngnước quần đảo và vùng trời ở trên cũng như đáy biển tương ứng và lòng đất dướiđáy biển đó

1. Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước ở phíatrong đường cơ sở quần đảo được vạch ra theo đúng Điều 47, được gọi là vùngnước quần đảo (eaux archipélagiques), bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ củachúng thế nào.

2. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên vùng nước quầnđảo, cũng như đến đáy vùng nước đó và lòng đất tương ứng và đến các tài nguyên ởđó.

3. Chủ quyền này được thực hiện theo các điều kiện nêu trongphần này.

4. Chế độ đi qua vùng nước quần đảo do phần này quy định khôngđụng chạm về bất kỳ một phương diện nào khác đến chế độ pháp lý của vùng nướcquần đảo, kể cả các đường hàng hải, đến việc quốc gia quần đảo thực hiện chủquyền của mình ở vùng nước đó, ở vùng trời phía trên, đáy nước vùng đó và lòngđất tương ứng cũng như đối với các tài nguyên ở đó.

ĐIỀU 50. Hoạch định ranh giới nội thủy

Ở phía trong vùng nước quần đảo, quốc gia quần đảo có thể vạchnhững đường khép kín để hoạch định ranh giới nội thủy của mình theo đúng cácĐiều 9, 10, và 11.

ĐIỀU 51. Các điều ước hiện hành, cácquyền đánh bắt hải sản truyền thống và các dây cáp ngầm đã được lắp đặt

1. Không phương hại đến Điều 49, các quốc gia quần đảo tôntrọng các điều ước hiện hành đã được ký kết với các quốc gia khác và thừa nhậncác quyền đánh bắt hải sản truyền thống và những hoạt động chính đáng của nhữngquốc gia kế cận trong một số khu vực thuộc vùng nước quần đảo và quốc gia quầnđảo. Các điều kiện và thể thức thực hiện các quyền và các hoạt động này, kể cảtính chất, phạm vi của chúng và cả khu vực thực hiện các quyền và các hoạt độngnói trên, được xác định theo yêu cầu của bất cứ quốc gia nào trong các quốc giahữu quan qua các điều ước tay đôi được ký kết giữa các quốc gia đó. Các quyền nàykhông được chuyển nhượng hay chia sẻ cho quốc gia thứ ba hay cho các công dâncủa các quốc gia ấy.

2. Các quốc gia quần đảo tôn trọng các dây cáp ngầm hiện cócủa những quốc gia khác đặt và đi quan vùng nước của quốc gia quần đảo mà khôngđụng đến bờ biển của mình. Các quốc gia quần đảo cho phép bảo dưỡng và thay thếcác đường dây cáp này sau khi họ đã được thông báo trước về vị trí của chúng vàvề những công việc bảo dưỡng hay thay thế dự định tiến hành.

ĐIỀU 52. Quyền đi qua không gây hại

1. Với điều kiện tuân thủ Điều 53 và không phương hại đếnĐiều 50, tàu thuyền của tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền đi qua khônggây hại trong vùng nước quần đảo đã được quy định ở Mục 3 phần II.

2. Quốc gia quần đảo có thể tạm thời đình chỉ việc đi quakhông gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong các khu vực nhất định thuộc vùngnước quần đảo của mình, nếu biện pháp này là cần thiết để đảm bảo an ninh củanước mình, nhưng không có sự phân biệt đối xử nào về mặt pháp lý hay về mặtthực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực saukhi đã được công bố theo đúng thủ tục.

ĐIỀU 53. Quyền đi qua vùng nước quầnđảo

1. Trong các vùng nước quần đảo và lãnh hải tiếp liền, quốcgia quần đảo có thể ấn định các đường hàng hải và các đường hàng không ở vùngtrời phía trên các đường này để các tàu thuyền và phương tiện bay nước ngoàiđược đi qua nhanh chóng và liên tục.

2. Tất cả các tàu thuyền và phương tiện bay được hưởng quyềnđi qua quần đảo theo các tuyến đường hàng hải và các đường hàng không đó.

3. “Đi qua vùng nước quần đảo” là việc các tàu thuyền vàphương tiện bay thực hiện không bị cản trở, theo phương thức hàng hải, hàng khôngbình thường và theo đúng Công ước, các quyền hàng hải và hàng không của mình,với mục đích duy nhất là quá cảnh liên tục và nhanh chóng giữa một điểm củabiển cả hay một vùng đặc quyền kinh tế.

4. Các đường hàng hải và các đường hàng không đi qua các vùngnước quần đảo và lãnh hải tiếp liền hoặc vùng trời phía trên phải bao gồm tấtcả các con đường thường dùng cho hàng hải quốc tế trong vùng nước quần đảo vàvùng trời phía trên; các đường hàng hải cần theo đúng tất cả các luồng lạchthường dùng cho hàng hải, tất nhiên, không cần phải thiết lập nhiều con đườngthuận tiện như nhau giữa một điểm vào và một điểm ra nào đó.

5. Các đường hàng hải và hàng không này được xác định quahàng loạt các đường trục liên tục nối liền các điểm vào với các điểm ra của chúng.Trong quá trình đi qua các tàu thuyền và phương tiện bay không được đi chệchcác đường trục này quá 25 hải lý, tất nhiên, các tàu thuyền và phương tiện baynày không được đi cách bờ một khoảng cách dưới 1/10 khoảng cách giữa những điểmgần nhất của các đảo nằm dọc theo một con đường.

6. Quốc gia quần đảo khi ấn định các đường hàng hải theo đúngđiều này cũng có thể quy định các cách phân chia luồng giao thông nhằm bảo đảman toàn cho các tàu thuyền sử dụng các luồng lạch hẹp ở bên trong các con đườngnày.

7. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, quốc gia quần đảo, sau khi đã côngbố theo đúng thủ tục, có thể ấn định những đường hàng hải mới hay quy định cáchbố trí phân chia luồng giao thông mới để thay thế cho mọi con đường hay mọicách phân chia luồng giao thông do quốc gia đó đã thiết lập từ trước.

8. Các đường hàng hải và cách phân chia luồng giao thông đóphải phù hợp với quy định quốc tế được chấp nhận chung.

9. Khi ấn định hay thay thế các đường hàng hải hoặc khi quyđịnh hay khi thay thế các cách bố trí phân luồng giao thông, quốc gia quần đảogửi các đề nghị của mình cho tổ chức quốc tế có thẩm quyền để được chấp nhận.Tổ chức quốc tế này chỉ có thể được chấp thuận các đường hàng hải và các cách bốtrí phân chia luồng giao thông mà họ đã có thể thỏa thuận với quốc gia quầnđảo; khi đó, quốc gia quần đảo có thể ấn định, quy định hay thay thế các đườnghàng hải và các cách phân chia luồng giao thông đó.

10. Quốc gia quần đảo ghi rõ ràng lên các hải đồ được côngbố theo đúng thủ tục các đường trục của các đường hàng hải mà quốc gia đó ấnđịnh và các cách phân chia luồng giao thông mà quốc gia đó quy định.

11. Khi đi qua vùng quần đảo, các tàu thuyền tôn trọng cácđường hàng hải và các cách chia phân luồng giao thông được thiết lập theo đúngđiều này.

12. Nếu quốc gia quần đảo không ấn định các đường hàng hảihay các đường hàng không thì quyền đi qua vùng nước quần đảo có thể thực hiệnbằng cách sử dụng các con đường thường dùng cho hàng hải và hàng không quốc tế.

ĐIỀU 54. Các nghĩa vụ của tàu thuyềnvà phương tiện bay trong khi đi qua, nghiên cứu và đo đạc thủy văn, các nghĩavụ của quốc gia quần đảo, các luật và quy định của quốc gia quần đảo liên quanđến việc đi qua quần đảo

Các Điều 39, 40, 42, 44 được áp dụng Mutatis mutandis (vớinhững thay đổi cần thiết về chi tiết) cho việc đi qua vùng quần đảo.

Phần V

VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ

ĐIỀU 55. Chế độ pháp lý riêng củavùng đặc quyền về kinh tế

Vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnhhải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trongphần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và cácquyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ướcđiều chỉnh.

ĐIỀU 56. Các quyền, quyền tài phánvà các nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền về kinh tế

1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có:

a) Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảotồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, củavùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như vềnhững hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế,như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.

b) Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp củaCông ước về việc:

i. Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và côngtrình;

ii. Nghiên cứu khoa học về biển;

iii. Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

c) Các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định.

2. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, khi thực hiện các quyền vàlàm các nghĩa vụ của mình theo Công ước, quốc gia ven biển phải tính đến cácquyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác và hành động phù hợp với Công ước.

3. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáybiển nêu trong điều này được thực hiện theo đúng phần VI.

ĐIỀU 57. Chiều rộng của vùng đặcquyền về kinh tế

Vùng đặc quyền về kinh tế không được mở rộng ra quá 200 hải lýkể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

ĐIỀU 58. Các quyền và các nghĩa vụcủa các quốc gia khác trong vùng đặc quyền về kinh tế

1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù cóbiển hay không có biển, trong những điều kiện trong những quy định thích hợpcủa Công ước trù định, được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyềntự do đặt dây cáp ngầm nêu ở Điều 87, cũng như quyền tự do sử dụng biển vàonhững mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện cácquyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là nhữngkhuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫnngầm.

2. Các Điều từ 88 đến 115, cũng như các quy tắc thích hợpkhác của pháp luật quốc tế, được áp dụng ở vùng đặc quyền kinh tế trong chừngmực mà chúng không mâu thuẫn với phần này.

3. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, khi thực hiện các quyền vàlàm các nghĩa vụ của mình theo Công ước, các quốc gia phải tính đến các quyềnvà các nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tôn trọng các luật và quy định mà quốcgia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của Công ước và trong chừng mựcmà các luật và quy định đó không mâu thuẫn với phần này và với các quy tắc kháccủa pháp luật quốc tế.

ĐIỀU 59. Cơ sở giải quyết các tranhchấp trong trường hợp Công ước không quy định rõ các quyền và quyền tài phántrong vùng đặc quyền về kinh tế

Trong những trường hợp Công ước không quy định rõ các quyềnhay quyền tài phán trong các vùng đặc quyền về kinh tế cho quốc gia ven biểnhay cho các quốc gia khác và ở đó có xung đột giữa lợi ích của quốc gia venbiển với lợi ích của một hay nhiều quốc khác thì sự xung đột này phải được giảiquyết trên cơ sở công bằng và có chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng, cótính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan đó đối với các bên tranhchấp và đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế.

ĐIỀU 60. Các đảo nhân tạo, thiết bịvà công trình trong vùng đặc quyền về kinh tế

1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có đặcquyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sửdụng:

a) Các đảo nhân tạo;

b) Các thiết bị và công trình dùng vào các mục đích được trùđịnh ở Điều 56 hoặc các mục đích kinh tế khác;

c) Các thiết bị và công trình có thể gây trở ngại cho việcthực hiện các quyền của quốc gia ven biển trong vùng.

2. Quốc gia ven biển có quyền tài phán đặc biệt đối với cácđảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình đó, kể cả về mặt các luật và quyđịnh hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh và nhập cư.

3. Việc xây dựng các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình đóphải được thông báo theo đúng thủ tục, và việc duy trì các phương tiện thườngtrực để báo hiệu sự có mặt của các đảo, thiết bị và công trình nói trên cầnđược bảo đảm. Các thiết bị hay công trình đã bỏ hoặc không dùng đến nữa cầnđược tháo dỡ để đảm bảo an toàn hàng hải, có tính đến những quy phạm quốc tế đãđược chấp nhận chung do tổ chức quốc tế có thẩm quyền đặt ra về mặt đó. Khi tháodỡ phải tính đến việc đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển, các quyền vàcác nghĩa vụ của quốc gia khác. Cần thông báo thích đáng về vị trí, kích thướcvà độ sâu của những phần còn lại của một thiết bị hoặc công trình chưa đượctháo dỡ hoàn toàn.

4. Quốc gia ven biển, nếu cần, có thể lập ra xung quanh cácđảo nhân tạo, các thiết bị hoặc công trình đó những khu vực an toàn với kích thướchợp lý; trong các khu vực đó, quốc gia ven biển có thể áp dụng các biện phápthích hợp để bảo đảm an toàn hàng hải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo,các thiết bị và công trình đó.

5. Quốc gia ven biển ấn định chiều rộng của những khu vực antoàn có tính đến các quy phạm quốc tế có thể áp dụng được. Các khu vực an toànnày được xác định sao cho đáp ứng một cách hợp lý với tính chất và chức năngcủa các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trinh, và không thể mở rộng ramột khoảng cách quá 500m xung quanh các đảo nhân tạo, các thiết bị và các côngtrình, tính từ mỗi điểm của mép ngoài cùng của các đảo nhân tạo, thiết bị vàcác công trình dó, trừ ngoại lệ do các vi phạm của quốc tế đã được thừa nhậnchung cho phép hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền kiến nghị. Phạm vi của khuvực an toàn được thông báo theo đúng thủ tục.

6. Tất cả các tàu thuyền phải tôn trọng các khu vực an toànđó và tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận chung liên quan đến hànghải trong khu vực của các đảo nhân tạo, các thiết bị, các công trình và các khuvực an toàn.

7. Không được xây dựng những đảo nhân tạo, thiết bị hoặccông trình, không được thiết lập các khu vực an toàn xung quanh các đảo, thiếtbị, công trình đó khi việc đó có nguy cơ gây trở ngại cho việc sử dụng cácđường hàng hải đã được thừa nhận là thiết yếu cho hàng hải quốc tế.

8. Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình không đượchưởng quy chế của các đảo. Chúng không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúngkhông có tác động gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyềnvề kinh tế hoặc thềm lục địa.

ĐIỀU 61. Bảo tồn các nguồn lợi sinhvật

1. Quốc gia ven biển ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấpnhận được đối với các tài nguyên sinh vật ở trong vùng đặc quyền về kinh tế củamình.

2. Quốc gia ven biển dựa vào các số liệu khoa học đáng tincậy nhất mà mình có, thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lýnhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tếcủa mình khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức. Quốc gia ven biển và các tổchức quốc tế có thẩm quyền, các tổ chức phân khu vực, khu vực hay thế giới, hợptác với nhau một cách thích hợp để thực hiện mục đích này.

3. Các biện pháp đó cũng nhằm để duy trì hay khôi phục cácđàn (stocks) hải sản được khai thác ở mức bảo đảm đạt năng suất ổn dịnh tối đa,có tính đến các yếu tố sinh thái và kinh tế thích đáng, kể cả các nhu cầu kinhtế của tập thể ven bờ sống về nghề đánh bắt hải sản và các nhu cầu riêng củacác quốc gia đang phát triển, và có tính dến các phương thức đánh bắt, đến quanhệ hỗ tương giữa các đàn (stocks) và đến tất cả các quy phạm quốc tế tối thiểuthường được kiến nghị ở cấp phân khu vực, khu vực hay thế giới.

4. Khi áp dụng các biện pháp đó, quốc gia ven biển chú ý đếntác động của chúng đối với các loài quần hợp với các loài được khai thác hoặcphụ thuộc vào các loài đó để duy trì hoặc khôi phục các đàn (stocks) của nhữngloài quần hợp hay phụ thuộc này ở một mức độ làm việc sinh sản của chúng khỏinguy cơ bị tổn hại nghiêm trọng.

5. Các thông tin khoa học có thể sử dụng, các số liệu thốngkê liên quan đến việc đánh bắt và đến sức đánh bắt và các số liệu khác liênquan đến việc bảo tồn các đàn (stocks) cá được phổ biến và trao đổi đều đặn quatrung gian của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các tổ chức phân khu vực hoặcthế giới và khi có điều kiện thì tiến hành với sự tham gia của tất cả các quốcgia hữu quan, nhất là các quốc gia có công dân được phép đánh bắt trong vùngđặc quyền về kinh tế.

ĐIỀU 62. Khai thác tài nguyên sinhvật

1. Quốc gia ven biển xác định mục tiêu là tạo điều kiệnthuận lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyềnvề kinh tế mà không phương hại đến Điều 61.

2. Quốc gia ven biển xác định khả năng của mình trong việckhai thác các tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền về kinh tế. Nếu khả năngkhai thác đó thấp hơn tổng khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận thì quốc giaven biển cho phép các quốc gia khác, qua điều ước hoặc các thỏa thuận khác vàtheo đúng các thể thức, điều kiên, các luật và quy định nói ở khoản 4, khaithác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt; khi làm như vậy, cần đặc biệt quantâm đến các Điều 69 và 70 nhất là quan tâm đến các quốc gia đang phát triển nóitrong các điều đó.

3. Khi đồng ý cho các quốc gia khác vào hoạt động trong vùngđặc quyền về kinh tế của mình theo điều này, quốc gia ven biển tính đến tất cảcác yếu tố thích đáng, trong đó có: tấm quan trọng của các tài nguyên sinh vậtthuộc khu vực đối với nền kinh tế và đối với các lợi ích quốc gia khác của nướcmình; các Điều 69 và 70, các nhu cầu của các quốc gia đang phát triển trong khuvực hay phân khu vực về vấn đề khai thác một phần của số dư, và sự cần thiếtphải giảm bớt đến mức tối thiểu những rối loạn kinh tế trong các quốc gia nàocó những công dân thường đánh bắt hải sản ở trong khu vực hoặc đã đóng gópnhiều vào công tác tìm kiếm và thống kê các đàn (stocks) hải sản.

4. Công dân của các quốc gia khác khi tiến hành đánh bắttrong vùng đặc quyền về kinh tế phải tuân thủ theo các biện pháp bảo tồn và cácthể thức, các điều kiện khác được đề ra trong các luật và quy định của quốc giaven biển. Các luật và quy định đó phải phù hợp với Công ước và đặc biệt có thể đềcập các vấn đề sau đây:

a) Việc cấp giấy phép cho ngư dân hay tàu thuyền và phươngtiện đánh bắt, kể cả việc nộp thuế hay mọi khoản phải trả khác, trong trườnghợp đối với các quốc gia ven biển đang phát triển, có thể là một sự đóng gópthích đáng vào ngân sách, vào việc trang bị và vào sự phát triển kỹ thuật củacông nghiệp đánh bắt hải sản;

b) Chỉ rõ các chủng loại cho phép đánh bắt và ấn định tỉ lệphần trăm, hoặc là đối với các đàn (stocks) hay các nhóm đàn hải sản riêng biệthoặc đối với số lượng đánh bắt của từng chiếc tàu trong một khoảng thời giannhất định, hoặc là đối với số lượng đánh bắt của các công dân của một quốc giatrong một thời kỳ nhất định;

c) Quy định các mùa vụ và các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ vàsố lượng các phương tiện đánh bắt, cũng như kiểu, cỡ và số lượng tàu thuyềnđánh bắt có thể được sử dụng;

d) Ấn định tuổi và cỡ cá và các sinh vật khác có thể đượcđánh bắt;

e) Các thông tin mà tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặcbiệt là những số liệu thống kê liên quan đến việc đánh bắt và sức đánh bắt vàthông báo vị trí cho các tàu thuyền;

f) Nghĩa vụ tiến hành, với sự cho phép và dưới sự kiểm soátcủa quốc gia ven biển, các chương trình nghiên cứu này, kể cả việc lấy mẫu cácthứ đánh bắt được, nơi nhận các mẫu và việc thông báo các số liệu khoa học cóliên quan;

g) Việc quốc gia ven biển đặt các quan sát viên hay thực tậpsinh trên các tàu thuyền đó;

h) Bốc dỡ toàn bộ hay một phần các sản phẩm đánh bắt đượccủa các tàu thuyền đó ở các cảng của quốc gia ven biển;

i) Các thể thức và điều kiện liên quan đến các xí nghiệpliên doanh hoặc các hình thức hợp tác khác;

j) Các điều kiện cần thiết về mặt đào tạo nhân viên, vềchuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực đánh bắt hải sản, kể cả việc đẩy mạnh khảnăng nghiên cứu nghề cá của quốc gia ven biển;

k) Các biện pháp thi hành.

5. Quốc gia ven biển phải thông báo theo đúng thủ tục cácluật và quy định mà mình ban hành về mặt bảo tồn quản lý.

ĐIỀU 63. Các đàn cá (stocks) ở trongvùng độc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia ven biển hoặc đồng thời ở trongvùng đặc quyền về kinh tế và trong một khu vực tiếp liền với vùng đặc quyền vềkinh tế

1. Khi cùng một đàn (stocks) cá hoặc những đàn (stocks) cácloài quần hợp ở trong vùng đặc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia ven biển,các quốc gia này cố gắng, trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức phânkhu vực hay khu vực thích hợp, thỏa thuận với nhau về các biện pháp cần thiếtnhằm phối hợp hoặc bảo đảm việc bảo tồn và phát triển các đàn cá đó mà khôngphương hại đến các quy định khác của phần này.

2. Khi cùng một đàn cá hoặc những đàn các loài quần hợp đồngthời ở trong vùng đặc quyền về kinh tế và ở trong một khu vực tiếp liền với vùngđó, quốc gia ven biển và các quốc gia khác khai thác các đàn này ở trong khuvực tiếp liền cố gắng trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức phân khuvực hay khu vực thích hợp, thỏa thuận với nhau về các biện pháp cần thiết đểbảo tồn các đàn cá này trong khu vực tiếp liền.

ĐIỀU 64. Các loài cá di cư xa(Grands migranteurs)

1. Quốc gia ven biển và các quốc gia khác có công dân chuyênđánh bắt trong khu vực những loài cá di cư xa ghi ở bảng danh mục của Phụ lụcI, cần trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức quốc tế thích hợp, hợp tácvới nhau nhằm bảo đảm việc bảo tồn các loài cá nói trên và đẩy mạnh việc khaithác tối ưu các loài cá đó trong toàn bộ khu vực, ở trong cũng như ở ngoài vùngđặc quyền về kinh tế. Trong những khu vực không có tổ chức quốc tế thích hợp,thì quốc gia ven biển và các quốc gia khác có công dân khai thác các loài cá đótrong khu vực, hợp tác với nhau để lập ra một tổ chức như thế và tham gia vàokhu vực của tổ chức này.

2. Khoản 1 được áp dụng thêm vào các quy định khác của phầnnày.

ĐIỀU 65. Loài có vú ở biển(Mammiferes marins)

Không một quy định nào của phần này hạn chế quyền của mộtquốc gia ven biển cấm, hạn chế hay quy định việc khai thác các loài có vú ởbiển chặt chẽ hơn những quy định của phần này, cũng như hạn chế thẩm quyền củamột tổ chức quốc tế về việc này nếu có. Các quốc gia hợp tác với nhau nhằm bảođảm việc bảo vệ các loài có vú ở biển và đặc biệt là qua trung gian của các tổchức quốc tế thích hợp, tìm mọi cách để bảo vệ, quản lý và nghiên cứu loài cávoi.

ĐIỀU 66. Các đàn cá vào sông sinhsản (Stocks de poissons anadromes)

1. Các quốc gia có các dòng sông mà ở đó các đàn cá(Poissons anadromes) vào sinh sản là những nước đầu tiên phải quan tâm đến cácđàn cá này và phải chịu trách nhiệm trước hết về loại cá này.

2. Quốc gia nguồn gốc của các đàn cá vào sông sinh sản cầnchăm lo đến việc bảo tồn các đàn cá đó bằng việc thi hành những biện pháp thíchhợp quy định việc đánh bắt trong tất cả các vùng nước nằm bên trong ranh giớingoài của vùng đặc quyền về kinh tế, cũng như việc đánh bắt nói ở khoản 3, điểm

b. Quốc gia nguồn gốc có thể xác định tổng số được phép đánhbắt các loài cá được sinh sản ra từ các dòng sông của họ, sau khi đã tham khảocác quốc gia nói trong các khoản 3 và 4 đang khai thác các đàn cá đó.

3. a) Chỉ có thể đánh bắt các đàn cá vào sông sinh sản trongcác vùng nước nằm bên trong ranh giới ngoài của các vùng đặc quyền về kinh tế,trừ các trường hợp mà việc áp dụng quy định này có thể dẫn đến những rối loạnkinh tế cho một quốc gia không phải là quốc gia nguồn gốc. Đối với việc đánhbắt bên ngoài ranh giới phía ngoài của các vùng đặc quyền về kinh tế, các quốcgia hữu quan cần tham khảo ý kiến của nhau để thỏa thuậ về các thể thức và điềukiện của việc đánh bắt này, nhưng phải tính đến các đòi hỏi của việc bảo tồn vàcác nhu cầu của quốc gia nguồn gốc về đàn (stoscks) cá đó.

b) Quốc gia nguồn gốc góp phần giảm bớt đến mức tối thiểunhững rối loạn về kinh tế trong các quốc gia khác đang tiến hành khai thác cácloài cá này bằng cách tính đến việc đánh bắt bình thường của các quốc gia nàyvà đến các cách mà họ khai thác đàn cá đó, cũng như đến tất cả các khu vực màcác đàn cá đó được khai thác.

c) Các quốc gia nói ở điểm b tham gia qua sự thỏa thuận vớicác quốc gia nguồn gốc, vào những biện pháp bảo đảm khôi phục các đàn cá vào sôngsinh sản, đặc biệt là bằng cách đóng góp tài chính cho các biện pháp này; cácquốc gia đó được quốc gia nguồn gốc quan tâm đặc biệt trong việc khai thác cácloài cá được sinh sản ra từ các dòng sông của mình.

d) Việc áp dụng quy định liên quan đến các đàn cá vào sôngsinh sản ở ngoài vùng đặc quyền về kinh tế được bảo đảm qua sự thỏa thuận giữaquốc gia nguồn gốc và các quốc gia hữu quan khác.

4. Khi các đàn cá vào sông sinh sản di cư đến các vùng nướchoặc đi qua các vùng nước nằm bên trong ranh giới ngoài của vùng đặc quyền vềkinh tế của một quốc gia không phải là quốc gia nguồn gốc, quốc gia này hợp tácvới quốc gia nguồn gốc nhằm bảo tồn và quản lý các đàn cá đó.

5. Quốc gia nguồn gốc của các đàn cá vào sông sinh sản vàcác quốc gia khác đánh bắt cá này ký kết các thỏa thuận nhằm áp dụng điều này,nếu có thể được thì qua trung gian của các tổ chức khu vực.

ĐIỀU 67. Các loài cá ra biển sinhsản (espèces catadromes)

1. Một quốc gia ven biển mà trong vùng nước của mình loài cára biển sinh sản sống phần lớn cuộc đời của chúng chịu trách nhiệm quản lý chúngvà chăm lo đến việc các loài cá này vào hoặc ra khỏi vùng nước đó.

2. Chỉ được khai thác các loài cá ra biển sinh sản trongnhững vùng nước bên trong các ranh giới ngoài của các vùng đặc quyền về kinhtế. Trong các vùng đặc quyền về kinh tế, việc khai thác được tiến hành theođiều này và các quy định khác của Công ước liên quan đến việc đánh bắt trongcác vùng này.

3. Trong những trường hợp mà các loài cá ra biển sinh sản,dù đã đến hay chưa đến thời kỳ sinh sản, di cư qua vùng đặc quyền về kinh tếcủa một quốc gia khác thì việc quản lý các loài cá này, kể cả việc khai thác,được quy định qua thỏa thuận giữa quốc gia nói ở khoản 1 và quốc gia hữu quankia. Thỏa thuận này cần được bảo đảm việc quản lý hợp lý các loài cá được xemxét và có tính đến trách nhiệm của quốc gia nói ở khoản 1 về việc bảo tồn cácloài này.

ĐIỀU 68. Các loài định cư (espècessédentaires)

Phần này không áp dụng đối với các loài định cư, như đã đượcquy định ở Điều 77, khoản 4.

ĐIỀU 69. Quyền của các quốc giakhông có biển

1. Một quốc gia không có biển có quyền tham gia, theo mộtthể thức công bằng, khai thác một phần thích hợp số dư các tài nguyên sinh vật củacác vùng đặc quyền về kinh tế của các quốc gia ven biển trong cùng một phân khuvực hoặc khu vực, có tính đến các đặc điểm kinh tế và địa lý thích đáng của tấtcả các quốc gia hữu quan và theo đúng điều này và các Điều 61 và 62.

2. Các điều kiện và các thể thức của việc tham gia này đượccác quốc gia hữu quan ấn định thông qua thỏa thuận tay đôi, phân khu vực haykhu vực, đặc biệt tính đến:

a) Sự cần thiết phải tránh mọi động tác có hại cho cộng đồngnhững người đánh bắt hoặc cho công nghiệp đánh bắt của các quốc gia ven biển;

b) Mức độ quốc gia không có biển, theo đúng điều này, thamgia hoặc có quyền tham gia, theo các thỏa thuận tay đôi, phân phu vực hay khuvực hiện hành, vào việc khai thác các tài nguyên sinh vật của các vùng đặcquyền về kinh tế của các quốc gia ven biển khác;

c) Mức độ các quốc gia không có biển khác hoặc các quốc giabất lợi về địa lý tham gia vào việc khai thác các tài nguyên sinh vật của vùngđặc quyền về kinh tế cuả quốc gia ven biển và sự cần thiết tránh cho quốc giaven biển nào đó hoặc cho khu vực nào đó của quốc gia này một gánh nặng đặcbiệt;

d) Những nhu cầu thực phẩm của dân cư ở các quốc gia đượcxem xét.

3. Khi khả năng đánh bắt của một quốc gia ven biển cho phépmột mình quốc gia đó có thể đánh bắt được hầu như toàn bộ khối lượng đánh bắtcó thể chấp nhận, được ấn định cho việc khai thác các tài nguyên sinh vật trongvùng đặc quyền về kinh tế của mình thì quốc gia đó và các quốc gia hữu quankhác hợp tác với nhau để ký kết các thỏa thuận tay đôi, phân khu vực hoặc khu vựcmột cách công bằng cho phép các quốc gia đang phát triển không có biển trongcùng khu vực hay phân khu vực đó tham gia một cách thích hợp vào việc khai thácnhững tài nguyên sinh vật của các vùng đặc quyền về kinh tế của các quốc giaven biển thuộc phân khu vực hay khu vực, có tính đến các hoàn cảnh và điều kiệnthỏa đáng đối với tất cả các bên. Để áp dụng điều quy định này, cũng cần tínhđến các yếu tố đã nêu ở khoản 2.

4. Các quốc gia phát triển không có biển chỉ có quyền thamgia khai thác các tài nguyên sinh vật theo điều này, trong các vùng đặc quyềnvề kinh tế của các quốc gia ven biển phát triển ở trong cùng phân khu vực haykhu vực, có tính đến chừng mực mà quốc gia ven biển, khi cho các quốc gia khácvào khai thác tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, đã xemxét sự cần thiết phải giảm đến mức tối thiểu những tác hại đối với cộng đồng nhữngngười đánh bắt cũng như những rối loạn kinh tế trong các quốc gia có công dânvẫn thường tiến hành việc đánh bắt trong vùng.

5. Các quy định nói trên được áp dụng không phương hại đếncác thỏa thuận được ký kết nếu có trong các phân khu vực hay khu vực, mà ở đócác quốc gia ven biển có thể dành cho các quốc gia không có biển ở cùng phânkhu vực hay khu vực đó những quyền ngang nhau, hoặc ưu tiên để khai thác các tàinguyên sinh vật ở vùng đặc quyền về kinh tế của mình.

ĐIỀU 70. Quyền của các quốc gia bấtlợi về địa lý

1. Các quốc gia bất lợi về địa lý có quyền tham gia, theomột thể thức công bằng, vào việc khai thác một phần thích hợp số dư của nhữngtài nguyên sinh vật trong các vùng đặc quyền về kinh tế của các quốc gia venbiển ở cùng phân khu vực hay khu vực, có tính đến các đặc điểm kinh tế và địalý thích đáng của tất cả các quốc gia hữu quan và theo đúng điều này và cácĐiều 61 và 62.

2. Trong phần này, thuật ngữ “quốc gia bất lợi về địa lý” cónghĩa là các quốc gia ven biển, kể cả các quốc gia ở ven bờ một biển kín hoặcnửa kín, mà vị trí địa lý của họ làm cho họ phải lệ thuộc vào việc khai thácnhững tài nguyên sinh vật ở các vùng đặc quyền về kinh tế của các quốc gia kháctrong phân khu vực hoặc khu vực để có đủ cá dùng làm thực phẩm cung cấp cho dâncư hay một bộ phận dân cư của họ, cũng như các quốc gia ven biển không thể cómột vùng đặc quyền kinh tế riêng.

3. Các điều kiện và thể thức của việc tham gia đó được các quốcgia hữu quan ấn định thông qua con đường thỏa thuận tay đôi, phân khu vực haykhu vực, đặc biệt có tính đến:

a) Sự cần thiết phải tránh mọi tác hại cho cộng đồng nhữngngười đánh bắt hay cho công nghiệp đánh bắt của các quốc gia ven biển;

b) Mức độ quốc gia bất lợi về địa lý, theo đúng điều này,tham gia hoặc có quyền tham gia theo các thỏa thuận tay đôi, phân khu vực haykhu vực hiện hành, vào việc khai thác các tài nguyên sinh vật của vùng đặcquyền về kinh tế của các quốc gia ven biển khác;

c) Mức độ các quốc gia bất lợi về địa lý khác và các quốcgia không có biển tham gia vào việc khai thác tài nguyên sinh vật của vùng đặcquyền về kinh tế của quốc gia ven biển và sự cần thiết tránh cho quốc gia venbiển nào đó hoặc cho khu vực nào đó của quốc gia ấy phải chịu một gánh nặng đặcbiệt;

d) Những nhu cầu về thực phẩm của dân cư ở các quốc gia đượcxem xét.

4. Khi khả năng đánh bắt của một quốc gia ven biển cho phépmột mình quốc gia đó có thể đánh bắt được hầu như toàn bộ khối lượng đánh bắtcó thể chấp nhận, được ấn định cho việc khai thác các tài nguyên sinh vật trongvùng đặc quyền về kinh tế của mình, quốc gia đó và các quốc gia hữu quan kháchợp tác với nhau để ký kết các thỏa thuận tay đôi, phân khu vực hay khu vực mộtcách công bằng, cho phép các quốc gia đang phát triển bất lợi về địa lý trongcùng một phân khu vực hay khu vực đó tham gia một cách thích hợp vào việc khaithác những tài nguyên sinh vật của các vùng đặc quyền về kinh tế của các quốcgia ven biển trong phân khu vực hay khu vực, có tính đến các hoàn cảnh và cácđiều kiện thỏa đáng đối với tất cả các bên. Để áp dụng điều quy định này, cũngcần tính đến các yếu tố đã nêu ở khoản 3.

5. Các quốc gia phát triển bất lợi về địa lý chỉ có quyềntham gia vào việc khai thác tài nguyên sinh vật, theo điều này, trong các vùng đặcquyền về kinh tế của các quốc gia phát triển ở cùng một phân khu vực hay khuvực, có tính đến chừng mực mà quốc gia ven biển, trong khi cho các quốc giakhác vào khai thác tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình,đã xem xét sự cần thiết phải giảm đến mức tối thiểu những tác hại đối với cộngđồng những người đánh bắt, cũng như những rối loạn kinh tế trong các quốc giacó công dân vẫn thường tiến hành đánh bắt ở trong vùng.

6. Các quy định trên được áp dụng không phương hại đến các thỏathuận được ký kết nếu có trong các phân khu vực hoặc khu vực mà ở đó các quốcgia ven biển có thể dành cho các quốc gia bất lợi về địa lý trong cùng khân khuvực hay khu vực các quyền ngang nhau hoặc ưu tiên để khai thác các tài nguyênsinh vật ở vùng đặc quyền về kinh tế của mình.

ĐIỀU 71. Trường hợp các Điều 69 và70 không thể áp dụng được

Các Điều 69 và 70 không áp dụng đối với các quốc gia venbiển có nền kinh tế lệ thuộc rất nặng nề vào việc khai thác tài nguyên sinh vậtở vùng đặc quyền về kinh tế của mình.

ĐIỀU 72. Những hạn chế về chuyểngiao các quyền.

1. Các quyền khai thác các tài nguyên sinh vật nêu ở các Điều69 và 70 không thể chuyển giao trực tiếp hay gián tiếp cho các quốc gia thứ bahay cho các công dân của các quốc gia này, dù bằng con đường cho thuê hay bằnggiấy phép, hoặc bằng việc thành lập các xí nghiệp liên doanh hay bằng bất cứmột thỏa thuận nào khác mà tác dụng là tạo ra một sự chuyển giao như thế, trừtrường hợp các quốc gia hữu quan có thỏa thuận khác.

2. Điều quy định trên không ngăn cấm các quốc gia hữu quannhận của quốc gia thứ ba hay các tổ chức quốc tế sự trợ giúp về kỹ thuật haytài chính nhằm làm dễ dàng cho việc thực hiện các quyền của họ theo đúng Điều69 và 70, với điều kiện là việc này không dẫn đến một tác dụng nói ở khoản 1.

ĐIỀU 73. Thi hành các luật và quyđịnh của quốc gia ven biển

1. Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về thămdò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền vềkinh tế, quốc gia ven biển có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việckhám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng cácluật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước.

2. Khi có một sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thìcần thả ngay chiếc tàu bị bắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàunày.

3. Các chế tài do quốc gia ven biển trù định đối với nhữngvụ vi phạm các luật và quy định về mặt đánh bắt trong vùng đặc quyền về kinh tếkhông được bao gồm hình phạt tống giam, trừ khi các quốc gia hữu quan có thỏathuận khác, và không bao gồm một hình phạt thân thể nào khác.

4. Trong trường hợp bắt hay giữ một tàu thuyền nước ngoài,quốc gia ven biển thông báo ngay cho quốc gia mà tàu mang cờ biết, bằng các conđường thích hợp, các biện pháp được áp dụng cũng như các chế tài có thể sẽ đượctuyên bố sau đó.

ĐIỀU 74. Hoạch định ranh giới vùngđặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau

1. Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữacác quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diên nhau được thực hiện bằng con đườngthỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòaán quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng.

2. Nếu không đi tới được một thỏa thuận trong một thời gianhợp lý thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV.

3. Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở khoản 1, các quốc giahữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến cácdàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không phương hại hay cản trở việc kýkết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoán quá độ này. Các dàn xếp tạm thờikhông phương hại đến hoạch định cuối cùng.

4. Khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữuquan, các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinhtế được giải quyết theo đúng điều ước đó.

ĐIỀU 75. Các hải đồ và các bản kêtọa độ địa lý

1. Với điều kiện tuân thủ phần này, các ranh giới phía ngoàicủa vùng đặc quyền về kinh tế và các đường hoạch định ranh giới được vạch theođúng Điều 74 đều được ghi lên các hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vịtrí của nó; có trường hợp việc vẽ các ranh giới ngoài hay các đường hoạch địnhranh giới đó có thể thay thế bằng các bản kê các tọa độ địa lý các điểm, có ghirõ hệ thống trắc địa được sử dụng.

3. Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các bản đồhay bản kê các tọa độ đại lý gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưuchiểu.

Phần VI

THỀM LỤC ĐỊA

ĐIỀU 76. Định nghĩa thềm lục địa

1. Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển vàlòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phầnkéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìalục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý,khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ờ khoảng cách gần hơn.

2. Thềm lục địa không mở rộng ra ngoài các giới hạn nói ởcác khoản từ 4 đến 6.

3. Rìa lục địa là phần kéo dài ngập dưới nước của lục địacủa quốc gia ven biển, cấu thành bởi đáy biển tương ứng với thềm, dốc và bờ,cũng như lòng đất dưới đáy của chúng. Rìa lục địa không bao gồm các đáy của đạidương ở độ sâu lớn, với các dải núi đại dương của chúng, cũng không bao gồmlòng đất dưới đáy của chúng.

4. a) Theo công ước, quốc gia ven biển xác định bờ ngoài củarìa lục địa mở rộng ra quá 200 hải lý các đường cơ sở dùng để tính chiều rộnglãnh hải bằng:

i. Một đường vạch theo đúng khoản 7, bằng cách nối các điểmcố định tận cùng nào mà bề dày lớp đá trầm tích ít nhất cũng bằng một phần trămkhoảng cách từ điểm được xét cho tới chân dốc lục địa hay,

ii. Một đường vạch theo đúng khoản 7, bằng cách nối các điểmcố định ở cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý;

b) Nếu không có bằng chứng ngược lại, chân dốc lục địa trùnghợp với điểm biến đồi độ dốc rõ nét nhất ở nền dốc

5. Các điểm cố định xác định trên đáy biển, đường ranh giớingoài cùng của thềm lục địa được vạch theo đúng khoản 4, điểm a), điểm nhỏ i)và

ii), nằm cách điểm cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải một khoảngcách không vượt quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500m là đường nốiliền các điểm có chiều sâu 2500m, một khoảng cách không quá 100 hải lý.

6. Mặc dù đã có khoản 5, một dải núi ngầm, ranh giới ngoàicủa thềm lục địa không vượt quá một đường vạch ra ở cách đường cơ sở dùng đểtính chiều rộng lãnh hải 350 hải lý. Khoản này không áp dụng cho các địa hìnhnhô cao dưới mặt nước tạo thành các yếu tố tự nhiên của rìa lục địa, như cácthềm, ghềnh, sông núi, bãi hoặc mỏm.

7. Quốc gia ven biển ấn định ranh giới ngoài thềm lục địacủa mình, khi thềm này mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải, bằng cách nối liền các điểm cố định xác định bằng hệ tọa độkinh vĩ độ, thành các đoạn thẳng dài không quá 60 hải lý.

8. Quốc gia ven biển thông báo những thông tin về ranh giớicác thềm lục địa của mình, khi thềm này mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơsở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, cho ủy ban ranh giới thềm lục địa đượcthành lập theo Phụ lục II, trên cơ sở sự đại diện công bằng về địa lý. Ủy ban gửicho các quốc gia ven biển những kiến nghị về các vấn đề liên quan đến việc ấnđịnh ranh giới ngoài thềm lục địa của họ. Các ranh giới do một quốc gia venbiển ấn định trên cơ sở các kiến nghị đó là dứt khoát và có tính chất bắt buộc.

9. Quốc gia ven biển gửi cho Tổng thư ký Liên hợp quốc cácbản đồ và các điều chỉ dẫn thích đáng, kể cả các dữ kiện trắc địa, chỉ rõ mộtcách thường xuyên ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình. Tổng thư ký côngbố các tài liệu này theo đúng thủ tục.

10. Điều này không xét đoán trước vấn đề hoạch định ranhgiới thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.

ĐIỀU 77. Các quyền của các quốc giaven biển đối với thềm lục địa

1. Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đốivới thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình.

2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa làcác quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyênthiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động nhưvậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia đó.

3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địakhông phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứtuyên bố rõ ràng nào.

4. Các tài nguyên thiên nhiên ở phần này bao gồm các tài nguyênthiên nhiên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên không sinh vật khác củađáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các sinh vật thuộc loại định cư,nghĩa là những sinh vật nào, ở thời kỳ có thể đánh bắt được, hoặc nằm bất động ởđáy, hoặc lòng đất dưới đáy; hoặc là không có khả năng di chuyển nếu không có khảnăng tiếp xúc với đáy hay lòng đáy dưới đáy biển.

ĐIỀU 78. Chế độ pháp lý của vùngnước và vùng trời ở phía trên, và các quyền và các tự do của các quốc gia khác

1. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địakhông đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trờitrên vùng nước này.

2. Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đốivới thềm lục địa không gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự dokhác của các nước khác đã được công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việcthực hiện các quyền này một cách không thể biện bạch được.

ĐIỀU 79. Các dây cáp và ống dẫn ngầmở thềm lục địa

1. Tất cả các quốc gia có quyền đặt các dây cáp và ống dẫnngầm ở thềm lục địa theo đúng điều này.

2. Trong điều kiện thi hành các biện pháp hợp lý nhằm thămdò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa và ngăn chặn,hạn chế và chế ngự ô nhiễm do ống dẫn gây ra, quốc gia ven biển không được cảntrở việc lắp đặt hay bảo quản các ống dẫn và dây cáp đó.

3. Tuyến ống dẫn đặt ở thềm lục địa cần được sự thỏa thuậncủa quốc gia ven biển.

4. Không một quy định nào ở phần này đụng chạm đến quyền củaquốc gia ven biển đặt ra các điều kiện đối với các đường dây cáp hay các đườngống dẫn đi vào lãnh thổ hay lãnh hải của mình, cũng như, không đụng chạm đếnđường tài phán của quốc gia này đối với dây và ống dẫn được đặt, hoặc sử dụng trongkhuôn khổ của việc thăm dò thềm lục địa của mình hay việc khai khác tài nguyênthiên nhiên của mình, hoặc của việc khai thác các đảo nhân tạo, thiết bị haycông trình thuộc quyền tài phán của quốc gia này.

5. Khi đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm, các quốc gia phảitính đến các dây cáp và ống ngầm đã được đặt trước. Đặc biệt họ cần lưu ý khônglàm hại đến khả năng sửa chữa các đường dây cáp và ống dẫn đó.

ĐIỀU 80. Các đảo nhân tạo, thiết bịvà công trình ở thềm lục địa

Điều 60 áp dụng mutatis mutandis (với những sửa đổi cầnthiết và chi tiết) đối với các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lụcđịa.

ĐIỀU 81. Việc khoan ở thềm lục địa

Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việckhoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì.

ĐIỀU 82. Những khoản đóng góp bằngtiền hoặc hiện vật vào việc khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý

1. Quốc gia ven biển nộp các khoản đóng góp bằng tiền haybằng hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềmlục địa nằm ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

2. Các khoản đóng góp được nộp hàng năm tính theo toàn bộsản phẩm thu hoạch được ở một điểm khai thác nào đó, sau năm năm đầu khai thácđiểm đó. Năm thứ 6 tỉ lệ đóng góp là 1% của giá trị hay của khối lượng sản phẩmkhai thác được ở điểm khai thác. Sau đó, mỗi năm tỷ lệ này tăng lên 1% cho đếnnăm thứ 12 và bắt đầu từ năm thứ 12 trở đi tỷ lệ đó ở mức 7%. Sản phẩm khôngbao gồm các tài nguyên được dùng trong khuôn khổ của việc khai thác.

3. Quốc gia đang phát triển nào là nước chuyên nhập khẩu mộtkhoáng sản được khai thác từ thềm lục địa của mình được miễn các khoản đóng gópđối với loại khoáng sản đó.

4. Các khoản đóng góp này được thực hiện thông qua Cơ quanquyền lực; cơ quan này phân chia các khoản đó cho các quốc gia thành viên, theotiêu chuẩn phân chia công bằng có tình đến lợi ích và nhu cầu của các quốc gia đangphát triển, đặc biệt là các quốc gia chậm phát triển nhất hay các quốc giakhông có biển.

ĐIỀU 83. Hoạch định ranh giới thềmlục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau

1. Việc hoạch định ranh giới thềm lục địa giữa các quốc giacó bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuậntheo đúng luật pháp quốc tế như đã được nêu ở Điều 38 của Quy chế tòa án quốc tế,để đi tới một giải pháp công bằng.

2. Nếu không đi tới một thỏa thuận trong một thời hạn hợp lýthì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV.

3. Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốcgia hữu quan trên tinh thần hiều biết, và hợp tác, làm hết sức mình để đi đếncác giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cảntrở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dànxếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng.

4. Khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữuquan, các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới thềm lục địa được thựchiện theo đúng điều ước đó.

ĐIỀU 84. Các hải đồ và bản kê cáctọa độ địa lý

1. Với điều kiện tuân thủ phần này, các ranh giới ngoài củathềm lục địa và các đường hoạch định ranh giới được vạch ra theo đúng Điều 83được ghi rõ lên các hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí của nó,có trường hợp việc vẽ ranh giới ngoài hay các đường hoạch đinh ranh giới này cóthể được thay thế bằng các bản kê các tọa độ địa lý các điểm, có ghi rõ hệ thốngtrắc địa được sử dụng.

2. Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các bản đồhay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký liên hợp quốc một bản đểlưu chiểu, và đối với các bản đồ hay các bản kê các tọa độ địa lý vị trí củaranh giới ngoài của thềm lục địa, thì gửi đến Tổng thư ký của Cơ quan quyền lựcmột bản để lưu chiểu.

ĐIỀU 85. Việc đào đường hầm

Phần này không đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biển đượckhai thác lòng đất dưới đáy biển bằng cách đào hầm, bất kể độ sâu của các vùngnước ở nơi ấy là bao nhiêu.

Phần VII

BIỂN CẢ

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 86. Phạm vi áp dụng của phầnnày

Phần này áp dụng cho tất cả những vùng biển không nằm trongvùng đặc quyền về kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng nhưkhông nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo. Điều này không hạnchế về bất cứ phương diện nào các quyền tự do mà tất cả các quốc gia được hưởngtrong vùng đặc quyền về kinh tế theo Điều 58.

ĐIỀU 87. Tự do trên biển cả

1. Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biểnhay không có biển. Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điềukiện do các quy định của Công ước hay và những quy tắc khác của pháp luật quốctế trù định. Đối với các quốc gia dù có biển hay không có biển, quyền tự do nàyđặc biệt bao gồm:

a) Tự do hàng hải;

b) Tự do hàng không;

c) Tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm với điều kiệntuân thủ Phần VI;

d) Tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khácđược pháp luật quốc tế cho phép, với điều kiện tuân thủ phần VI;

e) Tự do đánh bắt hải sản trong các điều đã được nêu ở Mục2;

f) Tự do nghiên cứu khoa học với các điều kiện tuân thủ cácPhần VI và VIII.

2. Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tínhđến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũngnhư đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quân đến các hoạt động trongVùng.

ĐIỀU 88. Sử dụng biển cả vào mụcđích hòa bình

Biển cả được sử dụng vào các mục đích hòa bình

ĐIỀU 89. Tính bất hợp pháp của nhữngyêu sách về chủ quyền đối với biển cả

Không một quốc gia nào có thể đòi đặt một cách hợp pháp mộtbộ phận nào đó của biển cả thuộc vào chủ quyền của mình

ĐIỀU 90. Quyền hàng hải

1. Mỗi quốc gia quy định các điều kiện cho phép tàu thuyềnmang quốc tịch của nước mình, các điều kiện đăng ký các tàu thuyền trên lãnhthổ của mình và các điều kiện cần phải có để cho tàu thuyền được quyền treo cờ củanước mình. Các tàu thuyền mang quốc tính của quốc gia mà chúng được phép treocờ. Cần phải có một mối quan hệ thực chất giữa quốc gia và các con tàu.

2. Quốc gia nào cho phép tàu thuyền treo cờ nước mình thì cấpcho tàu thuyền đó các tài liệu có liên quan đến mục đích đó.

ĐIỀU 92. Điều kiện pháp lý của tàuthuyền

1. Các tàu thuyền chỉ hoạt động dưới cờ của một quốc gia và,trừ những trường hợp ngoại lệ đã được quy định rõ ràng trong các hiệp ước quốctế hay trong Công ước, chỉ thuộc quyền tài phán của quốc gia này khi ở biển cả.Không được thay đổi cờ trong một chuyến đi hay trong một dịp đậu lại, trừ trườnghợp có sự chuyển giao thật sự quyền sở hữu hay có thay đổi đăng ký.

2. Một tàu thuyền hoạt động dưới cờ của nhiều quốc gia mà nósử dụng theo sở thích của mình thì không thể sử dụng đối với mọi quốc gia thứba, bất cứ quốc tịch nào trong số đó và có thể được coi như là một tàu thuyềnkhông có quốc tịch.

ĐIỀU 93. Các tàu thuyền treo cờ củaTổ chức Liên hợp quốc, của cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc hay của Cơ quannăng lượng nguyên tử quốc tế

Các điều trên không đề cập vấn đề các tàu được dùng vào dịchvụ chính thức của Liên hợp quốc, của các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốchay Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế.

ĐIỀU 94. Các nghĩa vụ của quốc giamà tàu thuyền mang cờ

1. Mọi quốc gia đều thực sự thi hành quyền tài phán và sự kiểmsoát của mình trong các lĩnh vực hành chính, kỹ thuật và xã hội đối với các tàuthuyền mang cờ của mình.

2. Đặc biệt mọi quốc gia:

a) Có một sổ đăng ký hàng hải có ghi tên và đặc điểm của cáctàu thuyền mang cờ nước mình, trừ các tàu thuyền do kích thước nhỏ không nằmtrong quy định quốc tế được chấp nhận chung;

b) Thi hành quyền tài phán theo đúng luật trong nước mìnhđối với bất kỳ tàu thuyền nào mang cờ nước mình, cũng như đối với thuyền trưởng,sĩ quan và đoàn thủy thủ về các vấn đề hành chính, kỹ thuật và xã hội liên quanđến tàu thuyền.

3. Mọi quốc gia phải có các biện pháp cần thiết đối với các tàuthuyền mang cờ của nước mình để đảm bảo an toàn trên biển, nhất là về:

a) Cấu trúc, trang bị của tàu thuyền và khả năng đi biển củanó;

b) Thành phần, điều kiện làm việc và việc đào tạo các thủythủ, có tính đến các văn bản quốc tế có thể áp dụng được;

c) Việc sử dụng các tín hiệu, tình trạng hoạt động tốt củahệ thống thông tin liên lạc và việc phòng ngừa đâm va.

4. Các biện pháp này bao gồm các biện pháp cần thiết để đảmbảo rằng:

a) Tàu thuyền nào cũng phải được một viên thanh tra hàng hảicó trình độ kiểm tra trước khi đăng ký vào sổ và sau đó, trong những khoảngthời gian thích hợp và trên tàu thuyền cần có các hải đồ, các tài liệu về hàng hải,cũng như dụng cụ và máy móc hàng hải mà sự an toàn hàng hải đòi hỏi;

b) Tàu thuyền nào cũng phải được giao cho một thuyền trưởngvà các sĩ quan có trình độ chuyên môn cần thiết, đặc biệt là việc điều động,hàng hải, thông tin liên lạc và điều khiển các máy, thủy thủ có trình độ chuyênmôn cần thiết và đủ số so với loại tàu thuyền, kích thước, máy móc và trang bịcủa tàu thuyền;

c) Thuyền trưởng, các sỹ quan và ở mức độ cần thiết, đoànthủy thủ hoàn toàn nắm vững và sẵn sàng tôn trọng các quy tắc quốc tế có thể ápdụng được về việc cứu sinh trên biển, việc phòng ngừa các tai nạn đâm va, việcngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển và việc duy trì thông tinliên lạc bằng vô tuyến điện

5. Khi thi hành các biện pháp nói ở các khoản 3 và 4, mỗiquốc gia buộc phải tuân thủ các quy tắc, thủ tục và tập quán quốc tế đã đượcchấp nhận chung và thi hành mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo cho các quy tắc,thủ tục và tập quán nói trên được tôn trọng.

6. Quốc gia nào có những lý do đúng đắn để nghĩ rằng quyềntài phán và quyền kiểm soát thích hợp đối với một tàu thuyền đã không được thihành, thì có thề thông báo những sự kiện đó cho quốc gia mà tàu mang cờ. Khi đượcthông báo, quốc gia mà tàu mang cờ phải tiến hành điều tra và nếu cần, có cácbiện pháp điều chỉnh cần thiết.

7. Mỗi quốc gia ra lệnh mở cuộc điều tra do một hay nhiềunhân vật có đầy đủ thẩm quyền tiến hành, hoặc là cuộc điều tra được tiến hànhtrước những nhân vật đó về bất cứ tai nạn nào trên biển hay sự cố hàng hải nàoxảy ra trên biển cả có liên quan đến một chiếc tàu mang cờ của nước mình và đã gâyra chết người hay gây trọng thương cho những công dân của một quốc gia khác,hoặc đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho tàu thuyền và công trình thiếtbị của một quốc gia khác hay cho môi trường biển. Quốc gia mà tàu mang cờ vàquốc gia hữu quan đó tổ chức về một tai nạn trên biển hay một sự cố hàng hảithuộc loại này.

ĐIỀU 95. Quyền miễn trừ của các tàuchiến trên biển cả

Các tàu chiến trên biển cả được hưởng quyền miễn trừ hoàn toànvề tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu mang cờ.

ĐIỀU 96. Quyền miễn trừ của các tàu thuyềnchỉ dùng cho một cơ quan Nhà nước không có tính chất thương mại

Các tàu thuyền của Nhà nước hay do Nhà nước khai thác và chỉdùng cho một cơ quan Nhà nước không có tính chất thương mại trên biển cả đượchưởng quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoàiquốc gia mà tàu mang cờ.

ĐIỀU 97. Quyền tài phán hình sự vềtai nạn đâm va hoặc bất cứ sự cố hàng hải nào

1. Trong trường hợp xảy ra tai nạn đâm va hay bất kỳ sự cốhàng hải nào trên biển cả mà trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm kỷ luật thuộc vềthuyền trưởng hoặc thuộc về bất kỳ thành viên nào trong đoàn thủy thủ của contàu, chỉ có thể yêu cầu truy tố hình sự hay thi hành kỷ luật họ trước các nhàđương cục tư pháp hay hành chính của quốc gia mà tàu mang cờ hoặc là của quốcgia mà đương sự mang quốc tịch.

2. Về mặt kỷ luật, quốc gia nào đã cấp bằng chỉ huy hay giấychứng nhận khả năng hoặc giấy phép, là quốc gia duy nhất có thẩm quyền công bố,với việc tôn trọng các thủ tục họp pháp, thu hồi các bằng hay chứng chỉ đókhông thuộc quốc tịch của quốc gia đó.

3. Không thể ra lệnh bắt hay giữ chiếc tàu, ngay cả trongkhi tiến hành công việc dự thẩm, nếu không phải là nhà đương cục của quốc giamà tàu mang cờ.

ĐIỀU 98. Nghĩa vụ giúp đỡ

1. Mọi quốc gia đòi hỏi thuyền trưởng của một chiếc tàu mangcờ của nước mình, trong chừng mực có thể làm được mà không gây nguy hiểm nghiêmtrọng cho con tàu, cho đoàn thủy thủ hay cho hành khách trên tàu, phải:

a) Giúp đỡ bất kỳ ai đang gặp nguy khốn trên biển;

b) Hết sức nhanh chóng đến cứu những người đang bị nguy cấpnếu như được thông báo những người này cần được giúp đỡ, trong chừng mực mà ngườita có thể chờ đợi một cách hợp lý là thuyền trưởng phải xử lý như thế;

c) Trong trường hợp xảy ra tai nạn đâm va, giúp đỡ chiếc tàukia, đoàn thủy thủ và hành khách của nó và, trong phạm vi có thể, cho chiếc tàuđó biết tên và cảng đăng ký của tàu mình, và cảng gần nhất mà tàu mình sẽ cậpbến.

2. Tất cả các quốc gia ven biển tạo điều kiện dễ dàng choviệc thành lập và hoạt động của một cơ quan thường trực về tìm kiếm và cứu trợthích hợp và hiệu quả, để đảm bảo an toàn hàng hải và hàng không, và nếu cóthể, thì hợp tác với những nước láng giềng của mình trong khuôn khổ của nhữngdàn xếp có tính chất khu vực, để thực hiện mục đích nói trên.

ĐIỀU 99. Cấm chuyên chở nô lệ

Mọi quốc gia đều thi hành các biện pháp có hiệu quả để ngănngừa và trừng trị việc chuyên chở nô lệ trên các tàu được phép mang cờ của nướcmình, và để ngăn ngừa việc lạm dụng sắc cờ của mình vào mục đích nói trên. Mọingười nô lệ ẩn náu ở trên một chiếc tàu, dù con tàu này mang cờ của bất kỳ quốcgia nào, cũng được tự do ipso-facto (ngay tức khắc).

ĐIỀU 100. Nghĩa vụ hợp tác để trấnáp nạn cưới biển

Tất cả các quốc gia hợp tác với nhau, bằng mọi khả năng củamình, để trấn áp cướp biển trên biển cả hay ở bất kỳ nơi nào khác không thuộcquyền tài phán của quốc gia nào.

ĐIỀU 101. Định nghĩa cướp biển

Một trong những hành động sau đây là hành động cướp biển:

a) Mọi hành động trái phép dùng hành động hay bắt giữ hoặcbất kỳ sự cướp phá nào do thủy thủ hoặc hành khách trên một chiếc tàu hay mộtphương tiện bay tư nhân gây nên, vì những mục đích riêng tư, và nhằm:

i. Chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay khác, haychống lại những người hay của cải ở trên con tàu hoặc phương tiện bay đỗ ở biểncả;

ii. Chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay, ngườihay của cải, ở một nơi không thuộc quyền tài phán của một quốc gia nào;

b) Mọi hành động tham gia có tính chất tự nguyện vào việc sửdụng một chiếc tàu hay một phương tiện bay, khi người tham gia biết từ những sựviệc rằng chiếc tàu hay phương tiện bay đó là một tàu hay phương tiện bay cướpbiển;

c) Mọi hành động nhằm xúi giục người khác phạm những hànhđộng được xác định ở điểm a hoặc b hay phạm phải với chủ định làm dễ dàng chocác hành động đó.

ĐIỀU 102. Hành động cướp biển củamột tàu chiến, một tàu Nhà nước hay một phương tiện bay của Nhà nước mà đoànthủy thủ hay đội bay đã nổi loạn gây ra

Những hành động cướp biển, như đã được xác định ở Điều 101,của một tàu chiến hay một tàu Nhà nước hay một phương tiện bay của Nhà nước bịđoàn thủy thủ hay đội bay nổi loạn làm chủ, được coi là hành động của các tàuhay phương tiện bay tư nhân.

ĐIỀU 103. Định nghĩa một tàu hay mộtphương tiện bay cướp biển

Những tàu hay phương tiện bay mà kể kiểm soát nó thực sự,chủ trương sử dụng để phạm một trong những hành động được nêu ở Điều 101, đượccoi là những tàu hay phương tiện bay cướp biển. Những chiếc tàu hay phương tiệnbay đã được dùng để phạm những hành động nói trên cũng được coi là tàu hayphương tiện bay cướp biển chừng nào nó còn ở dưới quyền kiểm soát của nhữngngười gây ra những hành động đó.

ĐIỀU 104. Giữ hay mất quốc tịch của mộtcon tàu hay một phương tiện bay cướp biển

Một con tàu hay một phương tiện bay đã trở thành cướp biểncó thể giữ quốc tịch của mình. Việc giữ hay mất quốc tịch do luật trong nướccủa quốc gia đã trao quốc tịch đó điều chỉnh.

ĐIỀU 105. Bắt giữ một chiếc tàu hayphương tiện bay cướp biển

Mọi quốc gia ở biển cả, hay ở bất cứ nơi nào khác khôngthuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, đều có thể bất giữ một chiếc tàu haymột phương tiện bay đã trở thành cướp biển, hoặc một chiếc tàu hay một phươngtiện bay bị chiếm đoạt sau một hành động cướp biển và đang nằm trong tay bọncướp biển, và đều có thể bắt giữ người và của cải ở trên con tàu hay phươngtiện bay đó. Các tòa án của quốc gia đã tiến hành việc bắt đó có thể công bốcác hình phạt cũng như các biện pháp áp dụng đối với chiếc tàu, phương tiện bayhay của cải, trừ những người lương thiện trong cuộc.

ĐIỀU 106. Trách nhiệm trong trườnghợp bắt giữ một cách độc đoán

Khi bắt giữ một chiếc tàu hay một phương tiện bay bị tình nghilà cướp biển mà không có lý do đầy đủ, quốc gia nào đã tiến hành việc bắt giữđó phải chịu trách nhiệm về bất kỳ tổn thất hay thiệt hại nào do hành động đógây ra đối với quốc gia mà tàu mà phương tiện bay đó mang quốc tịch.

ĐIỀU 107. Các tàu và phương tiện baycó đủ tư cách để thực hiện việc bắt giữ vì lý do cướp biển

Chỉ có các tàu chiến hay phương tiện bay quân sự, hoặc cáctàu thuyền hay phương tiện bay khác mang các dấu hiện bên ngoài chứng tỏ rõràng là của một cơ quan Nhà nước và được tiến hành nhiệm vụ này, mới có thểthực hiện việc bắt giữ vì lý do cướp biển.

ĐIỀU 108. Buôn bán trái phép cácchất ma túy và các chất kích thích

1. Tất cả các quốc gia hợp tác với nhau để trấn áp việc buônbán trái phép các chất ma túy và các chất kích thích do các tàu đi lại ở biểncả tiến hành, vi phạm các công ước quốc tế.

2. Mọi quốc gia khi đã có lý do chính đáng để cho rằng mộttàu mang cờ của nước mình đang buôn bán trái phép các chất ma túy và các chấtkích thích đều có thể yêu cầu các quốc gia khác hợp tác để chấm dứt việc buônbán đó.

ĐIỀU 109. Phát sóng không được phéptừ biển cả

1. Tất cả các quốc gia hợp tác với nhau để trấn áp phát sóngkhông được phép từ biển cả.

2. Trong Công ước “phát sóng không được phép” là các cuộcphát thanh và vô tuyến truyền hình nhằm vào quảng đại quần chúng từ một chiếctàu hay một thiết bị ở biển cả vi phạm các quy chế quốc tế, trừ việc phát cáctín hiệu cấp cứu.

3. Người nào tiến hành truyền các cuộc phát sóng không đượcphép đều có thể bị truy tố trước tòa án của:

a) Quốc gia mà chiếc tàu phát sóng mang cờ;

b) Quốc gia đăng ký của thiết bị;

c) Quốc gia mà người nói trên là công dân;

d) Mọi quốc gia mà ở đó các cuộc phát sóng có thể thu được;

e) Mọi quốc gia có các đài thông tin vô tuyến được phép đãbị nhiễu do các cuộc phát sóng đó.

4. Ở biển cả, một quốc gia có quyền tài phán ở theo đúngkhoản 3, có thể theo đúng Điều 110, bắt bất kỳ người nào hay giữ bất kỳ chiếc tàunào truyền các cuộc phát sóng không được phép và tịch thu phương tiện phátsóng.

ĐIỀU 110. Quyền khám xét

1. Trừ những trường hợp mà việc can thiệp là căn cứ vàonhững quyền do hiệp ước mang lại, một tàu chiến khi gặp một tàu nước ngoài ởtrên biển cả không phải là một tàu được hưởng quyền miễn trừ như đã nêu ở cácĐiều 95 và 96, chỉ có thể khám xét chiếc tàu đó nếu có những lý do đúng đắn để nghingờ chiếc tàu đó:

a) Tiến hành cướp biển;

b) Chuyên chở nô lệ;

c) Dùng vào các cuộc phát sóng không được phép, quốc gia màchiếc tàu mang cờ có quyền tài phán theo Điều 109;

d) Không có quốc tịch; hay

e) Thật ra là cùng quốc tịch với chiếc tàu chiến, mặc dùchiếc tàu này treo cờ nước ngoài hay từ chối treo cờ của mình.

2. Trong những trường hợp nêu ở khoản 1, tàu chiến có thểkiểm tra các giấy tờ cho phép mang cờ. Vì mục đích này, tàu chiến có thể pháimột chiếc xuồng, dưới sự chỉ huy của một sĩ quan, đến gần chiếc tàu bị tình nghi.Sau khi kiểm tra các tài liệu, nếu vẫn còn nghi vấn thì có thể tiếp tục điềutra trên tàu với một thái độ hết sức đúng mực.

3. Nếu việc nghi ngờ xét ra không có cơ sở thì chiếc tàu bịkhám xét được bồi thường về mọi tổn thất hay thiệt hại xảy ra, với điều kiện làchiếc tàu này không phạm một hành động nào làm cho nó bị tình nghi.

4. Các điều quy định này được áp dụng mutatis mutandis (vớinhững sửa đổi cần thiết về chi tiết) đối với các phương tiện bay quân sự.

5. Các điều quy định này cũng được áp dụng đối với tất cảcác tàu thuyền hay phương tiện bay khác đã được phép một cách hợp lệ và mangnhững dấu hiệu bên ngoài chỉ rõ rằng chúng được sử dụng cho một cơ quan Nhànước.

ĐIỀU 111. Quyền truy đuổi

1. Việc truy đuổi một tàu nước ngoài có thể được tiến hànhnếu những nhà đương cục có thẩm quyền của quốc gia ven biển có những lý do đúngđắn để cho rằng chiếc tàu này đã vi phạm các luật và quy định của quốc gia đó.Việc truy đuổi phải bắt đầu khi chiếc tàu nước ngoài hay một trong những chiếcxuồng của nó đang ở trong nội thủy, trong vùng nước quần đảo, trong lãnh hảihay trong vùng tiếp giáp của quốc gia truy đuổi, và chỉ có thể được tiếp tục ởngoài ranh giới của lãnh hải hay vùng tiếp giáp với điều kiện là việc truy đuổinày không bị gián đoạn. Không nhất thiết là chiếc tàu ra lệnh cho tàu nướcngoài đang đi trong lãnh hải hay trong vùng tiếp giáp dừng lại cũng phải có mặttại các vùng biển ấy khi mà chiếc tàu nước ngoài này nhận được lệnh. Nếu chiếctàu nước ngoài ở trong vùng tiếp giáp, được quy định ở Điều 33, việc truy đuổichỉ có thể bắt đầu nếu tàu đó đã vi phạm các quyền, mà việc thiết lập vùng tiếpgiáp có nhiệm vụ bảo vệ.

2. Quyền truy đuổi được áp dụng matatis mutandis (với nhữngsửa đổi cần thiết về chi tiết) đối với những hành động vi phạm các luật và quyđịnh của quốc gia ven biển có thể áp dụng, theo đúng Công ước, cho vùng đặcquyền kinh tế hay thềm lục địa, kể cả các vùng an toàn bao quanh các thiết bị ởthềm lục địa, nếu các vi phạm này đã xảy ra trong các vùng nói trên.

3. Quyền truy đuổi chấm dứt khi chiếc tàu bị truy đuổi đivào lãnh hải của quốc gia mà nó thuộc quyền hay của một quốc gia khác.

4. Việc truy đuổi chi được coi như bắt đầu, nếu chiếc tàutruy đuổi bằng các phương tiện có thể sử dụng được mà mình có, biết một cáchchắc chắn là chiếc tàu bị đuổi, hay một những trong chiếc xuồng của nó hoặc cácphương tiện đi biển khác hoạt động thành tốp và dùng chiếc tàu bị truy đuổi làmchiếc tàu mẹ, đang ở bên trong ranh giới của lãnh hải, hay tùy theo trường hợpđang ở trong vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế hay ở trên thềm lục địa.Việc truy đuổi chỉ có thể bắt đầu sau khi đã phát tín hiệu nhìn hoặc nghe bắtnó dừng lại, ở một cự ly cần thiết để chiếc tàu nói trên nhận biết được.

5. Quyền truy đuổi chỉ có thể được thực hiện bởi các tàu chiếnhay các phương tiện quân sự hoặc các tàu hay phương tiện bay khác có mang cácdấu hiện ở bên ngoài chỉ rõ rang rằng, các tàu hay phương tiện bay đó được sửdụng cho một cơ quan Nhà nước và được phép làm nhiệm vụ này.

6. Trong trường hợp mà chiếc tàu bị một phương tiện bay truyđuổi:

a) Các khoản 1 đến 4 được áp dụng mutatis mutandis (vớinhững thay đổi cần thiết và chi tiết);

b) Phương tiện bay nào phát lệnh dừng lại phải tự mình truyđuổi chiếc tàu cho đến lúc một chiếc tàu hay phương tiện bay khác của quốc giaven biển; sau khi được phương tiện bay nói trên thông báo, đã đến những vị trí đểtiếp tục cuộc truy đuổi nếu như phương tiện đầu tiên không thể tự mình giữ đượcchiếc tàu. Để chứng minh cho việc bắt một chiếc tàu dừng lại ở ngoài lãnh hảilà đúng, thì riêng việc phát hiện chiếc tàu này đã vi phạm hay bị nghi ngờ làvị phạm là chưa đủ, mà còn phải xác định đồng thời xem nó có bị phương tiện bayhay tàu khác yêu cầu dừng lại và việc truy đuổi này phải không hề bị gián đoạn.

7. Không thể đòi hủy lệnh giữ một chiếc tàu bị bắt ở địađiểm thuộc quyền tài phán của một quốc gia và bị dẫn độ về một cảng của quốcgia này để cho các nhà đương cục có thẩm quền tiến hành điều tra với lý do duynhất là vì hoàn cảnh bắt buộc chiếc tàu đó đã đi có hộ tống qua một phần củavùng đặc quyền về kinh tế hay của biển cả.

8. Một chiếc tàu đã bị bắt dừng lại hay bị bắt ở ngoài lãnhhải trong những hoàn cảnh không chứng minh được cho việc sử dụng quyền truyđuổi thì được bồi thường về mọi tổn thất hay tổn hại nếu có.

ĐIỀU 112. Quyền đặt các dây cáp hayống dẫn ngầm

1. Mọi quốc gia có quyền đặt các dây cáp hay ống dẫn ngầm ởđáy biển cả bên ngoài thềm lục địa.

2. Điều 79, khoản 5, được áp dụng đối với đường dây cáp vàống dẫn ngầm này.

ĐIỀU 113. Về việc một dây cáp haymột ống dẫn ngầm bị đứt đoạn hay bị hư hỏng

Mọi quốc ra đều định ra các luật và quy định cần thiết đểcoi là hành động vi phạm có thể bị trừng phạt: một chiếc tàu mang cờ của quốcgia đó hay một người thuộc quyền tài phán của quốc gia đó đã cố ý hay do cẩu thảmà làm cho một đường dây cáp cao thế hay một đường ống dẫn ngầm ngoài biển cảbị đứt đoạn hay hư hỏng một đường dây cáp điện báo hay điện thoại ngầm trongchừng mực có nguy cơ làm rối loạn hay làm gián đoạn thông tin điện báo hay điệnthoại. Điều quy định này cũng áp dụng cho bất kỳ hành động nào có thể gây nêntình trạng các đường dây cáp hay ống dẫn ngầm nói trên bị cắt đứt hoặc hư hỏnghay cố ý nhằm gây nên tình trạng đó. Tuy nhiên, điều quy định này không áp dụngkhi việc làm đứt đoạn hay hư hỏng đường dây cáp và ống dẫn là hành động củanhững người, sau khi đã thi hành tất cả các biện pháp phòng ngừa cần thiết đểtránh gây ra tình trạng đó, chỉ hành động nhằm mục đích chính đáng cứu lấy sinhmạng hay con tàu của họ.

ĐIỀU 114. Về việc một dây cáp hay mộtống dẫn ngầm bị đứt đoạn hay hư hỏng do người chủ của một dây cáp hay một ốngdẫn khác gây ra

Mọi quốc ra đều định ra các luật và quy định cần thiết đểtrong trường hợp một dây cáp hay một ống dẫn ngầm ở biển cả bị đứt đoạn hay hưhỏng do việc đặt một dây cáp hay một ống dẫn ngầm khác của một người có quyền tàiphán của mình, người này phải chịu những phí tổn để sửa chữa những thiệt hại màmình gây ra.

ĐIỀU 115. Bồi thường những thiệt hạigây ra do việc tránh làm hư hỏng một dây cáp hay ống dẫn ngầm

Mọi quốc ra đều định ra các luật và quy định cần thiết đểngười chủ của con tàu nào đưa ra được chứng cứ chứng minh rằng đã chịu mất mộtchiếc neo, một tấm lưới hay một phương tiện đánh bắt khác nhằm trành làm hưhỏng một dây cáp hay một ống dẫn ngầm, thì được người người sở hữu của dây cáphay một ống dẫn ngầm bồi thường, với điều kiện là người chủ của con tàu đó đãdùng mọi biện pháp đề phòng hợp lý.

Mục 2. BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ CÁC TÀINGUYÊN SINH VẬT CỦA BIỂN CẢ

ĐIỀU 116. Quyền đánh bắt ở biển cả

Tất cả các quốc gia đều có quyền cho công dân của mình đánhbắt ở biển cả, với điều kiện:

a) Tuân theo các nghĩa vụ ghi trong công ước;

b) Tôn trọng các quyền và nghĩa vụ cũng như các lợi ích củacác quốc gia ven biển như đã được trù định, đặc biệt là trong Điều 63, khoản 2và trong các Điều từ 64 đến 67; và

c) Tuân theo mục này

ĐIỀU 117. Nghĩa vụ của các quốc gia cócác biện pháp bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả đối với các công dân củamình

Tất cả các quốc gia có nghĩa vụ định ra các biện pháp có thểcần thiết để áp dụng đối với các công dân của mình nhảm bảo tồn tài nguyên sinhvật của biển cả hoặc hợp tác với các quốc gia khác trong việc định ra các biệnpháp như vậy.

ĐIỀU 118. Sự hợp tác của các quốcgia trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật biển

Các quốc gia hợp tác với nhau trong việc bảo tồn và quản lýtài nguyên sinh vật ở biển cả. Các quốc gia có công dân khai thác tài nguyênsinh vật khác nhau ở trong cùng một khu vực hoặc các tài nguyên sinh vật giốngnhau, thương lượng với nhau để có những biện pháp cần thiết trong việc bảo tồncác tài nguyên đó. Nhằm mục đích đó, nếu cần, các nước này hợp tác để lập racác tổ chức đánh bắt phân khu vực hoặc khu vực.

ĐIỀU 119. Việc bảo tồn tài nguyênsinh vật của biển cả

1. Khi quy định khối lượng cho phép đánh bắt và thi hành cácbiện pháp khác để bảo tồn các tài nguyên sinh vật ở biển cả, các quốc gia phải:

a) Dựa trên những số liệu đáng tin cậy nhất của mình, quantâm đến việc khôi phục hay duy trì các đàn (stocks), những loài khai thách ởnhững mức độ đảm bảo năng suất ổn định tối đa, có chú ý tới những yếu tố sinhthái và kinh tế thích đáng, kể cả những nhu cầu đặc biệt của những quốc giađang phát triển và có tính đến những phương pháp đánh bắt, đến quan hệ hỗ tươnggiữa các đàn (stocks) và đến tất cả mọi quy phạm quốc tế tối thiểu thường đượckiến nghị chung trong phạm vi phân khu vực, khu vực hay thế giới;

b) Quan tâm đến những tác động của các biện pháp này đối vớinhững loài quần vợt với các loài bị khai thác hay phụ thuộc vào chúng, để duytrì và khôi phục các đàn (stocks) của các loài quần hợp hay phụ thuộc này ở mứcđộ mà việc sinh sản của chúng không có nguy cơ bị tổn hại nghiêm trọng.

2. Các thông tin khoa học sẵn có, những số liệu thống kêliên quan đến việc đánh bắt và đến khả năng của nghề cá và các dữ kiện khácliên quan đến việc bảo tồn và các đàn cá được phổ biến và trao đổi đều đặn quatrung gian của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền phân khu vực, khu vực hay thếgiới, và nếu được, với sự tham gia của tất cả các quốc gia hữu quan.

3. Các quốc gia hữu quan chăm lo sao cho những biện pháp bảotồn và việc áp dụng những biện pháp đó không dẫn đến một sự phân biệt đối xửnào về mặt pháp lý hay về mặt thực tế đối với bất cứ ngư dân nào, bất kể họ làcông dân của quốc gia nào.

ĐIỀU 120. Các loài có vú ở biển

Điều 65 cũng áp dụng cho việc bảo tồn và quản lý các loài cóvú ở biển cả.

Phần VIII

CHẾ ĐỘ CÁC ĐẢO

ĐIÊU 121. Chế độ các đảo

1. Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khithủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.

2. Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếpgiáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch địnhtheo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.

3. Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ởhoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế vàthềm lục địa.

Phần IX

BIỂN KÍN HAY NỬA KÍN

ĐIỀU 122. Định nghĩa

Trong Công ước, “biển kín hay nửa kín” là một vịnh,một vũng hay một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông vớimột biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn do chủ yếuhay các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành.

ĐIỀU 123. Sự hợp tác giữa các quốcgia ven biển kín hay nửa kín

Các quốc gia ở ven bở một biển kín hay nửa kín cần hợp tácvới nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của họ theoCông ước. Vì mục đích này, trực tiếp hoặc qua trung gian của một tổ chức khuvực thích hợp, các quốc gia này cố gắng:

a) Phối hợp trong việc quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai tháccác tài nguyên sinh vật của biển;

b) Phối hợp trong việc sử dụng các quyền và thực hiện cácnghĩa vụ của họ có liên quan đến việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển;

c) Phối hợp các chính sách khoa học của họ, và nếu có thể,thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học chung trong vùng được xem xét;

d) Nếu có thể thì mời các quốc gia khác hay các tổ chức quốctế hữu quan hợp tác với họ trong việc áp dụng điều này.

PHẦN X

QUYỀN CỦA CÁC QUỐC GIAKHÔNG CÓ BIỂN ĐI RA BIỂN VÀ TỪ BIỂN VÀO, VÀ TỰ DO QUÁ CẢNH

ĐIỀU 124. Sử dụng các thuật ngữ

1. Trong Công ước:

a) “Quốc gia không có biển” (Etat sans littoral) có nghĩalà mọi quốc gia không có bờ biển;

b) “Quốc gia quá cảnh” (Etat de transit) là mọi quốcgia có hay không có bờ biển, ở giữa một quốc gia không có bờ biển và biển, việcvận chuyển quá cảnh phải đi qua quốc gia đó;

c) “Vận chuyển quá cảnh” (trafic en transit) là việcquá cảnh người, hàng hóa, của cải và các phương tiện vận tải qua lãnh thổ của mộthay nhiều quốc gia quá cảnh, khi quãng đường ở trên lãnh thổ này, dù có hoặckhông có việc chuyển tải, việc lưu kho, việc chở hàng bị ngắt quãng hay việcthay đổi phương thức vận chuyển, chỉ là một phần của một chuyến đi hoàn chỉnhhay bắt đầu kết thúc trên lãnh thổ của quốc gia không có bờ biển;

d) “Phương tiện vận chuyển” (moyens de transport) là:

i. Phương tiện chạy trên đường sắt, tàu đi biển, tàu chạytrên hồ, trên sông và các xe cộ trên đường bộ;

ii. Khi các điều kiện địa phương bắt buộc, là những ngườikhuân vác hoặc súc vật kéo.

2. Các quốc gia không có biển và các quốc gia quá cảnh cóthể thỏa thuận xếp vào các phương tiện vận chuyển các ống dẫn và ống dẫn khíđốt và các phương tiện khác ngoài các phương tiện đã nêu ở khoản 1.

ĐIỀU 125. Quyền đi ra biển và từbiển vào, và tự do quá cảnh

1. Các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và từ biểnvào để sử dụng các quyền được trù định trong Công ước, kể cả các quyền liênquan đến tự do trên biển cả và liên quan đến di sản chung của loài người. Vìmục đích ấy, các quốc gia đó được hưởng tự do quá cảnh qua lãnh thổ của cácquốc gia quá cảnh bằng mọi phương tiện vận chuyển.

2. Các điều kiện và thể thức sử dụng quyền tự do quá cảnhđược thỏa thuận giữa các quốc gia không có biển và các quốc gia quá cảnh hữuquan qua con đường thỏa thuận tay đôi, phân khu vực hay khu vực.

3. Trong việc sử dụng chủ quyền toàn vẹn trên lãnh thổ củamình, các quốc gia quá cảnh có quyền ra tất cả mọi biện pháp cần thiết để đảmbảo rằng, các quyền và các điều kiện thuận lợi được quy định trong phần này vìlợi ích của quốc gia không có biển, không hề đụng chạm đến lợi ích chính đángcủa quốc gia quá cảnh.

ĐIỀU 126. Loại trừ việc áp dụng điềukhoản tối huệ quốc

Các quy định của Công ước cũng như các điều ước đặc biệtliên quan đến việc sử dụng quyền ra biển và đi từ biển vào trù định các quyềnvà các điều kiện thuận lợi cho các quốc gia không có biển do vị trí địa lý đặcbiệt của quốc gia đó, bị loại trừ khỏi việc áp dụng điều khoản tối huệ quốc.

ĐIỀU 127. Các thuế quan, thuế và cáckhoản lệ phí khác

1. Việc vận chuyển quá cảnh không phải nộp thuế quan, thuế haymọi khoản lệ phí khác, ngoài các khoản thuế trả cho các dịch vụ đặc biệt liênquan đến việc vận chuyển đó.

2. Các phương tiện vận chuyển quá cảnh và các điều kiệnthuận lợi khác cho việc quá cảnh dành cho quốc gia không có biển và được quốcgia này sử dụng, không phải chịu các thứ thuế hay các khoản lệ phí cao hơn cáckhoản phải trả cho việc sử dụng các phương tiện vận chuyển của quốc gia quácảnh.

ĐIỀU 128. Vùng miễn thuế và các điềukiện thuận lợi khác về hải quan Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quá cảnh,vùng miễn thuế hay các điều kiện hải quan thuận lợi khác có thể trù định ở cảngvào và cảng ra của các quốc gia quá cảnh, qua con đường thỏa thuận giữa quốc gianày và các quốc gia không có biển.

ĐIỀU 129. Sự hợp tác trong việc đóngvà cải tiến các phương tiện vận chuyển

Khi trong các quốc gia quá cảnh không có các phương tiện vậnchuyển cho phép sử dụng thật sự quyền tự do quá cảnh, hoặc khi các phương tiệnhiện có, kể cả các trang thiết bị cảng, không thích đáng về bất cứ một phươngdiện nào, quốc gia quá cảnh và quốc gia không có biển hữu quan có thể hợp tácđể đóng hay cải tiến các phương tiện hiện có.

ĐIỀU 130. Các biện pháp nhằm tránhtình trạng chậm trễ hay những khó khăn có tính chất kỹ thuật trong việc vậnchuyển quá cảnh, hay nhằm để loại trừ các nguyên nhân gây ra tình trạng đó

1. Quốc gia quá cảnh thi hành mọi biện pháp thích hợp đểtránh mọi tình trạng chậm trễ hay những khó khăn có tính chất kỹ thuật trong việcvận chuyển quá cảnh.

2. Các nhà đương cục có thẩm quyền của quốc gia quá cảnhkhông có biển, trong trường hợp có tình trạng chậm trễ hay khó khăn, hợp tác đểnhanh chóng loại trừ các nguyên nhân của tình trạng đó.

ĐIỀU 131. Việc đối xử bình đẳng ởtrong các cảng biển

Các tàu mang cờ của một quốc gia không có biển được hưởngtrong các cảng biển sự đối xử bình đẳng như các tàu nước ngoài khác.

ĐIỀU 132. Việc dành những điều kiệnthuận lợi rộng rãi hơn cho việc quá cảnh

Công ước không có hàm ý rút bớt những điều kiện thuận lợirộng rãi hơn những điều mà Công ước đã trù định và đã được sự thỏa thuận giữa cácquốc gia thành viên hay đã được một quốc gia thành viên chấp nhận. Công ướccũng tuyệt đối không cấm các quốc gia thành viên trong tương lai dành nhữngđiều kiện thuận lợi rộng rãi hơn.

Phần XI

VÙNG

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 133. Sử dụng các thuật ngữ

Trong phần này

a) “Tài nguyên” (ressources) là tất cả các tài nguyên khoángsản ở thể rắn, lỏng hoặc khí in situ (ở ngay tại chỗ) trong Vùng, nằm ở đáybiển hay lòng đất dưới đáy biển này, kể cả các khối đá kim (nodulespolymétalliques);

b) Các tài nguyên, một khi đã được khai thác từ Vùng, đượcgọi là “các khoáng sản” (minéraux)

ĐIỀU 134. Phạm vi áp dụng của phầnnày

1. Phần này được áp dụng đối với Vùng

2. Các hoạt động tiến hành trong Vùng do phần này điềuchỉnh.

3. Việc gửi lưu chiểu các bản đồ hay bản kê các tọa độ địalý xác định vị trí các ranh giới nêu ở Điều 1, khoản 1, cũng như việc công bốcác bản đồ hay bản kê tọa độ đó, do phần VI điều chỉnh.

4. Không một điều nào của quy định này đụng chạm đến việcxác đinh ranh giới ngoài của thềm lục địa theo đúng phần VI hay đến hiệu lựccủa các điều ước liên quan đến việc hoạch định ranh giới giữa các quốc gia cóbờ biển tiếp liền hay đối diện nhau.

ĐIỀU 135. Chế độ pháp lý của vùngnước và vùng trời nói trên

Phần này cũng như các quyền được hưởng hay được thực hiệntheo phần này không ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên Vùnghay đến chế độ pháp lý của vùng trời ở phía trên vùng nước này.

Mục 2. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ VÙNG

ĐIỀU 136. Di sản chung của loàingười

Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người.

ĐIỀU 137. Chế độ pháp lý của Vùng vàcác tài nguyên của nó

1. Không một quốc gia nào có thể đòi hỏi thực hiện chủ quyềnhay các quyền thuộc chủ quyền ở một phần nào đó của Vùng hoặc đối với tàinguyên của Vùng; không một quốc gia nào và không một tự nhiên nhân hay phápnhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ một phần nào đó của Vùng hoặc tài nguyên củaVùng. Không một yêu sách, một việc thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộcquyền chủ quyền này cũng như một hành động chiếm đoạt nào được thừa nhận.

2. Toàn thể loài người, mà Cơ quan quyền lực là người thaymặt có tất cả các quyền đối với các tài nguyên của Vùng. Những tài nguyên nàykhông thể chuyển nhượng được. Còn các khoáng sản đã được khai thác từ Vùng thì chỉcó thể chuyển nhượng theo đúng phần này và phù hợp với các nguyên tắc, quy địnhvà các thủ tục của Cơ quan quyền lực.

3. Một quốc gia hay một tự nhiên nhân hay pháp nhân chỉ đượcđòi hỏi, giành lấy hoặc thực hiện các quyền đối với các khoáng sản đã được khaithác ở Vùng theo đúng phần này. Các quyền đã đòi hỏi, giành được hay được thựchiện bằng cách khác đều không được thừa nhận.

ĐIỀU 138. Cách xử sự chung của cácquốc gia liên quan đến Vùng

Trong cách xử sự chung liên quan đến Vùng, các quốc gia tuântheo phần này, các nguyên tắc được nêu trong Hiến chương Liên Hợp quốc và cácquy tắc khác của pháp luật quốc tế, với sự quan tâm giữ gìn hòa bình và anninh, đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế và hiểu biết lẫn nhau.

ĐIỀU 139. Nghĩa vụ chăm lo đến việc tôntrọng Công ước và trách nhiệm trong trường hợp có thiệt hại

1. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ quan tâm đến việc bảođảm cho các hoạt động trong Vùng, dù do bản thân các quốc gia đó, do các xínghiệp Nhà nước của họ hoặc do các tự nhiên nhân hay pháp nhân mang quốc tịchcủa họ hoặc chịu sự kiểm soát thật sự của họ hay các công dân của họ, được tiếnhành theo đúng với phần này. Các tổ chức quốc tế cũng có nghĩa vụ như vậy vớicác hoạt động trong vùng.

2. Không phương hại đến các quy tắc của pháp luật quốc tế vàđến Điều 22 của Phụ lục III, một quốc gia thành viên hay một tổ chức quốc tếphải chịu những trách nhiệm về các thiệt hại do một thiếu sót của mình đối vớinhững nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo phần này; các quốc gia thành viên haycác tổ chức quốc tế khi cùng hành động thì phải liên đới chịu trách nhiệm. Tuynhiên, quốc gia thành viên không chịu trách nhiệm về các thiệt hại do một thiếusót như vậy của một người do quốc gia này bảo trợ theo Điều 153; khoản 2, điểmb, nếu quốc gia này đã thi hành tất cả các biện pháp cần thiết và thích hợp đểbảo đảm việc tôn trọng thật sự phần này của các phụ lục có liên quan, như đãtrù định trong Điều 153, khoản 4 và Điều 4 khoản 4 của Phụ lục III.

3. Các quốc gia thành viên là hội viên của các tổ chức quốctế cần thi hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm việc áp dụng điều này đốivới các tổ chức đó.

ĐIỀU 140. Lợi ích của loài người

1. Các hoạt động trong vùng được tiến hành, như đã được ghinhận rõ ràng trong phần này, là vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụthuộc vào vị trí của các quốc gia, dù là quốc gia có biển hay không có biển, vàcó lưu ý đặc biệt đến các lợi ích và nhu cầu của quốc gia đang phát triển vàcủa các dân tộc chưa giành được nền độc lập đầy đủ hay một chế độ tự trị khác đượcLiên hợp quốc thừa nhận theo đúng Nghị quyết 1514 (XV) và các nghị quyết tươngứng khác của Đại hội đồng.

2. Cơ quan quyền lực bảo đảm việc phân chia công bằng, trêncơ sở không phân biệt đối xử, những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khácdo những hoạt động tiến hành trong Vùng qua một bộ máy thích hợp theo đúng Điều160 khoản 2, điểm f, điểm nhỏ i, đem lại.

ĐIỀU 141. Sử dụng vùng vào những mụcđích hoàn toàn hòa bình

Vùng để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù quốc gia có biển haykhông có biển, sử dụng vào những mục đích hoàn toàn hòa bình, không phân biệtđối xử và không phương hại đến các điều quy định khác của phần này.

ĐIỀU 142. Các quyền và lợi ích chínhđáng của các quốc gia ven biển

1. Trong trường hợp các vỉa tài nguyên của Vùng trải rộng rangoài ranh giới của Vùng, thì những hoạt động tiến hành trong Vùng cũng được mởrộng như thế, nhưng phải tính đến các quyền và lợi ích chính đáng của quốc giaven biển có quyền tài phán đối với các vỉa tài nguyên nói trên.

2. Một phương thức tham khảo ý kiến với quốc gia hữu quan,và nhất là phương thức thông báo trước, đặt ra để tránh bất kỳ sự xâm phạm nàođến các quyền và lợi ích đó. Trong những trường hợp mà các hoạt động tiến hànhtrong Vùng có thể dẫn đến việc khai thác các tài nguyên ở phía trong các ranhgiới thuộc quyền tài phán quốc gia của một quốc gia ven biển thì cần phải có sựđồng ý trước của quốc gia này.

3. Phần này cũng như các quyền được thừa nhận hay được sửdụng theo phần này, không xâm phạm đến quyền của quốc gia ven biển được thihành những biện pháp phù hợp với các quy định tương ứng của phần XII có thể cầnthiết để ngăn ngừa, hạn chế hay loại bỏ một mối nguy hiểm nghiêm trọng và sắpxảy ra đối với vùng duyên hải của họ hoặc đối với các lợi ích có liên quan domột tình trạng ô nhiễm hay một sự đe dọa ô nhiễm nảy sinh từ tất cả các hoạtđộng tiến hành trong Vùng hay do tất cả các tai nạn khác gây ra bởi các hoạtđộng đó.

ĐIỀU 143. Việc nghiên cứu khoa họcbiển

1. Việc nghiên cứu khoa học biển trong Vùng được tiến hànhnhằm những mục đích hoàn toàn hòa bình và vì lợi ích của toàn thể loài ngườitheo đúng phần XIII.

2. Cơ quan quyền lực có thể thực hiện các công trình nghiêncứu khoa học biển đối với Vùng và các tài nguyên của Vùng và có thể ký các hợpđồng nhằm mục đích này. Cơ quan quyền lực tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khíchviệc nghiên cứu khoa học biển trong Vùng; phối hợp, phổ biến các kết quả củacác công trình nghiên cứu và phân tích đó khi chúng sẵn sàng sử dụng được.

3. Các quốc gia thành viên có thể tiến hành các công trìnhnghiên cứu khoa học biển trong Vùng. Các quốc gia này tạo điều kiện dễ dàng choviệc hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học biển trong vùng, bằng cách:

a) Tham gia các chương trình quốc tế và khuyến khích việc hợptác về nghiên cứu khoa học biển do nhân viên của các nước và nhân viên của Cơquan quyền lực thực hiện;

b) Quan tâm đến việc các chương trình, được soạn thảo quatrung gian của Cơ quan quyền lực hay tùy theo tình hình, qua trung gian của cáctổ chức quốc tế khác, vì lợi ích của các quốc gia đang phát triển và các quốcgia kém phát triển về mặt kỹ thuật, nhằm:

i. Tăng cường tiềm lực nghiên cứu của họ;

ii. Đào tạo nhân viên của quốc gia đó và nhân viên của Cơquan quyền lực về kỹ thuật và về ứng dụng công trình nghiên cứu tiến hành trongVùng;

c) Phổ biến một cách có hiệu quả các kết quả nghiên cứu vàphân tích, khi các kết quả này có thể sử dụng được, qua trung gian của Cơ quanquyền lực hay nếu có thể, qua các bộ máy quốc tế khác.

ĐIỀU 144. Chuyển giao kỹ thuật.

1. Theo đúng Công ước, Cơ quan quyền lực thi hành các biệnpháp để:

a) Nắm được những kỹ thuật và kiến thức khoa học liên quanđến các hoạt động tiến hành trong Vùng; và

b) Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích việc chuyển giaocho các quốc gia đang phát triển các kỹ thuật và kiến thức khoa học nói trên,sao cho mọi quốc gia thành viên đều được hưởng.

2. Vì mục đích này, Cơ quan quyền lực và các quốc gia thànhviên hợp tác để thúc đẩy việc chuyển giao kỹ thuật và các kiến thức khoa họcliên quan đến những hoạt động tiến hành trong Vùng sao cho Xí nghiệp và tất cảcác quốc gia thành viên đều có thể được hưởng. Đặc biệt, Cơ quan quyền lực vàcác quốc gia thành viên đề xuất hoặc khuyến khích:

a) Các chương trình để chuyển giao cho Xí nghiệp và cho cácquốc gia đang phát triển các kỹ thuật liên quan đến các hoạt động tiến hànhtrong Vùng, nhất là trù định cho Xí nghiệp và các quốc gia đang phát triển,những điều kiện thuận lợi để nắm được các kỹ thuật thích hợp theo những thểthức và các điều kiện công bằng hợp lý;

b) Những biện pháp nhằm bảo đảm sự tiến bộ về kỹ thuật củaXí nghiệp và những kỹ thuật trong nước của các quốc gia đang phát triển, đặcbiệt là tạo điều kiện cho nhân viên của Xí nghiệp và của các quốc gia này được đàotạo về khoa học và kỹ thuật biển, cũng như được tham gia đầy đủ vào các hoạtđộng tiến hành trong vùng.

ĐIỀU 145. Bảo vệ môi trường biển

Đối với các hoạt động tiến hành trong Vùng, các biện phápcần thiết phải được thi hành theo đúng Công ước để bảo vệ có hiệu quả môitrường biển chống lại những tác hại có thể do các hoạt động đó gây ra. Vì mụcđích đó, Cơ quan quyền lực định ra các quy tắc, quy định và thủ tục thích hợp,đặc biệt nhằm để:

a) Ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự nạn ô nhiễm môi trườngbiển, kể cả vùng duyên hải và đối phó với những nguy cơ khác đe dọa môi trườngđó, cũng như với bất kỳ sự biến động nào về tình trạng cân bằng sinh thái củamôi trường biển, bằng cách, đặc biệt chú ý đến sự cần thiết phải bảo vệ môitrường chống lại những tác hại của những hoạt động như khoan, nạo vét, đào,loại bỏ các chất thải, xây dựng và khai thác hay bảo dưỡng các thiết bị, ốngdẫn và các phương tiện khác được sử dụng vào các hoạt động này;

b) Bảo vệ và bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên của Vùng và phòngngừa thiệt hại đối với hệ thực vật và động vật ở biển.

ĐIỀU 146. Bảo vệ sự sống của conngười

Đối với các hoạt động tiến hành trong Vùng, những biện pháp cầnthiết phải được thi hành để bảo đảm việc bảo vệ có hiệu quả sự sống của conngười. Vì mục đích ấy, Cơ quan quyền lực định ra các quy tắc, quy định và thủtục thích hợp để bổ sung cho pháp luật quốc tế hiện tại như đã ghi trong cáchiệp ước về vấn đề này.

ĐIỀU 147. Sự phù hợp của các biệnpháp được tiến hành ở trong Vùng và các hoạt động khác đang thực hiện trong môitrường biển

1. Các hoạt động được tiến hành trong Vùng cần phải đượcquan tâm một cách hợp lý đến các hoạt động khác đang được thực hiện trong môitrường biển.

2. Các điều kiện sau đây được áp dụng cho các thiết bị đượcsử dụng cho các hoạt động tiến hành trong Vùng:

a) Các thiết bị này chỉ được xây lắp, bố trí và tháo gỡ theođúng với phần này và trong các điều kiện do các quy tắc, quy định và thủ tụccủa Cơ quan quyền lực đề ra. Việc xây lắp, bố trí và tháo gỡ chúng phải đượcthông báo đúng thủ tục và cần phải duy trì các phương tiện thường trực để báohiệu sự có mặt của các thiết bị đó;

b) Các thiết bị này không được đặt ở các vị trí có thể gâytrở ngại cho việc sử dụng các đường giao thông được thừa nhận là thiết yếu đốivới hàng hải quốc tế, cũng không được đặt trong các vùng mật độ đánh cá tậptrung;

c) Các thiết bị này được các vùng an toàn bao quanh; cácvùng an toàn này được đánh dấu một cách thích hợp để bảo đảm an toàn cho bảnthân và các thiết bị đó và cho hàng hải. Hình thể và vị trí của các Vùng antoàn này được xác định sao cho chúng không tạo thành một vành đai cản trở cáctàu thuyền đi đến một số Vùng biển nào đó một cách hợp pháp, hay cản trở giaothông trên các đường hàng hải quốc tế;

d) Các thiết bị này được dùng vào những mục đích hoàn hòabình;

e) Các thiết bị này không có quy chế của các đảo. Chúngkhông có lãnh hải riêng; sự có mặt của chúng không ảnh hưởng đến việc hoạchđịnh ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế hay thềm lục địa.

3. Các hoạt động khác diễn ra trong môi trường biển đượctiến hành với sự chú ý đúng mức đến các hoạt động được tiến hành trong Vùng.

ĐIỀU 148. Sự tham gia của các quốcgia đang phát triển vào các hoạt động tiến hành trong Vùng

Việc tham gia của các quốc gia đang phát triển vào các hoạtđộng tiến hành trong Vùng được khuyến khích, như đã được trù định rõ ràng trongphần này, với sự chú ý thích đáng đến các nhu cầu và lợi ích đặc biệt của cácquốc gia này, và nhất là nhu cầu đặc biệt của các quốc gia đang phát triểnkhông có biển hay ở vào hoàn cảnh địa lý bất lợi, cần vượt qua những trở ngạido vị trí bất lợi của họ gây ra, đặc biệt là vì họ ở xa Vùng và việc họ đếnVùng và rời khỏi Vùng đều khó khăn.

ĐIỀU 149. Các di vật khảo cổ và lịchsử

Tất cả các di vật khảo cổ hay lịch sử tìm thấy ở trong Vùng,đều được bảo tồn hay nhượng lại, vì lợi ích của toàn thể loài người, đặc biệtquan tâm đến các quyền ưu tiên của quốc gia hay của nơi xuất xứ hoặc của quốcgia xuất xứ về văn hóa, hay còn của quốc gia xuất xứ về lịch sử hay khảo cổ.

Mục 3. KHAI THÁC CÁC TÀI NGUYÊN CỦAVÙNG

ĐIỀU 150. Chính sách chung liên quanđến các hoạt động tiến hành trong Vùng

Các hoạt động tiến hành trong Vùng, như đã được trù định rõràng trong phần này, phải làm sao tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hàihòa nền kinh tế thế giới và sự mở rộng một cách cân đối nền thương mại quốc tế,thúc đẩy hợp tác quốc tế vì sự phát triển toàn diện của tất cả các quốc gia, vàđặc biệt là các quốc gia đang phát triển, và nhằm:

a) Khai thác các tài nguyên của Vùng;

b) Quản lý một cách có phương pháp, chắc chắn và hợp lý các tàinguyên của Vùng, đặc biệt quan tâm làm sao cho các hoạt động tiến hành trong Vùngcó hiệu quả, tránh bất kỳ sự lãng phí nào, theo đúng những nguyên tắc đúng đắnvề bảo tồn.

c) Tăng cường các khả năng tham gia vào các hoạt động này,đặc biệt là phù hợp với Điều 144 và Điều 148;

d) Bảo đảm cho Cơ quan quyền lực được dự phần vào các thunhập và việc chuyển giao kỹ thuật cho Xí nghiệp và cho các quốc gia đang pháttriển theo đúng Công ước;

e) Tùy theo nhu cầu, tăng thêm số lượng khoáng sản khai tháctừ Vùng để cùng với các khoáng sản khai thác từ nguồn khác, bảo đảm cung cấpcho người tiêu thụ các khoáng sản này;

f) Tạo điều kiện thuận lợi để hình thành giá cả đúng và ổnđịnh đối với các khoáng sản được khai thác từ Vùng, cũng như các khoáng sản từcác nguồn khác, có lợi cho người sản xuất và đúng mức cho người tiêu thụ, bảođảm sự cân bằng lâu dài giữa cung và cầu;

g) Tạo cho tất cả các quốc gia thành viên, bất kể chế độ xãhội và kinh tế hay địa lý của họ như thế nào, có những khả năng to lớn hơn trongviệc tham gia khai thác các tài nguyên của Vùng, và ngăn cản việc độc quyền hóacác hoạt động tiến hành trong Vùng;

h) Bảo vệ các quốc gia đang phát triển, theo đúng Điều 151,khỏi những ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế hay thu nhập về xuất khẩu củahọ do việc hạ giá của một khoáng sản trong số các khoáng sản được khai tháctrong Vùng hay do sự giảm bớt khối lượng xuất khẩu loại khoáng sản này, trong chừngmực mà việc hạ giá hay giảm bớt đó do các hoạt động tiến hành trong Vùng gâyra;

i) Khai thác di sản chung vì lợi ích của toàn thể loàingười;

j) Làm sao cho những điều kiện tiếp xúc với các thị trường đểnhập khẩu các khoáng sản khai thác từ Vùng và nhập khẩu những sản phẩm đầu tiênđược rút ra từ những khoáng sản này, không thuận lợi hơn những điều kiện thuậnlợi nhất áp dụng cho việc nhập khẩu các khoáng sản và các sản phẩm đầu tiênkhai thác được từ các nguồn khác.

ĐIỀU 151. Chính sách về sản xuất

1. a) Không phương hại đến những mục tiêu đã được nêu ở Điều150 và nhằm áp dụng điểm h) của điều đó, qua trung gian của các cấp thẩm quyềnhiện có, hay nếu cần thì, trong khuôn khổ của những dàn xếp hay hiệp định mớivới sự tham gia của tất cả các bên hữu quan, kể cả người sản xuất và người tiêuthụ, Cơ quan quyền lực thi hành các biện pháp cần thiết để tạo thuận lợi cho sựgia tăng, sự hoạt động có hiệu quả và sự ổn định của các thị trường đối vớinhững sản phẩm đầu tiên rút ra từ các khoáng sản khai thác trong Vùng, với giácả có lợi cho người sản xuất và đúng mức đối với người tiêu thụ. Tất cả cácquốc gia thành viên hợp tác vì mục đích này.

b) Cơ quan quyền lực có quyền tham gia vào bất kỳ hội nghịsản phẩm nào bàn về những sản phẩm đầu tiên này, và ở đó, tất cả các bên hữuquan, kể cả người sản xuất và người tiêu thụ, đều tham dự. Cơ quan quyền lực cóquyền trở thành thành viên của bất kỳ sự dàn xếp hay hiệp định nào đạt được khikết thúc những hội nghị như vậy. Đối với những vấn đề có liên quan đến việc sảnxuất trong Vùng, Cơ quan quyền lực tham gia vào bất kỳ cơ quan nào được lập ratheo dàn xếp hay hiệp định đã nêu trên theo đúng các quy tắc có liên quan đếncơ quan đó.

c) Cơ quan quyền lực làm tròn các nghĩa vụ được giao phótheo các dàn xếp hay hiệp định nói ở khoản này, bảo đảm cho các dàn xếp hayhiệp định đó được áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với toàn bộviệc sản xuất các khoáng sản có liên quan trong vùng. Làm như thế, Cơ quan quyềnlực hành động một cách phù hợp với các điều khoản của các hợp đồng hiện hành vàcác quy định của những kế hoạch làm việc của Xí nghiệp đã được chuẩn y.

2. a) Trong giai đoạn quá độ được định rõ ở khoản 3, việcsản xuất hàng hóa chỉ có thể bắt đầu dưới danh nghĩa một kế hoạch làm việc đã đượcchuẩn y, nếu người khai thác đã xin phép Cơ quan quyền lực và đã được Cơ quanquyền lực cho phép sản xuất; Việc cho phép này không thể xin hay cấp trước thờihạn dự kiến bắt đầu sản xuất hàng hóa theo kế oạch làm việc quá 5 năm, trừ khiCơ quan quyền lực quy định một thời hạn khác trong các quy tắc, quy định và thủtục của mình, căn cứ vào tính chất và tiến trình thực hiện các dự án;

b) Trong đơn xin phép của mình, người khai thác ghi rõ sốlượng kền hàng năm dự kiến khai thác theo kế hoạch làm việc đã được chuẩn y.Đơn này gồm có 1 bảng chi phí mà, sau khi nhận được giấy phép, sẽ được ngườikhai thác thực hiện và đã được tính toán một cách hợp lý để cho phép người khaithác bắt đầu việc sản xuất hàng hóa vào thời điểm đã được dự định.

c) Để áp dụng các điểm a và b, Cơ quan quyền lực định ra cácquy phạm về hiệu quả, theo đúng Điều 17 của Phụ lục III.

d) Cơ quan quyền lực cấp một giấy phép sản xuất theo sốlượng được ghi rõ trong đơn yêu cầu, trừ khi tổng số lượng này và những sốlượng được phép trước đây vượt quá, đối với bất cứ một năm sản xuất nào tronggiai đoạn quá độ, mức cao nhất về sản lượng kền được tính toán theo đúng khoản4 cho năm mà giấy phép được cấp;

e) Đơn xin và cấp giấy phép sản xuất trở thành bộ phận hữucơ của kế hoạch làm việc được chuẩn y;

f) Nếu đơn xin phép của người khai thác bị từ chối theo điểmd, người này bất cứ lúc nào cũng có thể nộp đơn mới cho Cơ quan quyền lực.

3. Giai đoạn quá độ bắt đầu 5 năm trước ngày mùng 1 thángGiêng của năm dự tính bắt đầu việc sản xuất hàng hóa đầu tiên với danh nghĩacủa một kế hoạch làm việc đã được chuẩn y. Trong trường hợp việc bắt đầu sảnxuất hàng hóa bị hoãn đến một năm nào đó sau năm đã dự kiến thì thời điểm bắtđầu của giai đoạn quá độ và mức tối đa của sản lượng tính toán ban đầu đượcđiều chỉnh lại cho phù hợp. Giai đoạn quá độ kết thúc sau 25 năm, hoặc cho đếnkhi kết thúc Hội nghị xét duyệt lại được nêu ở Điều 155, hay cho đến ngày màcác thỏa thuận hay hiệp định mới đề cập ở khoản 1 có hiệu lực, thời hạn nào gầnnhất thì được sử dụng, nếu các thỏa thuận hay hiệp định đó đã trở nên hết hiệulực hay không còn tác dụng vì một lý do nào đó, thì những quyền được trù địnhtrong điều này đối với phần còn lại của giai đoạn quá độ được trao lại cho Cơquan quyền lực.

4. a) Mức sản xuất tối đa có hiệu lực cho bất cứ một năm nàocủa giai đoạn quá độ có được do tổng của:

i. Số chênh lệch giữa giá trị của đường biểu diễn xu hướngtiêu thụ kền cho năm trước năm bắt đầu sản xuất hàng hóa đầu tiên và giá trịcủa đường biểu diễn đó cho năm ngay trước khi bắt đầu giai đoạn quá độ, các giátrị đó được tính theo đúng điểm b; và

ii. 60% số chênh lệch giữa giá trị của đường biểu diễn xuhướng tiêu thụ kền cho năm xin cấp giấy phép sản xuất và giá trị của đường biểudiễn này cho năm trước năm bắt đầu sản xuất hàng hóa đầu tiên; những giá trịnày được tính toán theo đúng điểm h.

b) Trong điểm a này:

i. Những giá trị của đường biểu diễn xu hướng được sử dụngđể tính toán mức sản lượng kền tối đa là những giá trị tiêu thụ kền hàng nămthể hiện trên một đường biểu diễn xu hướng độc lập nên trong năm cấp giấy phépsản xuất. Đường biểu diễn đó được lập ra theo phép hồi quy tuyến tính lô-ga-rítcác số liệu vầ mức tiêu thụ kền thực sự hàng năm tương ứng với giai đoạn 15 nămgần nhất mà người ta có các số liệu, thời gian được coi là biến số thiên độclập. Đường biểu diễn xu hướng này được gọi là đường biểu diễn xu hướng ban đầu;

ii. Nếu tỷ suất tăng hàng năm được thể hiện trên đường biểudiễn xu hướng dưới 30% để xác định các số lượng đã nói ở điểm a, người ta thayđường biểu diễn này bằng một đường biểu diễn xu hướng lập ra sao cho nó cắtđường biểu diễn xu hướng ban đầu ở điểm biểu thị giá trị tiêu thụ cho năm đầucủa thời kỳ 15 năm được xem xét, và để cho độ dốc của nó phù hợp với một sự giatăng hàng năm là 3%. Tuy nhiên, sản lượng tối đa được quy định cho một năm nàođó của giai đoạn quá độ trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể vượt quá sốchênh lệch giữa giá trị của đường biểu diễn xu hướng ban đầu cho năm xem xét đóvà giá trị của đường biểu diễn này cho năm ngay trước khi bắt đầu giai đoạn quáđộ.

5. Đối với mức sản xuất ban đầu của Xí nghiệp, Cơ quan quyềnlực dành cho Xí nghiệp một số lượng 38.000 tấn kền trên số lượng được ấn địnhlà sản lượng tối đa theo đúng khoản 4;

6. a) Trong một năm nào đó, một người khai thác có thể sảnxuất dưới mức sản xuất hàng năm các khoáng sản lấy từ các khối đa kim đã ghitrong giấy phép sản xuất của mình hoặc vượt qua mức đó, tối đa là 8%, miễn làtổng sản lượng không vượt quá sản lượng ghi trong giấy phép. Bất kỳ sự vượt quánào trong khoảng từ 8% đến 20% đối với một năm nào đó hay bất kỳ sự vượt quánào đối với một năm tiếp theo 2 năm liên tiếp trong đó mức sản xuất ấn định bịvượt, đều phải thương lượng với Cơ quan quyền lực; Cơ quan quyền lực có thểđòi người khai thác phải xin một giấy phép sản xuất bổ sung.

b) Cơ quan quyền lực chỉ xét các đơn yêu cầu sản lượng bổsung, khi mà cơ quan đó đã xét xong tất cả các đơn xin sản xuất đang chờ giảiquyết và đã xem xét đúng mức đến các khả năng còn có những đơn vị khác nữa.

Về vấn đề này nguyên tắc chỉ đạo của Cơ quan quyền lực làtrong bất cứ một năm nào của giai đoạn quá độ không được vượt quá tổng sảnlượng được phép sản xuất theo công thức hạn chế sản lượng. Cơ quan quyền lựckhông cho phép bất cứ một kế hoạch làm việc nào sản xuất một khối lượng vượtquá 46.500 tấn kền trong một năm.

7. Sản lượng các kim loại khác như đồng, cô-ban và măng-ganrút ra từ các khối đa kim được khai thác theo một giấy phép sản xuất, khôngđược vượt quá mức có thể đạt được, nếu như những người khai thác đã lấy ra từcác khối đa kim này số lượng kền tối đa tính đúng theo điều này. Cơ quan quyềnlực định ra các quy tắc, quy định và thủ tục theo đúng Điều 17 của Phụ lục III,trong đó có trù định các thể thức thi hành những khoản này.

8. Các quyền và nghĩa vụ liên quan đến các tập quán kinh tế khôngchính đáng được trù định trong khuôn khổ và các hiệp định thương mại nhiều bên tươngứng, được áp dụng vào công việc thăm dò và khai thác khoáng sản trong Vùng. Đểgiải quyết các tranh chấp thuộc phạm vi điều quy định này, các quốc gia thànhviên tham gia vào các hiệp định thương mại nhiều bên nói trên dựa vào các thủtục giải quyết các tranh chấp được trù định trong các hiệp định đó.

9. Cơ quan có quyền hạn chế mức sản xuất các khoáng sảntrong Vùng, ngoài các khoáng sản rút ra từ các khối đa kim, theo các điều kiện vàphương pháp mà Cơ quan quyền lực cho là thích hợp, bằng cách thông qua các quytắc theo đúng Điều 161, khoản 8.

10. Theo kiến nghị của Hội đồng, dựa trên ý kiến của Ủy bankế hoạch hóa kinh tế, Đại hội đồng định ra một chế độ bù trừ hoặc thi hành cácbiện pháp trợ giúp khác, có tác dụng tạo điều kiện dễ dàng cho việc điều chỉnhkinh tế, kể cả việc hợp tác với các cơ quan chuyên trách hay các tổ chức quốctế khác, đề giúp đỡ các nước đang phát triển mà nền kinh tế và thu nhập xuấtkhẩu bị ảnh hưởng nghiêm trọng trước những tác động bất lợi do một khoáng sảntrong số các khoáng sản được khai thác từ Vùng bị hạ giá hay do khối lượng xuấtkhẩu loại khoáng sản đuộc khai thác từ Vùng bị hạ giá hay do khối lượng xuấtkhẩu loại khoáng sản này của họ giảm sút, trong chừng mực mà việc hạ giá haygiảm sút khối lượng này do các hoạt động trong Vùng gây nên. Cơ quan quyền lựctiến hành nghiên cứu về những vấn đề của các quốc gia có nguy cơ bị ảnh hưởngnặng nề nhất, nhằm giảm đến mức tối thiểu những khó khăn của họ, và để giúp đỡ họtiến hành điều chỉnh kinh tế theo yêu cầu của họ.

ĐIỀU 152. Việc thi hành các quyềnhạn và chức năng

1. Cơ quan quyền lực tránh mọi sự phân biệt đối xử trong khithi hành quyền hạn và chức năng của mình, nhất là khi Cơ quan quyền lực chophép tiến hành các hoạt động trong Vùng.

2. Tuy nhiên, theo các điều được quy định rõ ràng của phầnnày, Cơ quan quyền lực có thể dành sự qua tâm đặc biệt đối với các quốc giađang phát triển, và đặc biệt là những quốc gia không có biển hay bất lợi về địalý trong số các quốc gia phát triển này.

ĐIỀU 153. Hệ thống thăm dò và khaithác

1. Các hợp đồng tiến hành trong Vùng được Cơ quan quyền lựcthay mặt cho toàn thể loài người tổ chức, thực hiện và kiểm soát theo đúng điềunày, và theo đúng các quy định tương ứng khác của phần này và phụ lục liên quanđến các hoạt động đó, cũng như, các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực.

2. Các hoạt động tiến hành trong Vùng theo đúng khoản 3 do cácthành phần sau đây tiến hành:

a) Xí nghiệp và,

b) Kết hợp với Cơ quan quyền lực, các quốc gia thành viênhay các xí nghiệp Nhà nước, hoặc các tự nhiên nhân hay pháp nhân có quốc tịchcủa các quốc gia thành viên hay do quốc gia đó hoặc các công dân của các quốcgia đó kiểm soát thực sự, khi họ được sự bảo trợ của các quốc gia này hoặc củabất kỳ một nhóm nào thuộc những loại kể trên đáp ứng các điều kiện được quyđịnh trong phần này và ở Phụ lục III;

3. Các hoạt động tiến hành trong Vùng phải theo một kế hoạchlàm việc chính thức và bằng văn bản, được lập ra theo đúng phụ lục III và đượcHội đồng chuẩn y, sau khi được Ủy ban pháp lý và kỹ thuật xem xét. Trong trườnghợp các hoạt động tiến hành trong vùng theo giấy phép của Cơ quan quyền lực docác thể hay cá nhân nói ở khoản 2, điểm b thực hiện, kế hoạch làm việc manghình thức của một hợp đồng, theo đúng Điều 3 của Phụ lục III. Hợp đồng có thểtrù định các thỏa thuận về liên doanh theo đúng Điều 11 của Phụ lục III.

4. Cơ quan quyền lực thực hiện kiểm soát cần thiết đối vớicác hoạt động tiến hành trong Vùng, để bảo đảm tôn trọng các quy định tương ứngcủa phần này và của các phụ lục có liên quan, các quy tắc, quy định và thủ tụccủa Cơ quan quyền lực, cũng như, các kế hoạch làm việc được chuẩn y theo đúngkhoản 3. Các quốc gia thành viên giúp đỡ Cơ quan quyền lực bằng cách thi hànhtất cả các biện pháp cần thiết để bảo đảm tôn trọng các văn bản này theo đúngĐiều 139.

5. Bất kỳ lúc nào, Cơ quan quyền lực cũng có quyền thi hànhmọi biện pháp được trù định trong phần này để bảo đảm tôn trọng phần này và đểcó thể thi hành các chức năng kiểm soát và ra quy định của mình theo phần nàyhay theo một hợp đồng. Cơ quan quyền lực có quyền kiểm tra tất cả các thiết bịđược sử dụng để tiến hành các hoạt động trong Vùng và được đặt ở trong Vùng.

6. Mọi hợp đồng được ký kết theo đúng khoản 3 đều trù địnhviệc bảo đảm danh nghĩa.

Do vậy, chỉ có thể xét lại, tạm hoãn hay hủy bỏ hợp đồngtheo các điều 18 và 19 của Phụ lục III.

ĐIỀU 154. Xem xét định kỳ

Cứ 5 năm một lần kể từ khi Công ước có hiệu lực, Đại hộiđồng lại tiến hành một cuộc xem xét chung và có hệ thống xem chế độ quốc tế củaVùng do Công ước lập ra đã hoạt động trong thực tiễn như thế nào. Dựa vào kếtquả của cuộc xem xét này, Đại hội đồng có thể thi hành hay khuyến nghị cho cáccơ quan khác thi hành các biện pháp phù hợp với các quy định, thủ tục được trùđịnh trong phần này và các phụ lục có liên quan và cho phép cải tiến sự hoạtđộng của chế độ.

ĐIỀU 155. Hội nghị xét duyệt lại

1. 15 năm sau ngày mùng 1 tháng Giêng của năm bắt đầu sảnxuất hàng hóa đầu tiên theo một kế hoạch làm việc đã được chuẩn y, Đại hội đồngsẽ triệu tập một hội nghị để xét duyệt lại các quy định của phần này và các phụlục có liên quan, điều chỉnh hệ thống thăm dò và khai thác tài nguyên của Vùng.Dưới ánh sáng của kinh nghiệm thu được trong giai đoạn qua, hội nghị sẽ xem xétcụ thể:

a) Các quy định trong phần này điều chỉnh hệ thống thăm dòvà khai thác tài nguyên của Vùng có đạt được những mục tiêu của chúng về mọimặt không, và nhất là xem toàn thể loài người có được hưởng lợi do các quy địnhđó đem lại không;

b) Xem trong thời hạn 15 năm này, các khu vực dành riêng có đượckhai thác một cách có hiệu quả và cân đối so với các khu vực không được dànhriêng không;

c) Xem việc khai thác và sử dụng Vùng và các tài nguyên củaVùng có được tiến hành theo cách tạo thuận lợi cho việc phát triển hài hòa củanền kinh tế thế giới và việc mở rộng cân đối nền thương mại quốc tế không;

d) Xem sự độc quyền hóa các hoạt động tiến hành trong Vùngđược ngăn ngừa hay không;

e) Xem xét các chính sách đã nêu ở các Điều 150 và 151 cóđược tuân thủ không; và

f) Hệ thống có cho phép phân chia một cách công bằng nhữngmối lợi thu được từ các hoạt động tiến hành trong Vùng, với sự quan tâm đặcbiệt đến lợi ích và nhu cầu của các quốc gia đang phát triển không.

2. Hội nghị xét duyệt quan tâm đến việc giữ vững nguyên tắcdi sản chung của loài người, chế độ quốc tế nhằm khai thác công bằng di sản đóvì lợi ích của tất cả các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển,và sự tồn tại của một Cơ quan quyền lực có trách nhiệm tổ chức tiến hành vàkiểm soát các hoạt động trong vùng. Hội nghị cũng quan tâm đến việc duy trì cácnguyên tắc đã được nêu trong phần này có liên quan đến việc loại trừ mọi yêu sáchvà mọi sự thực hiện chủ quyền ở một khu vực nào đó của Vùng, đến các quyền củacác quốc gia và thái độ chung của họ có quan hệ đến Vùng, cũng như việc thamgia của họ vào các hoạt động được tiến hành trong Vùng theo đúng Công ước, đến việcđộc quyền hóa các hoạt động tiến hành trong Vùng, việc chỉ sử dụng Vùng vàonhững mục đích hòa bình, những phương diện kinh tế của các hoạt động tiến hànhtrong Vùng, việc nghiên cứu khoa học biển, việc chuyển giao kỹ thuật, việc bảo vệmôi trường biển, và bảo vệ sự sống của con người, các quyền của các quốc giaven biển, chế độ pháp lý của vùng nước và vùng trời phía trên Vùng và sự phùhợp giữa các hoạt động tiến hành trong Vùng và các hoạt động khác trong môitrường biển.

3. Thủ tục ra quyết định áp dụng trong Hội nghị cũng là thủtục đã áp dụng ở Hội nghị về luật biển lần thứ ba của Liên hợp quốc. Hội nghịsẽ cố gắng hết sức để đi đến thỏa thuận về tất cả các điểm sửa đổi nếu có, bằngconsensus (thỏa thuận), và chỉ biểu quyết các vấn đề đó, sau khi đã cố gắng hếtsức mà không đi đến consensus (thỏa thuận).

4. Năm năm sau khi bắt đầu hội nghị xét duyệt lại, nếu khôngđi đến được thỏa thuận về hệ thống thăm dò và khai thác tài nguyên của Vùng thìtrong vòng 12 tháng sau đó, Hội nghị có thể quyết định theo đa số ba phần tưcác quốc gia thành viên thông qua và đưa ra cho các quốc gia thành viên phêchuẩn hay tham gia đối với những điều sửa đổi dẫn đến sự thay đổi hay sửa đổihệ thống, mà Hội nghị xét thấy cần thiết và thích hợp. Những điều sửa đổi nàysẽ có hiệu lực đối với tất cả các quốc gia thành viên 12 tháng sau ngày gửi lưuchiểu những văn kiện phê chuẩn hay tham gia ba phần tư quốc gia thành viên.

5. Những điểm sửa đổi được hội nghị xét duyệt lại thông quađiều này, sẽ không đụng chạm đến các quyền đã có được theo các hợp đồng hiệnhành.

Mục 4. CƠ QUAN QUYỀN LỰC

TIỂU MỤC A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 156. Thành lập Cơ quan quyềnlực

1. Một Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy biển được lập ra,hoạt động theo sự điều chỉnh của phần này.

2. Tất cả các quốc gia thành viên là những thành viên ipsofacto (tất nhiên) của Cơ quan quyền lực.

3. Các quan sát viên ở Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốcvề luật biển đã ký vào Định ước cuối cùng và không nằm trong phạm vi Điều 305,khoản 1, điểm c, d, e hay f có quyền tham dự vào các công việc của Cơ quanquyền lực với tư cách quan sát viên theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tụccủa Cơ quan quyền lực.

4. Cơ quan quyền lực đặt trụ sở ở Gia-mai-ca.

5. Cơ quan quyền lực có thể lập ra các trung tâm hay các cơquan chỉ đạo khu vực xét thấy cần thiết để thi hành chức năng của mình.

ĐIỀU 157. Tính chất của Cơ quanquyền lực và các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hoạt động của cơ quan này

1. Cơ quan quyền lực là tổ chức mà qua đó, các quốc giathành viên tổ chức và kiểm soát các hoạt động tiến hành trong Vùng, đặc biệt lànhằm mục đích quản lý các tài nguyên của Vùng theo đúng phần này.

2. Cơ quan quyền lực nắm các quyền hạn và chức năng Công ướcgiao phó một cách rõ ràng. Cơ quan quyền lực có những quyền hạn và chức năngnói trên đối với những hoạt động tiến hành trong Vùng.

3. Cơ quan quyền lực được thành lập trên nguyên tắc bình đẳngvề chủ quyền của tất cả các thành viên.

4. Để bảo đảm cho mỗi thành viên các quyền và lợi ích do tưcách thành viên mà có, tất cả các thành viên của Cơ quan quyền lực phải làmtròn một cách trung thực những nghĩa vụ của họ theo phần này.

ĐIỀU 158. Các cơ quan của Cơ quanquyền lực

1. Một đại hội đồng, một Hội đồng và một Ban thư ký được lậpra là những cơ quan chính của Cơ quan quyền lực.

2. Một Xí nghiệp được lập ra là cơ quan mà thông qua đó, cơquan quyền lực thi hành các chức năng được nêu ở Điều 170, khoản 1.

3. Các cơ quan phụ trợ được coi là cần thiết có thể được thànhlập theo đúng phần này.

4. Mỗi cơ quan chính của Cơ quan quyền lực và Xí nghiệp cónhiệm vụ thi hành những quyền hạn và chức năng đã được giao phó. Trong khi thihành các quyền hạn và chức năng này, mỗi cơ quan tránh những hành động có thểđụng cham hoặc làm hại cho việc thi hành các quyền hạn và chức năng riêng đãđược giao phó cho một cơ quan khác.

TIỂU MỤC B. ĐẠI HỘI ĐỒNG

ĐIỀU 159. Cơ cấu, thủ tục và biểuquyết

1. Đại hội đồng bao gồm tất cả các thành viên của Cơ quanquyền lực. Mỗi thành viên có một đại diện ở Đại hội đồng, người này có thể có nhữngngười thay thế và cố vấn đi theo.

2. Đại hội đồng họp thường kỳ hàng năm, và họp bất thường theoquyết định của Đại hội đồng hay do Tổng thư ký triệu tập theo yêu cầu của Hội đồnghay của đa số các thành viên của Cơ quan quyền lực.

3. Các khóa họp của Đại hội đồng được tiến hành tại trụ sởcủa Cơ quan quyền lực, trừ khi Đại hội đồng có quyết định khác.

4. Đại hội đồng thông qua quy chế nội bộ của mình. Mỗi khikhai mạc khóa họp thường kỳ, Đại hội đồng bầu ra chủ tịch và số ủy viên cầnthiết khác của cơ quan chỉ đạo. Những người này lãnh trách nhiệm cho đến khibầu cử một cơ quan chỉ đạo mối ở khóa họp thường kỳ tiếp theo.

5. Số đại biểu cần thiết (quorum) là đa số thành viên của Đạihội đồng.

6. Mỗi thành viên của Đại hội đồng có một phiếu.

7. Các quyết định về những vấn đề thủ tục kể cả việc triệutập một khóa họp bất thường của Đại hội đồng được thông qua theo đa số thànhviên có mặt và bỏ phiếu.

8. Các quyết định về các vấn đề nội dung phải được hai phầnba thành viên có mặt và bỏ phiếu thông qua, với điều kiện là đa số này phải gồmđa số các thành viên tham dự khóa họp. Trong trường hợp còn nghi ngờ không rõ cóphải là một vấn đề nội dung hay không, thì vấn đề bàn cãi đó được coi như làmột vấn đề nội dung, trừ trường hợp Cơ quan quyền lực có quyết định khác theođa số cần thiết đối với những quyết định về các vấn đề nội dung.

9. Khi một vấn đề nội dung sắp được đem ra biểu quyết lầnđầu thì Chủ tịch có thể hoãn và nếu có ít nhất một phần năm số thành viên củaĐại hội đồng yêu cầu, thì cần phải hoãn việc biểu quyết về điểm này trong mộtthời hạn không được quá 5 ngày. Quy tắc này chỉ có thể được áp dụng một lần đốivới cùng một vấn đề, và việc áp dụng quy tắc này không được làm cho vấn đề bịhoãn đến quá ngày kết thúc khóa họp.

10. Khi có ít nhất một phần tư số thành viên của Đại hộiđồng thỉnh cầu bằng một văn bản gửi lên Chủ tịch Đại hội đồng, yêu cầu các Đạihội đồng lấy ý kiến tư vấn xem một đề nghị đưa ra Đại hội đồng yêu cầu Việngiải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Tòa án quốc tế về luậtbiển có ý kiến tư vấn. Cuộc biểu quyết được hoãn đến khi Viện phát biểu ý kiến.Nếu trước khi khóa họp kết thúc một tuần mà chưa nhận được ý kiến tư vấn thìĐại hội đồng quyết định thời gian sẽ họp lại để biểu quyết về đề nghị đã bịhoãn lại đó.

ĐIỀU 160. Các quyền hạn và chức năng

1. Đại hội đồng, cơ quan duy nhất bao gồm tất cả các thànhviên của Cơ quan quyền lực, được coi là cơ quan tối cao của Cơ quan quyền lực;Các cơ quan chính khác chịu trách nhiệm trước nó, như đã được quy định rõ ràngtrong Công ước; Đại hội đồng có quyền, căn cứ vào các quy định tương ứng củaCông ước quyết định chính sách chung của Cơ quan quyền lực về bất kỳ vấn đề gìhay về bất kỳ việc gì thuộc thẩm quyền của Cơ quan quyền lực.

2. Ngoài ra, Đại hội đồng còn có các quyền hạn và chức năngsau đây:

a) Bầu ra các ủy viên của Hội đồng theo đúng Điều 161;

b) Bầu ra Tổng thư ký trong số các ứng cử viên do Hội đồngđề nghị;

c) Dựa vào giới thiệu của Hội đồng, bầu ra các ủy viên củaHội đồng quản trị và Tổng giám đốc Xí nghiệp;

d) Nếu cần, thì thành lập các cơ quan phụ trợ để có thể làmtròn các chức năng của mình theo đúng phần này. Về cơ cấu của các cơ quan phụtrợ này cần phải chú ý thích đáng đến nguyên tắc phân bổ công bằng theo địa lývề các thành viên, đến các lợi ích riêng biệt và đến sự cần thiết bảo đảm chocác cơ quan này tuyển chọn được các thành viên có trình độ và thông thạo trongnhững lĩnh vực mà họ đảm nhiệm;

e) Quy định phần đóng góp của các thành viên vào ngân sách hànhchính của Cơ quan quyền lực theo một ba-rem đã được sử dụng cho ngân sách thôngthường của Liên hợp quốc, cho đến khi Cơ quan quyền lực có được các khoản thunhập lấy từ các nguồn khác đủ để trang trải các chi phí hành chính của mình;

f) i. Dựa vào kiến nghị của Hội đồng, xem xét và phê chuẩncác quy tắc, quy định và thủ tục liên quan đến việc phân chia công bằng từ cácmối lợi về tài chính và các mối lợi về kinh tế khác thu được từ những hoạt độngtiến hành trong Vùng cũng như những đóng góp được trù định ở Điều 82, có quantâm đặc biệt đến các quyền lợi và nhu cầu của các nước đang phát triển và các dântộc chưa giành được độc lập hoàn toàn hay chưa được hưởng một chế độ tự trịkhác. Nếu đại hội đồng không tán thành các kiến nghị của Hội đồng, thì gửi trảlại các kiến nghị đó cho Hội đồng đề Hội đồng xem xét lại dưới ánh sáng cácquan điểm mà Đại hội đồng đã nêu ra;

ii. Xem xét và phê chuẩn các quy tắc, qui định và thủ tụccủa Cơ quan quyền lực, cũng như tất cả những điều sửa đổi đối với văn bản này,mà Hội đồng đã tạm thời chấp nhận theo Điều 162, khoản 2, điểm c, ii. Các quytắc, quy định và thủ tục này nhằm vào việc thăm dò, khảo sát và khai thác trongVùng, vào vấn đề quản lý tài chính và vấn đề hành chính nội bộ của Cơ quan quyềnlực và, trên cơ sở kiến nghị của Hội đồng quản trị của Xí nghiệp, vào vấn đềchuyển khoản của Xí nghiệp sang cho Cơ quan quyền lực;

g) Quyết định việc phân chia công bằng các mối lợi về tàichính và các mối lợi về kinh tế khác có được từ các hoạt động tiến hành trongVùng, một cách phù hợp với Công ước và các quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực;

h) Xem xét và phê chuẩn dự trù ngân sách hàng năm của Cơ quanquyền lực mà Hội đồng đã đệ trình lên;

i) Xem xét và báo cáo định kỳ của Hội đồng và của Xí nghiệp,cũng như các báo cáo đặc biệt mà Đại hội đồng yêu cầu Hội đồng và bất kỳ cơquan nào của Cơ quan quyền lực trình lên;

j) Cho tiến hành các cuộc nghiên cứu và soạn thảo các kiếnnghị nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế liên quan đến các hoạt động tiến hành trongvùng, và khuyến khích sự phát triển pháp luật quốc tế theo hướng tiến bọ vàpháp điển hóa bước phát triển đó;

k) Xem xét những vấn đề có tính chất chung có liên quan đếncác hoạt động tiến hành trong Vùng, đặc biệt là những vấn đề nảy sinh đối vớicác quốc gia đang phát triển, cũng như đối với những vấn đề mà các hoạt độngnày đặt ra đối với một số quốc gia, do vị trí địa lý của họ, nhất là các quốcgia không có biển và các quốc gia có hoàn cảnh địa lý bất lợi;

l) Theo kiến nghị của Hội đồng, dựa vào ý kiến của Ủy ban kếhoạch hóa kinh tế, lập ra một chế độ bù trừ hay thi hành các biện pháp giúp đỡkhác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh kinh tế như đã trù địnhtrong Điều 151, khoản 10;

m) Tuyên bố đình chỉ các quyền và các đặc quyền gắn liền vớitư cách thành viên theo Điều 185;

n) Thảo luận bất kỳ vấn đề gì hay việc gì thuộc thẩm quyền củaCơ quan quyền lực và quyết định một cách phù hợp với việc phân chia các quyềnvà chức năng giữa các cơ quan quyền lực xem cơ quan nào sẽ giải quyết một vấnđề gì hay một việc gì chưa được giao dứt khoát cho các cơ quan đó.

TIỂU MỤC C. HỘI ĐỒNG

ĐIỀU 161. Cơ cấu, thủ tục và bỏphiếu

1. Hội đồng gồm 36 ủy viên của Cơ quan quyền lực do Đại hộiđồng bầu ra theo thứ tự như sau:

a) Bốn ủy viên được lựa chọn trong số các quốc gia thànhviên mà việc tiêu thụ hay nhập khẩu thuần túy các sản phẩm cơ bản thuộc các loạikhoáng sản được khai thác trong vùng vượt quá 2% mức tiêu thụ hay mức nhập khẩucủa thế giới về các sản phẩm đó trong khoảng thời gian 5 năm lại đây có số liệuthống kê; trong số 4 ủy viên này, ít nhất phải có một quốc gia thuộc khu vựcĐông Âu (xã hội chủ nghĩa) cũng như quốc gia tiêu thụ lớn nhất;

b) Bốn ủy viên được lựa chọn trong số tám quốc gia thànhviên; những quốc gia này, trực tiếp hoặc qua trung gian của các công dân nướcmình, đã được thực hiện những khoản đầu tư quan trọng nhất cho việc chuẩn bị vàthực hiện những khoản đầu tư quan trọng nhất cho việc chuẩn bị và thực hiện cáchoạt động tiến hành trong Vùng; trong số bốn ủy viên này, ít nhất phải có mộtsố quốc gia thuộc khu vực Đông Âu (xã hội chủ nghĩa);

c) Bốn ủy viên được lựa chọn trong số tám quốc gia thànhviên; những quốc gia này, trực tiếp hoặc qua trung gian của các công dân nướcmình, đã thực hiện những khoản đầu tư quan trọng nhất cho việc chuẩn bị và thựchiện các hoạt động tiến hành trong Vùng; trong số bốn ủy viên này, ít nhất phảicó hai quốc gia đang phát triển mà nền kinh tế bị lệ thuộc nặng nề vào việcxuất khẩu các khoáng sản này;

d) Sáu ủy viên được lựa chọn trong số các quốc gia thành viênđang phát triển và đại diện cho những lợi ích đặc biệt. Những lợi ích đặc biệtphải được đại diện bao gồm những lợi ích của các quốc gia có dân số đông, củacác quốc gia không có viển hay ở vào hoàn cảnh địa lý bất lợi, của các quốc giatrong số các quốc gia nhập khẩu chủ yếu các loại khoáng sản sẽ được khai thác trongVùng, của các quốc gia có tiềm năng sản xuất các khoáng sản đó và của các quốcgia kém phát triển nhất;

e) Mười tám ủy viên được bầu theo nguyên tắc phân bổ côngbằng theo địa lý đối với toàn bộ số thành viên của Hội đồng; tất nhiên là theo quyđịnh này, cứ mỗi vùng địa lý có ít nhất là một quốc gia được bầu làm ủy viên.Các khu vực địa lý nói ở đây là Châu Phi, châu Mỹ la – tinh, châu Á, Đông Âu(xã hội chủ nghĩa), cũng như Tây Âu và các quốc gia khác.

2. Khi bầu các ủy viên của Hội đồng theo đúng khoản 1, Đạihội đồng phải chú ý đến:

a) Đại diện của các quốc gia không có biển và của các quốcgia có hoàn cảnh địa lý bất lợi tương ứng một cách hợp lý với sự đại diện của họtại Đại hội đồng;

b) Đại diện của các quốc gia ven biển, đặc biệt là các quốcgia đang phát triển, không có đầy đủ các điều kiện đã nêu ở khoản 1, điểm a, b,c hay d, tương ứng một cách hợp lý với sự đại diện của họ ở Đại hội đồng;

c) Mỗi nhóm quốc gia thành viên được có đại diện ở Hội đồngsẽ do các ủy viên được nhóm đó chỉ định, tùy theo tình hình làm đại diện.

3. Các cuộc bầu cử được tiến hành trong một khóa họp thườnglệ của Đại hội đồng. Mỗi một ủy viên của Hội đồng được bầu với nhiệm kỳ là bốnnăm. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử các ủy viên của Hội đồng lần đầu, một nữa sốủy viên đại diện cho mỗi nhóm nước nói ở khoản 1 có nhiệm kỳ là 2 năm.

4. Các ủy viên của Hội đồng có thể được tái cử, nhưng cầnphải chú ý thích đang đến việc bảo đảm sự luân phiên của các ủy viên.

5. Hội đồng thi hành chức trách của mình ở trụ sở của Cơquan quyền lực; Hội đồng nhóm họp theo yêu cầu hoạt động của Cơ quan quyền lực và,trong bất kỳ trường hợp nào, cũng bảo đảm mỗi năm họp ba lần.

6. Số đại biểu cần thiết (quorum) là đa số ủy viên của Hộiđồng.

7. Mỗi ủy viên của Hội đồng có một phiếu.

8. a) Các quyết định về các vấn đề thủ tục được thực hiệntheo đa số các ủy viên có mặt và bỏ phiếu.

b) Các quyết định về những vấn đề nội dung được đề ra liênquan đến Điều 162, khoản 2, điểm f, g, h, I, n, p, v và Điều 191, được thôngqua theo đa số hai phần ba các ủy viên có mặt và bỏ phiếu, với điều kiện là đasố này phải bao gồm đa số các ủy viên của Hội đồng;

c) Các quyết định về những vấn đề nội dung được đặt ra liênquan đến các điều quy định liệt kê sau đây phải được đa số ba phần tư các ủyviên có mặt và tham gia bỏ phiếu thông qua, với điều kiện là đa số này phải baogồm đa số các ủy viên của Hội đồng: Điều 162, khoản 1; Điều 162, khoản 2, điểma, b, c, d, e, l, q, r, s, t; Điều 162, khoản 2, điểm u, trong những trường hợpmột người ký hợp đồng hay quốc gia bảo trợ người đó không thực hiện hợp đồng; Điều162, khoản 2, điểm w, với điều kiện các lệnh được đưa ra theo điểm này chỉ cóthể là bắt buộc quá 30 ngày, nếu nó được một quyết định phù hợp với điểm d, xácnhận; Điều 162 khoản 2 điểm x, y, z; Điều 163, khoản 2; Điều 174, khoản 3; Điều11 của phụ lục IV;

d) Các quyết định về những vấn đề nội dung được đặt ra liênquan đến Điều 162, khoản 2, điểm m và o, cũng như về việc thông qua các điềusửa đổi đối với phần XI phải được thông qua bằng consensus (thỏa thuận).

e) Theo điểm d, f và g, thuật ngữ “consensus” (thỏa thuận)có nghĩa là không có bất kỳ ý kiến phản đối chính thức nào. Trong 14 ngày tiếpsau một kiến nghị được trình lên Hội đồng, Chủ tịch phải xem xét xem có ý kiếnphản đối chính thức nào không. Nếu Chủ tịch của Hội đồng nhận thấy rằng có mộtý kiến có một ý kiến phản đối, thì trong vòng ba ngày, Chủ tịch lập và triệutập một ủy ban hòa giải, gồm nhiều nhất là chín ủy viên của Hội đồng, dưới sựchủ tọa của bản thân Chủ tịch nhằm loại bỏ những ý kiến bất đồng và dự thảo mộtđề nghị có thể được thông qua bằng “consensus” (thỏa thuận). Ủy ban hòa giảinhanh chóng làm tròn nhiệm vụ của mình và báo cáo lên Hội đồng trong vòng 14ngày sau khi thành lập. Nếu ủy ban không có khả năng đề xuất một đề nghị có thểđược thông qua bằng “consensus” (thỏa thuận) thì phải trình bày trong báo cáocủa mình những lý do của ý kiến đối lập với để nghị;

f) Các quyết định về những vấn đề không được liệt kê ở trênmà Hội đồng có quyền hạn giải quyết theo các quy tắc, quy định và thủ tục củađó, nếu không thì theo quy định của khoản này, được ghi trong các quy tắc, quyđịnh và thủ tục đó, nếu không thì theo quy định được xác định bởi một quyếtđịnh của Hội đồng được thông qua bằng consensus (thỏa thuận).

g) Trong trường hợp còn chưa thật rõ một vấn đề có thuộcphạm vi của các điểm a, b, c hay d không, thì vấn đề được coi như thuộc quyđịnh đòi hỏi, tùy trường hợp, theo quy định đòi hỏi, tùy từng trường hợp, theođa số cao nhất hay bằng consensus (thỏa thuận).

9. Hội đồng định ra một thử tục cho phép một thành viên của Cơquan quyền lực không có đại diện ở Hội đồng được tham dự vào một cuộc họp củaHội đồng khi thành viên này có yêu cầu được tham dự, hoặc khi Hội đồng xét mộtvấn đề có liên quan đặc biệt đến thành viên này. Đại diện của thành viên này cóthể tham gia vào các cuộc tranh luận nhưng không được quyền bỏ phiếu.

ĐIỀU 162. Các quyền hạn và chức năng

1. Hội đồng là cơ quan chấp hành của Cơ quan quyền lực cóquyền căn cứ vào Công ước và chính sách chung do Đại hội đồng xác định, định racác chính sách riêng mà Cơ quan quyền lực phải theo đối với mọi vấn đề hay mọiviệc thuộc thẩm quyền của mình.

2. Ngoài ra, Hội đồng còn:

a) Giám sát và tổ chức phối hợp việc áp dụng phần này đốivới tất cả các vấn đề và các việc thuộc thẩm quyền của Cơ quyền lực và lưu ýĐại hội đồng về những trường hợp không tuân thủ;

b) Đề nghị lên Đại hội đồng danh sách các ứng cử viên vàochức vụ Tổng thư ký;

c) Giới thiệu lên Đại hội đồng các ứng cử viên vào các chứcvụ ủy viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc xí nghiệp;

d) Tùy theo điều kiện thích hợp, và có lưu ý đúng mức đếncác đòi hỏi về tiết kiệm và kém hiệu quả, lập ra các cơ quan phụ trợ xét thấycần thiết để thi hành các chức năng của mình theo đúng phần này. Đối với thànhphần của các cơ quan này, cần nhấn mạnh đến sự cần thiết là các ủy viên phải cótrình độ và tinh thông trong những lĩnh cực kỹ thuật mà các cơ quan đó phụtrách, nhưng phải tính đến các nguyên tắc phân bổ công bằng theo địa lý và đếncác lợi ích đặc biệt;

e) Thông qua quy chế nội bộ của mình, đặc biệt là xác địnhcách thức chỉ định chủ tịch của Hội đồng;

f) Thay mặt Cơ quan quyền lực, ký kết các hiệp định với Liênhợp quốc và các tổ chức quốc tế khác, trong phạm vi thẩm quyền của mình và với điềukiện được Đại hội đồng phê chuẩn.

g) Xem xét các báo cáo của xí nghiệp và chuyển các báo cáođó lên Đại hội đồng có kèm theo các kiến nghị của mình;

h) Trình Đại hội đồng báo cáo hàng năm cũng như các báo cáođặc biệt mà Đại hội đồng đòi hỏi;

i) Chỉ đạo xí nghiệp theo đúng Điều 170;

j) Chuẩn y các kế hoạch làm việc theo đúng Điều 6 của Phụlục III. Hội đồng quyết định về từng kế hoạch làm việc trong thời hạn 60 ngàysau ngày kế hoạch làm việc được Ủy ban pháp lý và kỹ thuật trình lên trong mộtphiên họp Hội đồng theo đúng các thủ tục sau đây:

- Khi Ủy ban đề nghị chuẩn y một kế hoạch làm việc, thì kếhoạch này xem như được Hội đồng chấp nhận, nếu không có ủy viên nào của Hộiđồng gửi lên cho Chủ tịch, trong thời hạn 14 ngày, một kháng nghị bằng văn bảnrõ ràng viện dẫn việc không tuân thủ các điều kiện ghi ở Điều 6 của Phụ lụcIII. Nếu một kháng như vậy được đưa ra, thì thủ tục hòa giải được trù định ởĐiều 161, khoản 8, điểm e, được áp dụng. Nếu vào lúc kết thúc thủ tục đó mà vẫncòn tiếp thủ tục kháng nghị, thì kế hoạch làm việc coi như được Hội đồng chuẩny, trừ khi được Hội đồng bác bỏ kế hoạch này bằng consensus (thỏa thuận), khôngkể quốc gia hay các quốc gia đưa ra kế làm việc hay bảo trợ người đưa ra kế hoạchđó;

- Khi Ủy ban kiến nghị bác bỏ một kế hoạch làm việc haykhông đưa ra kiến nghị, Hội đồng có thể chuẩn y kế hoạch làm việc theo đa số baphần tư số ủy viên có mặt và tham gia bỏ phiếu, với điều kiện là đa số này baogồm đa số các ủy viên tham gia khóa họp;

- Chuẩn y các kế hoạch làm việc do Xí nghiệp đưa lên theođúng Điều 12 Phụ lục IV, áp dụng mutatis mutandis (với những sửa đổi cần thiếtvề chi tiết) các thủ tục nói ở điểm j;

l) Thi hành việc kiểm soát đối với những hoạt động tiến hànhtrong vùng theo đúng Điều 153, khoản 4 và các quy tắc, quy định và thủ tục củaCơ quan quyền lực;

m) Dựa vào kiến nghị của Ủy ban kế hoạch hóa kinh tế, theođúng Điều 150, điểm h, định ra các biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo vệ cácquốc gia đang phát triển khỏi bị những tác động kinh tế bất lợi nói trong quyđịnh đó;

n) Dựa vào ý kiến của Ủy ban kế hoạch hóa kinh tế, làm cáckiến nghị gửi lên Đại hội đồng về việc lập chế độ bù trừ hay định ra các biệnpháp giúp đỡ người khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh kinh tếđã được trù định ở Điều 151, khoản 10;

o) i. Kiến nghị lên Đại hội đồng những quy tắc, quy định vàthủ tục về việc phân chia công bằng những mối lợi về tài chính và những mối lợikinh tế khác, thu được từ các hoạt động tiến hành trong Vùng, cũng như về cáckhoản đóng góp được trù định ở Điều 82, đặc biệt lưu ý đến các lợi ích và nhu cầucủa các quốc gia đang phát triển và của các dân tộc chưa giành được độc lậphoàn toàn hay chưa được hưởng một chế độ tự trị khác;

ii. Thông qua và áp dụng tạm thời, trong khi chờ đợi Đại hộiđồng chuẩn y, các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực và mọiđiều sửa đổi đối với những văn bản này, có lưu ý đến những kiến nghị của Ủy banpháp lý và kỹ thuật hoặc của mọi cơ quan cấp dưới có liên quan khác. Những quytắc, quy định và thủ tục này đề cập việc thăm dò, khảo sát và khai thác trongVùng, cũng như việc quản lý tài chính và hành chính nội bộ của quy tắc, quyđịnh và thủ tục liên quan đến việc thăm dò và khai thác các khối đa kim. Cácquy tắc, quy định, thủ tục thăm dò và khai thác mọi tài nguyên ngoài các khốiđa kim được thông qua trong một thời hạn 3 năm kể từ ngày Cơ quan quyền lựcnhận được đơn của một trong các ủy viên của mình về vấn đề này. Các quy tắc,quy định và thủ tục đó có hiệu lực tạm thời đến khi được Đại hội đồng chuẩn yhoặc đến khi được Hội đồng sửa đổi dưới ánh sáng các quan điểm mà Đại hội đồngphát biểu;

p) Quan tâm đến việc thanh toán tất cả các khoản tiền do Cơ quanquyền lực nợ hay phải trả cho Cơ quan quyền lực, về các hoạt động được thựchiện theo đúng phần này;

q) Tiến hành lựa chọn giữa những người yêu cầu cấp giấy phépsản xuất theo Điều 7 của Phụ lục III, trong những trường hợp được trù địnhtrong điều đó;

r) Đệ trình dự án ngân sách hàng năm của Cơ quan quyền lựclên Đại hội đồng để được phê chuẩn;

s) Gửi các kiến nghị lên Đại hội đồng về chính sách phảitheo đối với mọi vấn đề hay mọi viện thuộc thẩm quyền của Cơ quan quyền lực;

t) Gửi các kiến nghị lên Đại hội đồng về việc đình chỉ thi hànhcác quyền và đặc quyền gắn liền với tư cách ủy viên theo Điều 185;

u) Nhân danh Cơ quan quyền lực giao cho Viện giải quyết các tranhchấp liên quan đến đáy biển xét xử trong những trường hợp không tuân thủ;

v) Thông báo cho Đại hội đồng quyết định của Viện giải quyếtcác tranh chấp liên quan đến đáy biển đã được giao cho xét xử theo điểm u, và cónhững kiến nghị về các biện pháp mà Hội đồng thấy cần thiết phải thi hành;

w) Trong trường hợp khẩn cấp thì ra lệnh và tùy theo tìnhhình, kể cả lệnh đình chỉ hay thay đổi các hoạt động, để đề phòng mọi thiệt hạinghiêm trọng có thể gây ra cho môi trường biển vì các hoạt động tiến hành trongVùng;

x) Không cho các người ký kết hợp đồng hay xí nghiệp khaithác một số khu vực khi có những lý do nghiêm túc để cho rằng điều đó sẽ dẫnđến hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường biển;

y) Thành lập một cơ quan phụ trợ chuyên trách việc dự thảonhững quy tắc, thủ tục và quy định tài chính có liên quan đến:

i. Việc quản lý tài chính theo đúng các Điều 171 đến 175; và

ii. Các thể thức tài chính được trù định trong Điều 134 và Điều17, khoản 1, điểm c, của phụ lục III;

z) Bố trí các bộ máy thích hợp để điều khiển và giám sát mộtđoàn thanh tra làm nhiệm vụ theo dõi các hoạt động tiến hành trong Vùng để xácđịnh xem phầm này, các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực vàcác điều kiện của các hợp đồng được ký kết với Cơ quan quyền lực có được tuânthủ không.

ĐIỀU 163. Các cơ quan của Hội đồng

1. Các cơ quan của Hội đồng thành lập gồm có:

a) Một Ủy ban kế hoạch hóa kinh tế;

b) Một Ủy ban pháp lý và kỹ thuật.

2. Mỗi ủy ban gồm 15 ủy viên do Hội đồng bầu ra trong số cácứng cử viên do các quốc gia thành viên giới thiệu. Tuy nhiên, nếu cần thiết,Hội đồng có thể quyết định mở rộng các thành phần của Ủy ban này hay ủy ban kia,nhưng phải tính đến yêu cầu về tiết kiệm và về hiệu quả.

3. Các ủy viên của mỗi ủy ban phải có trình độ chuyên môncần thiết trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của ủy ban. Để bảo đảm cho cácủy ban thực hiện chức năng có hiệu quả, các quốc gia thành viên cử các ứng cửviên tinh thông nghiệp vụ nhất, có trình độ chuyên môn cần thiết trong các lĩnhvực tương ứng.

4. Khi lựa chọn, cần phải tính đến sự cần thiết phải phân bổcác thành viên công bằng theo địa lý và đại diện được cho các lợi ích đặc biệt.

5. Không một quốc gia thành viên nào có thể giới thiệu quá mộtứng cử viên vào cùng một ủy ban. Không ai có thể được bầu vào quá một ủy ban.

6. Các ủy viên của ủy ban được bầu với nhiệm kỳ là 5 năm. Họcó thể được bầu lại một nhiệm kỳ mới.

7. Trong trường hợp một ủy viên của một ủy ban bị chết, bấtlực hay từ chức trước khi hết nhiệm kỳ, thì Hội đồng bầu một ủy viên của cùngkhu vực địa lý hay đại diện cho cùng loại lợi ích để tiêp tục hoàn thành nhiệm kỳcủa ủy viên trước.

8. Các ủy viên của các ủy ban không được có lợi ích tàichính trong bất kỳ hoạt động nào liên quan đến việc thăm dò và khai thác ởVùng. Với các trách nhiệm của họ đối với ủy ban mà họ là ủy viên, họ không đượcphép tiết lộ một bí mật công nghiệp nào hay số liệu nào thuộc sở hữu côngnghiệp đã được chuyển giao cho Cơ quan quyền lực theo Điều 14 của Phụ lục III,cũng không được tiết lộ các tin tức bí mật mà họ biết được do chức trách của họngay cả sau khi họ đã thôi việc cũng vậy.

9. Mỗi ủy ban phải làm tròn chức năng của mình theo đúng cácnguyên tắc và các chỉ thị do Hội đồng quyết định.

10. Mỗi ủy ban soạn thảo và trình lên Hội đồng thông qua cácquy tắc và quy định cần thiết để ủy ban hoạt động được tốt.

11. Các thủ tục ra quyết định của các ủy ban do các quy tắc,quy định và các thủ tục của cơ quan quyền lực quy định. Nếu có thể được thì nhữngkiến nghị gửi lên Hội đồng phải kèm theo một bản trình bày tóm tắt những ý kiếnkhác nhau trong ủy ban.

12. Bình thường, các ủy ban làm việc ở trụ sở của Cơ quanquyền lực và phải nhóm họp theo sự cần thiết để hoàn thành chức năng của mìnhmột cách có hiệu quả.

13. Trong việc thi hành chức năng của mình, nếu có thể đượcthì mỗi ủy ban tham khảo ý kiến của ủy ban khác hay mọi cơ quan có thẩm quyềncủa Liên hợp quốc và của các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc hoặc mọi tổchức quốc tế có thẩm quyền trong lĩnh vực xem xét.

ĐIỀU 164. Ủy ban kế hoạch hóa kinhtế

1. Các ủy viên của ủy ban kế hoạch hóa kinh tế cần có trìnhđộ nghiệp vụ cần thiết, nhất là về mặt khai thác mỏ, quản lý các tài nguyênkhoáng sản, thương mại quốc tế và về kinh tế quốc tế. Hội đồng cố gắng bảo đảmcho Ủy ban, qua thành phần của mình, có trình độ nghiệp vụ cần thiết một cáchđồng bộ. Trong số ủy viên của Ủy ban phải có ít nhất hai công dân của quốc giađang phát triển mà nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào việc xuất khẩu các loạikhoáng sản trong Vùng.

2. Ủy ban có nhiệm vụ:

a) Theo yêu cầu của Hội đồng, đề xuất các biện pháp thực hiệncác quyết định được thông qua theo đúng Công ước có liên quan đến các hoạt độngtiến hành trong Vùng;

b) Nghiên cứu các xu hướng của cung, cầu và giá cả của cáckhoáng sản có thể lấy từ Vùng, cũng như các nhân tố có tác động đến các dữ kiệnnày, có lưu ý đến các lợi ích của các nước nhập khẩu, cũng như của các nướcxuất khẩu, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong số các nước đó;

c) Xem xét mọi tình huống có thể gây ra những ảnh hưởng bấtlợi đã đề cập ở Điều 150, điểm h, do quốc gia thành viên hay các quốc gia thànhviên hữu quan đã lưu ý Ủy ban và gửi các kiến nghị thích hợp lên Hội đồng;

d) Đề xuất với Hội đồng để đệ trình lên Đại hội đồng, như đượctrù định trong Điều 151, khoản 10, một chế độ bù trừ có lợi cho các nước đangphát triển mà các hoạt động tiến hành trong Vùng đã gây nên những ảnh hưởng bấtlợi hoặc là các biện pháp giúp đỡ khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việcđiều chỉnh kinh tế, và gửi lên Hội đồng những kiến nghị cần thiết để thực hiện,trong những trường hợp cụ thể, chế độ bù trừ hay các biện pháp giúp đỡ đã đượcĐại hội đồng chấp nhận.

ĐIỀU 165. Ủy ban pháp lý và kỹ thuật

1. Các ủy viên của Ủy ban pháp lý và kỹ thuật phải có trìnhđộ nghiệp vụ cần thiết, nhất là về mặt thăm dò, khai thác và chế biến tàinguyên khoáng sản, về hải dương học và về việc bảo vệ môi trường biển hoặc vềnhững vấn đề kinh tế hay pháp lý liên quan đến các hoạt động khai thác quặng ởbiển hay trong những lĩnh vực có liên quan khác. Hội đồng cố gắng bảo đảm choỦy ban qua thành phần của mình có trình độ nghiệp vụ cần thiết một cách đồngbộ.

2. Ủy ban có nhiệm vụ:

a) Theo yêu cầu của Hội đồng, soạn thảo các kiến nghị lênHội đồng về việc thi hành các chức năng của Cơ quan quyền lực;

b) Xem xét các kế hoạch làm việc chính thức và bằng văn bảncó liên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng theo đúng Điều 153, khoản 3và trình lên Hội đồng các kiến nghị thích hợp. Ủy ban chỉ dựa vào những quyđịnh trong Phụ lục III, để chuẩn bị các kiến nghị và trình lên Hội đồng một báocáo đầy đủ về các kiến nghị đó;

c) Theo yêu cầu của Hội đồng, giám sát các hoạt động tiếnhành trong Vùng, nếu có thể được, thì hỏi ý kiến và hợp tác với mọi thực thểhay cá nhân tiến hành các hoạt động này hay với quốc gia hay các quốc gia hữuquan, và làm báo cáo gửi lên Hội đồng;

d) Đánh giá những tác động về sinh thái của các hoạt động đãtiến hành hoặc đang tiến hành trong Vùng;

e) Làm các kiến nghị gửi lên Hội đồng về việc bảo vệ môitrường biển, có chú ý đến các ý kiến của các chuyên gia được thừa nhận;

f) Soạn thảo và đệ trình lên Hội đồng các quy tắc, quy địnhvà thủ tục nêu ở Điều 162, khoản 2, điểm o, có tính đến tất cả các yếu tố thíchhợp, kể các việc đánh giá những tác động về sinh thái của các hoạt động tiếnhành trong Vùng;

g) Qua từng thời kỳ, xem xét lại những quy tắc, quy định vàthủ tục này và kiến nghị lên Hội đồng những điều sửa đổi mà mình xét thấy cầnthiết hay nên làm;

h) Gửi các kiến nghị lên Hội đồng liên quan đến việc bố trímột chương trình giám sát bao gồm việc quan sát, đo đạc, đánh giá và phân tíchđịnh kỳ bằng những phương pháp khoa học được thừa nhận đối với những nguy cơhay ảnh hưởng của các hoạt động tiến hành trong Vùng về mặt ô nhiễm môi trườngbiển, bảo đảm cho các quy định hiện có được thích hợp và được tôn trọng, vàviệc phối hợp thực hiện chương trình giám sát, một khi chương trình này đượcHội đồng chuẩn y;

i) Kiến nghị lên Hội đồng để Hội đồng nhân danh cơ quanquyền lực giao cho Viện giải quyết các tranh chấp có liên quan đến đáy biển xétxử, đặc biệt lưu ý đến Điều 187, theo đúng phần này và các phụ lục có liên quanđến phần này;

j) Trình lên Hội đồng các kiến nghị về các biện pháp thihành sau khi Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển được giaogiải quyết theo điểm i đã ra quyết định;

k) Kiến nghị lên Hội đồng để trong trường hợp khẩn cấp, Hộiđồng ra lệnh, kể cả lệnh đình chỉ hoặc sửa đổi các hoạt động nếu cần, nhằmphòng ngừa bất kỳ tổn thất nghiêm trọng nào có thể gây ra cho môi trường biểndo các hoạt động tiến hành trong Vùng; Hội đồng ưu tiên xem xét các kiến nghịnày;

l) Kiến nghị lên Hội đồng không cho những người ký kết hợpđồng hay Xí nghiệp khai thác một số khu vực khi có những lý do nghiêm túc đểcho rằng điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ gây ra tổn thất nghiêm trọng cho môi trườngbiển;

m) Gửi các kiến nghị đó lên Hội đồng liên quan đến việc chỉđạo và giám sát một đoàn thanh tra có nhiệm vụ theo dõi các hoạt động tiến hànhtrong Vùng và có nhiệm vụ xác định xem phần này, các quy tắc, quy định và thủtục của Cơ quan quyền lực và các điều khoản, điều kiện của mọi hợp đồng đã kýkết với Cơ quan quyền lực có được tuân thủ không;

n) Tính toán sản lượng tối đa và thay mặt Cơ quan quyền lực cấpgiấy phép sản xuất theo Điều 151, từ khoản 2 đến khoản 7, một khi Hội đồng đãtiến hành sự lựa chọn cần thiết, nếu như cần phải chọn, trong số những ngườiyêu cầu cấp giấy phép sản xuất theo đúng Điều 7 của Phụ lục III.

3. Theo yêu cầu của mọi quốc gia thành viên mọi bên hữu quankhác, các ủy viên của Ủy ban, khi thực hiện chức trách giám sát và thanh tracủa mình phải cho một đại diện của quốc gia hay của bên hữu quan này tham dự.

TIỂU MỤC D. BAN THƯ KÝ

ĐIỀU 166. Ban thư ký

1. Ban thư ký của Cơ quan quyền lực gồm có một Tổng thư kývà số nhân viên theo sự cần thiết của Cơ quan quyền lực.

2. Tổng thư ký do Đại hội đồng bầu ra trong số các ứng cửviên do Hội đồng đề nghị với nhiệm kỳ là 4 năm và có thể được bầu lại.

3. Tổng thư ký là viên chức cao nhất của Cơ quan quyền lựcvà hoạt động với tư cách này trong tất cả các cuộc họp của Đại hội đồng và Hộiđồng và của mọi cơ quan phụ trợ. Tổng thư ký thực hiện mọi chức trách hànhchính khác mà cơ quan này giao cho.

4. Tổng thư ký trình lên Đại hội đồng một báo cáo hàng nămvề hoạt động của Cơ quan quyền lực.

ĐIỀU 167. Nhân viên của Cơ quanquyền lực

1. Nhân viên của Cơ quan quyền lực bao gồm những người có trìnhđộ nghiệp vụ trong các lĩnh vực khác mà Cơ quan quyền lực cần để thi hành cácchức năng quản lý của mình.

2. Căn cứ cao nhất trong vấn đề tuyển lựa và xác định các điềukiện sử dụng nhân viên là bảo đảm cho Cơ quan quyền lực có những nhân viên phụcvụ có năng lực làm việc cao nhất, tinh thông và liêm khiết nhất. Ngoài căn cứnày, phải tính đến tầm quan trọng của việc tuyển lựa trên cơ sở địa lý càngrộng rãi càng tốt.

3. Nhân viên do Tổng thư ký bổ nhiệm. Các điều kiện và thể thứcbổ nhiệm, trả lương và thải hồi phải phù hợp với các quy tắc, quy định và thủtục của Cơ quan quyền lực.

ĐIỀU 168. Tính chất quốc tế của Banthư ký

1. Trong khi thực hiện chức trách của mình, Tổng thư ký và nhânviên không được xin hay nhận chỉ thị của bất kỳ một chính phủ nào hay một nguồnnào khác ngoài Cơ quan quyền lực. Tổng thư ký và nhân viên tránh mọi hành vikhông phù hợp với tư cách các viên chức quốc tế và họ chỉ chịu trách nhiệm đốivới Cơ quan quyền lực. Mỗi quốc gia thành viên cam kết tôn trọng tính chất quốctế thuần túy của các chức trách của Tổng thư ký và nhân viên của Cơ quan quyềnlực và cam kết không tìm cách gây ảnh hưởng đến họ trong khi họ thi hành nhiệmvụ. Mọi hoạt động thiếu trách nhiệm của một viên chức được đưa ra trước một tòaán hành chính được chỉ định theo các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực.

2. Tổng thư ký và nhân viên không được có những lợi lộc tàichính trong một hoạt động nào liên quan đến việc thăm dò và khai thác tiến hànhtrong Vùng. Với các trách nhiệm của họ đối với Cơ quan quyền lực, họ không đượctiết lộ một bí mật nào, một số liệu nào thuộc sở hữu công nghiệp và đã đượcchuyển giao cho Cơ quan quyền lực theo Điều 14, Phụ lục III và một thông tinmật nào khác mà họ biết do các chức trách của họ ngay cả sau khi đã thôi việccũng vậy.

3. Nếu một viên chức của Cơ quan quyền lực có những thiếusót đối với các nghĩa vụ nói ở khoản 2 thì, theo yêu cầu của một quốc gia thànhviên bị thiệt hại sao thiếu sót đó, hay theo yêu cầu của một tự nhiên nhân haypháp nhân do một quốc gia thành viên bảo trợ theo Điều 153, khoản 2, điểm b bịthiệt hại do thiếu sót này, Cơ quan quyền lực sẽ truy tố viên chức này trướcmột tòa án được chỉ định theo các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực. Bên bị thiệt hại có quyền tham gia vào việc tố tụng, nếu tòa án kiếnnghị, Tổng thư ký phải thải hồi nhân viên đó.

4. Các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lựctrù định các thể thức áp dụng điều này.

ĐIỀU 169. Tham khảo ý kiến và hợptác với các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ

1. Đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của Cơ quan quyềnlực, Tổng thư ký, sau khi được Hội đồng phê chuản, ký các thỏa thuận để thamkhảo ý kiến và hợp tác với các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủđược Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc thừa nhận.

2. Bất kỳ tổ chức nào mà Tổng thư ký đã ký với họ một thỏathuận theo khoản 1 đều có thể chỉ định các đại diện tham dự với tư cách là quansát viên vào các hội nghị của các cơ quan thuộc Cơ quan quyền lực, theo đúngquy chế nội bộ của các cơ quan này. Các thủ tục được định ra để cho các tổ chứcđó trình bày quan điểm của họ trong những trường hợp thích hợp.

3. Tổng thư ký có thể phân phát cho các quốc gia thành viêncác báo cáo bằng văn bản của các tổ chức phi chính phủ nói ở khoản 1 về các vấnđề thuộc thẩm quyền riêng của họ và có liên quan đến công việc của Cơ quanquyền lực.

TIỂU MỤC E. XÍ NGHIỆP

ĐIỀU 170. Xí nghiệp

1. Xí nghiệp là cơ quan của Cơ quan quyền lực trực tiếp tiếnhành các hoạt động trong Vùng theo Điều 153, khoản 2, điểm a, cũng như các hoạtđộng vận chuyển, chế biến và buôn bán các khoáng sản được khai thác trong Vùng.

2. Trong khuôn khổ của Cơ quan quyền lực là pháp nhân quốctế, Xí nghiệp có tư cách pháp nhân được trù định trong Phụ lục IV. Xí nghiệphoạt động theo đúng Công ước và các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực, cũng như theo đúng chính sách chung do Đại hội đồng quyết định, và Xínghiệp tuân theo các chỉ thị của Hội đồng và chịu sự kiểm soát của cơ quan này.

3. Xí nghiệp có cơ quan chính đóng tại trụ sở của Cơ quanquyền lực.

4. Theo đúng Điều 173, khoản 2 và Điều 11 của Phụ lục IV, Xínghiệp có những nguồn tài chính cần thiết để thực hiện các chức năng của mình,và có các kỹ thuật đã được chuyển giao theo Điều 144 và theo các quy định thíchhợp khác của Công ước.

TIỂU MỤC F.TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CỦA CƠQUAN QUYỀN LỰC

ĐIỀU 171. Các nguồn tài chính của Cơquan quyền lực

Các nguồn tài chính của Cơ quan quyền lực gồm có:

a) Các khoản đóng góp của các thành viên của Cơ quan quyềnlực được quy định theo đúng Điều 160, khoản 2, điểm e;

b) Những thu nhập mà Cơ quan quyền lực thu được, theo Điều13 của Phụ lục III, từ các hoạt động tiến hành trong Vùng;

c) Các khoản tiền do Xí nghiệp chuyển khoản theo Điều 10 củaPhụ lục IV;

d) Vốn đi vay theo Điều 174;

e) Các khoản đóng góp tự nguyện của các quốc gia thành viênhay của các nguồn khác; và

f) Các khoản nộp vào một quỹ bù trừ theo đúng Điều 151,khoản 10 mà Ủy ban kế hoạch hóa kinh tế phải kiến nghị các nguồn.

ĐIỀU 172. Ngân sách hàng năm của Cơquan quyền lực

Tổng thư ký lập dự án ngân sách hàng năm của Cơ quan quyềnlực và trình lên Hội đồng. Hội đồng xem xét dự án đó và đệ trình lên Đại hộiđồng với những kiến nghị của mình để Đại hội đồng phê chuẩn theo Điều 160,khoản 2, điểm h.

ĐIỀU 173. Chi phí của Cơ quan quyềnlực

1. Những khoản đóng góp nói ở Điều 171, điểm a được nộp vàomột tài khoản đặc biệt và dùng để trang trải các khoản cho hành chính của Cơquan quyền lực cho đến khi Cơ quan quyền lực có được các khoản thu từ các nguồnkhác đủ để trang trải các khoản chi này.

2. Các nguồn tài chính của Cơ quan quyền lực trước tiên dùngđể thanh toán những khoản chi hành chính. Ngoài những khoản đóng góp nói ở Điều171, điểm a, quỹ còn lại sau khi thanh toán các chi phí hành chính có thể dùng,đặc biệt để:

a) Phân chia theo đúng Điều 140 và Điều 160, khoản 2, điểmg;

b) Cấp cho Xí nghiệp các nguồn vốn nói ở Điều 170, khoản 4;

c) Đền bù cho các quốc gia đang phát triển theo đúng Điều151 khoản 10 và với Điều 160, khoản 2, điểm l.

ĐIỀU 174. Quyền vay vốn của Cơ quanquyền lực

1. Cơ quan quyền lực có quyền vay vốn.

2. Đại hội đồng ấn định giới hạn của quyền này trong quy chếtài chính được thông qua theo Điều 160, khoản 2, điểm f.

3. Hội đồng thực hiện quyền vay vốn này.

4. Các quốc gia thành viên không chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ của Cơ quan quyền lực.

ĐIỀU 175. Kiểm tra tài chính hàngnăm

Mỗi năm các báo cáo sổ sách và tài khoản của Cơ quan quyềnlực, kể cả các bản quyết toán tài chính hàng năm được một kiểm soát viên độclập do Đại hội đồng cử ra kiểm tra.

TIỂU MỤC G. QUY CHẾ PHÁP LÝ, CÁC ĐẶCQUYỀN VÀ QUYỀN MIỄN TRỪ

ĐIỀU 176. Quy chế pháp lý

Cơ quan quyền lực là pháp nhân quốc tế và có quyền về pháplý cần thiết để thi hành chức năng và đạt tới các mục đích của mình.

ĐIỀU 177. Các đặc quyền và quyềnmiễn trừ

Để có thể thực hiện các chức năng của mình, Cơ quan quyền lựcđược hưởng trên lãnh thổ của mỗi quốc gia thành viên những đặc quyền và quyềnmiễn trừ được trù định trong tiểu mục này. Những đặc quyền và quyền miễn trừliên quan đến Xí nghiệp được trù định ở Điều 13 của Phụ lục IV.

ĐIỀU 178. Quyền miễn trừ về mặt tàiphán và tịch thu tài sản

Cơ quan quyền lực cũng như tài sản và của cải của mình đềuđược hưởng quyền miễn trừ về mặt tài phán và tịch thu tài sản, trừ phạm vi màCơ quan quyền lực đã từ bỏ rõ ràng quyền miễn trừ này trong một trường hợp đặcbiệt.

ĐIỀU 179. Quyền miễn trừ khám xét vàmiễn mọi hình thức sai áp khác

Những của cải và tài sản của Cơ quan quyền lực, dù chúng nằmở đâu và người giữ chúng là ai, đều được miễn khám xét, trưng thu, tịch thu,tước đoạt và mọi hình thức sai áp khác theo một biện pháp của cơ quan hành pháphay lập pháp.

ĐIỀU 180. Quyền miễn trừ mọi sự kiểmsoát, hạn chế, quy định hay lệnh tạm hoãn nợ

Tài sản và của cải của Cơ quan quyền lực được miễn mọi sựkiểm soát, hạn chế, quy định hay lệnh tạm hoãn nợ nào.

ĐIỀU 181. Hồ sơ và các thông tinchính thức của Cơ quan quyền lực

1. Hồ sơ của Cơ quan quyền lực dù chúng được cất giữ ở đâuđều bất khả xâm phạm.

2. Các số liệu thuộc sở hữu công nghiệp, các thông tin thuộcbí mật công nghiệp của Cơ quan quyền lực và các thông tin tương tự, cũng nhưcác hồ sơ về nhân sự không được để trong các cơ quan lưu trữ đại chúng.

3. Đối với các thông tin chính thức, mỗi quốc gia thành viêndành cho Cơ quan đối xử ít nhất cũng thuận tiện như đối với các tổ chức quốc tếkhác.

ĐIỀU 182. Các đặc quyền và quyền miễntrừ đối với các nhân viên hoạt động trong khuôn khổ của Cơ quan quyền lực

Đại biểu các quốc gia thành viên tham dự các cuộc họp củaĐại hội đồng, của Hội đồng hoặc của các cơ quan của Đại hội đồng hay của Hộiđồng, cũng như Tổng thư ký và nhân viên của Cơ quan quyền lực, được hưởng trênlãnh thổ của mỗi quốc gia thành viên:

a) Quyền miễn trừ về tài phán và tịch thu tài sản đối vớicác hành động của họ trong khi thi hành các chức vụ của mình, trừ phạm vi quốcgia mà họ đại diện hoặc Cơ quan quyền lực đã từ bỏ rõ ràng quyền miễn trừ nàytrong một trường hợp đặc biệt;

b) Các quyền miễn trừ như các quyền đã được quốc gia mà trênlãnh thổ quốc gia đó họ có mặt, dành cho các đại diện, công chức và nhân cấptương đương của các quốc gia thành viên khác về các điều kiện nhập cư, các thủtục đăng ký người nước ngoài và các nghĩa vụ phục vụ quốc gia, cũng như cácđiều kiện thuận tiện như thế liên quan đến quy định về hối đoái và về dichuyển, trừ khi họ là công dân của quốc gia hữu quan.

ĐIỀU 183. Miễn thuế hay lệ phí vàmiễn thuế quan

1. Trong khi thi hành chức năng của mình, Cơ quan quyền lựccùng với của cải, tài sản và thu nhập của mình, cũng như những hoạt động vàgiao dịch được Công ước này cho phép, đều được miễn mọi thứ thuế trực thu vàcác tài sản mà Cơ quan quyền lực nhập khẩu hay xuất khẩu để sử dụng trong côngvụ đều được miễn mọi thứ thuế quan. Cơ quan quyền lực không thể yêu cầu miễnbất cứ khoản tiền phải trả nào cho các dịch vụ mà họ được hưởng.

2. Đối với những việc mua của cải hay trả tiền dịch vụ củaCơ quan quyền lực hay nhân danh Cơ quan quyền lực có một giá trị lớn, cần thiếtcho việc thực hiện chức năng của Cơ quan quyền lực và nếu giá các loại tài sảnđó hay giá dịch vụ đó bao gồm cả thuế, lệ phí hay thuế quan, thì các quốc giathành viên sẽ cố gắng hết sức thi hành những biện pháp thích hợp để miễn hayhoàn lại các khoản thuế, lệ phí hay thuế quan. Các của cải nhập khẩu hay muatheo chế độ miễn trừ được quy định ở điều này không được bán, chuyển nhượngbằng cách nào khác trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đã cho phép miễn thuế,trừ khi việc đó được tiến hành theo các điều kiện đã thỏa thuận với quốc giathành viên này.

3. Các quốc gia thành viên không được thu một loại thuế trựcthu hay gián thu nào đánh vào tiền lương, tiền thù lao hay vào các khoản tiềnkhác mà Cơ quan quyền lực trả cho Tổng thư ký và cho các nhân viên của mình,cũng như cho các chuyên gia thực hiện những nhiệm vụ do Cơ quan quyền lực giao,trừ khi họ là công dân của các nước đó.

TIỂU MỤC H. ĐÌNH CHỈ VIỆC HƯỞNG CÁCQUYỀN VÀ ĐẶC QUYỀN CỦA CÁC THÀNH VIÊN

ĐIỀU 184. Đình chỉ quyền bỏ phiếu

Trong việc thanh toán các khoản đóng góp của mình cho Cơquan quyền lực, một quốc gia thành viên nộp chậm, thì không được tham gia vàocác cuộc bỏ phiếu, nếu tổng số tiền còn thiếu bằng hoặc cao hơn tổng số tiềnphải đóng góp cho 2 năm tròn đã qua. Đại hội đồng có thể cho phép thành viênnày tham gia bỏ phiếu, nếu Đại hội đồng xét thấy việc thiếu sót này là do nhữnghoàn cảnh nằm ngoài ý muốn của họ.

ĐIỀU 185. Đình chỉ việc hưởng cácquyền và đặc quyền vốn có của các thành viên

1. Một quốc gia vi phạm phần này một cách nghiêm trọng vàkéo dài thì có thể bị Đại hội đồng, theo kiến nghị của Hội đồng đình chỉ việchưởng các quyền và đặc quyền vốn có của thành viên.

2. Không một quyết định nào có thể được thi hành theo khoản1, chừng nào mà Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển không xácnhận rằng quốc gia thành viên hữu quan đã vi phạm phần này một cách nghiêmtrọng và kéo dài.

Mục 5. GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VÀÝ KIẾN TƯ VẤN

ĐIỀU 186. Viện giải quyết các tranhchấp liên quan đến đáy biển của Tòa án quốc tế về luật biển

Mục này, phần XV và Phụ lục VI điều chỉnh quy chế của Việngiải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển và các cách thức mà Viện thihành thẩm quyền của mình,

ĐIỀU 187. Thẩm quyền của Viện giảiquyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển

Theo phần này và các phụ lục có liên quan, Viện giải quyếtcác tranh chấp liên quan đến đáy biển có thẩm quyền xét xử những loại tranh chấpvề những hoạt động tiến hành trong Vùng sau đây:

a) Các vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quanđến việc giải thích hay áp dụng phần này và các phụ lục có liên quan;

b) Các vụ tranh chấp giữa một quốc gia thành viên và Cơ quanquyền lực liên quan đến:

i. Các hành động hay thiếu sót của Cơ quan quyền lực hay củamột quốc gia thành viên được viện dẫn là đã vi phạm các quy định của phần này haycác phụ lục có liên quan hay các quy tắc quy định hay thủ tục đã được Cơ quanquyền lực thông qua theo đúng các quy định này; hoặc

ii. Các hành động của Cơ quan quyền lực được viện dẫn là đãvượt quá thẩm quyền của mình hay đã lạm quyền;

c) Các vụ tranh chấp giữa các bên ký kết một hợp đồng, dùcác bên này là các quốc gia thành viên, là Cơ quan quyền lực hay Xí nghiệp, haycác xí nghiệp của Nhà nước hoặc các tự nhiên nhân hay pháp nhân đã nêu ở Điều 153,khoản 2, điểm b, liên quan đến:

i. Việc giải thích hay thi hành một hợp đồng hay một kế hoạchlàm việc; hoặc

ii. Các hành động hay thiếu sót của một bên ký kết hợp đồngliên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng và làm ảnh hưởng đến bên kháchay trực tiếp gây tổn hại đến các lợi ích chính đáng của các bên khác đó;

d) Các vụ tranh chấp giữa Cơ quan quyền lực và một người yêucầu được một quốc gia bảo trợ theo đúng Điều 153, khoản 2, điểm b và đã thoản mãncác điều kiện được quy định ở Điều 4, khoản 6 và Điều 13, khoản 2 của Phụ lụcIII, có liên quan đến việc từ chối ký kết hợp đồng hay đến một vấn đề pháp lýnảy sinh trong khi thương lượng về hợp đồng;

e) Các vụ tranh chấp giữa Cơ quan quyền lực và một quốc giathành viên, một xí nghiệp Nhà nước hoặc một tự nhiên nhân hay pháp nhân do mộtquốc gia thành viên bảo trợ theo đúng Điều 153, khoản 2, điểm b, khi thấy rằng,theo Điều 22 của Phụ lục III, việc tranh chấp này có đụng đến trách nhiệm củaCơ quan quyền lực;

f) Bất kỳ tranh chấp nào khác mà Công ước đã trù định rõràng Viện có thẩm quyền giải quyết.

ĐIỀU 188. Việc đưa những vụ tranhchấp ra trước một Viện đặc biệt của Tòa án quốc tế về luật biển hay ra trướcmột viện ad-hoc (đặc biệt) của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáybiển hay ra trước một trọng tài thương mại bắt buộc

1. Các vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên đề cập ởĐiều 187, điểm a có thể được đưa ra trước:

a) Một viện đặc biệt của Tòa án quốc tế về luật biển đượclập ra theo đúng các Điều 15 và 17 của Phụ lục VI, theo yêu cầu của các bên tranhchấp; hay

b) Một viện ad – hoc (đặc biệt) của Viện giải quyết cáctranh chấp liên quan đến đáy biển được lập ra theo đúng Điều 36 của Phụ lục VI,theo yêu cầu của bất kỳ bên tranh chấp nào.

2. a) Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay ápdụng một hợp đồng nêu ở Điều 187, điểm c điểm nhỏ i theo yêu cầu của bất kỳ bêntranh chấp nào, được đưa ra trước trọng tài thương mại bắt buộc, trừ khi cácbên tranh chấp có thỏa thuận khác, Tòa trọng tài thương mại xét xử một vụ tranhchấp như thế không có thẩm quyền phán xét về một điểm giải thích Công ước. Nếuvụ tranh chấp bao hàm một điểm giải thích Phần XI và các phụ lục có liên quan,về các hoạt động tiến hành trong Vùng thì điểm này phải được chuyển lên choViện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển quyết định.

b) Lúc khởi tố hay trong quá trình tiến hành một thủ tụctrọng tài như vậy, nếu như Tòa trọng tài thương mại, theo yêu cầu của một trongnhững bên tranh chấp hoặc tự ý mình, thấy rằng quyết định của mình phụ thuộcvào một quyết định của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển,thì Tòa trọng tài này phải chuyển đổi quan điểm này lên cho Viện nói trên quyếtđịnh. Sau đó, Tòa trọng tài sẽ ra phán quyết theo đúng quyết định của Viện;

c) Nếu trong hợp đồng thiếu một điều quy định về thủ tụctrọng tài có thể áp dụng cho vụ tranh chấp, thì công việc trọng tài được thựchiện theo quy chế trọng tài của CNUDCI hay theo bất kỳ quy chế trọng tài nàokhác có thể được trù định trong các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

ĐIỀU 189. Giới hạn thẩm quyền liênquan đến các quyết định của Cơ quan quyền lực

Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển khôngcó thẩm quyền phán xét đối với việc Cơ quan quyền lực, theo đúng phần này, thihành các quyền tùy ý quyết định của mình; trong bất kỳ trường hợp nào, Viện nàycũng không thể thay thế cho Cơ quan quyền lực trong việc thi hành các quyền tùyý quyết định nói trên. Không phương hại đến Điều 191, khi thi hành thẩm quyềnđược thừa nhận theo Điều 187, Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáybiển không được phán xét đối với các vấn đề xem một quy tắc, quy định hay mộtthủ tục của Cơ quan quyền lực có phù hợp với Công ước hay không và không thểtuyên bố quy tắc, quy định hay thủ tục này là vô hiệu. Thẩm quyền của Viện chỉgiới hạn trong việc xác định xem việc áp dụng quy tắc, quy định hay thủ tục củaCơ quan quyền lực trong những trường hợp riêng biệt có ngược lại với nhữngnghĩa vụ theo hợp đồng của các bên tranh chấp hay với các nghĩa vụ của họ theoCông ước không và xét xử những trường hợp kháng cáo về việc không đủ thẩm quyềnhay lạm quyền, cũng như những yêu cầu bồi thường thiệt hại và những yêu cầu đềnbù khác do một trong các bên kiện bên kia vì thiếu sót trong việc thi hànhnghĩa vụ theo hợp đồng hay nghĩa vụ của họ theo Công ước.

ĐIỀU 190. Sự tham gia tố tụng và ratrước tòa của các quốc gia thành viên đã nhận bảo trợ

1. Quốc gia thành viên bảo trợ cho một tự nhiên nhân haypháp nhân tham gia vào một vụ tranh chấp đã nêu ở Điều 187 được nhận thông báovề vụ tranh chấp và có quyền tham gia vào trình tự tố tụng bằng cách trình bàynhững nhận xét bằng văn bản hay bằng lời.

2. Khi một vụ kiện do một tự nhiên nhân hay pháp nhân đượcmột quốc gia thành viên khác bảo trợ, đệ đơn kiện một quốc gia thành viên vềmột vụ tranh chấp đã nêu ở Điều 187, điểm c, thì quốc gia bị đơn có thể yêu cầuquốc gia bảo trợ ra trước tòa nhân danh bên nguyên. Nếu không ra trước tòađược, thì quốc gia bị đơn có thể ủy quyền cho một pháp nhân mang quốc tịch củamình thay mặt.

ĐIỀU 191. Ý kiến tư vấn

Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển đưa racác ý kiến tư vấn theo yêu cầu của Đại hội đồng, hay Hội đồng về những vấn đềpháp lý được đặt ra trong những thời hạn ngắn nhất.

Phần XII

BẢO VỆ VÀ GÌN GIỮ MÔITRƯỜNG BIỂN

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 192. Nghĩa vụ chung

Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

ĐIỀU 193. Quyền thuộc chủ quyền củacác quốc gia khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình

Các quốc gia có quyền thuộc chủ quyền khai thác các tài nguyênthiên nhiên của mình theo chính sách về môi trường của mình và theo đúng nghĩa vụbảo vệ và gìn giữ môi trường biển của mình.

ĐIỀU 194. Các biện pháp nhằm ngăn ngừa,hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển

1. Các quốc gia, tùy theo tình hình, thi hành riêng rẽ hay phốihợp với nhau, tất cả các biện pháp phù hợp với Công ước, cần thiết để ngănngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, sử dụng các phương tiện thíchhợp nhất mà mình có, và cố gắng điều hòa các chính sách của mình về mặt này.

2. Các quốc gia thi thành mọi biện pháp cần thiết để cho cáchoạt động thuộc quyền tài phán hay quyền kiểm soát của mình không gây tác hạido ô nhiễm cho các quốc gia khác và cho môi trường của họ và để cho nạn ô nhiễmnảy sinh từ những tai nạn hay từ các hoạt động thuộc quyền tài phán hay quyềnkiểm soát của mình không lan ra ngoài các khu vực mà mình thi hành các quyềnthuộc chủ quyền theo đúng Công ước.

3. Các biện pháp được sử dụng để thi hành phần này cần phảinhằm vào tất cả các nguồn gây ra ô nhiễm môi trường biển. Nhất là, chúng baogồm những biện pháp nhằm hạn chế đến mức cao nhất:

a. Việc thải bỏ từ khí quyển xuống hay đi qua khí quyển do nhậnchìm các chất độc có hại và độc hại, đặc biệt là các chất không bị phân hủy từcác nguồn ở đất liền;

b. Ô nhiễm do các tàu thuyền gây ra, đặc biệt là những biện phápnhằm đề phòng các sự cố và đối phó với các trường hợp khẩn cấp, nhằm đảm bảo antoàn cho các hoạt động trên biển, ngăn ngừa những hành động thải bỏ, dù cố ýhay không, và quy định về cách thiết kế, cấu trúc, trang bị và việc khai tháccác tàu thuyền;

c. Ô nhiễm bắt nguồn từ các thiết bị hay phương tiện được sửdụng để thăm dò hay khai thác các tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đấtdưới đáy biển này, đặc biệt là các biện pháp nhằm phòng ngừa các sự cố và đốiphó với các trường hợp khẩn cấp, đảm bảo an toàn cho các hoạt động trên biển,và quy định về cách thiết kế, cấu trúc, trang bị và việc khai thác các thiết bịhay phương tiện này,và thành phần nhân viên được sử dụng ở đó;

d. Ô nhiễm xuất phát từ các thiết bị hay phương tiện kháchoạt động trong môi trường biển, đặt biệt là những biện pháp nhằm phòng ngừanhững sự cố và đối phó với các trường hợp khẩn cấp, bảo đảm an toàn cho cáchoạt động trên biển, và quy định về cách thiết kế, cấu trúc, trang bị và khaithác các thiết bị hay phương tiện này,và thành phần nhân viên được sử dụng ởđó.

4. Khi thi hành các biện pháp phòng ngừa, hạn chế , hay chếngự ô nhiễm môi trường biển, các quốc gia tránh chấp cứ sự can thiệp vô lý nàovào các hoạt động của các quốc gia khác đang thi hành các quyền hay đang thựchiện nghĩa vụ của họ theo đúng Công ước.

5. Các biện pháp được thi hành theo đúng phần này bao gồm cácbiện pháp cần thiết để bảo vệ và gìn giữ các hệ thống sinh thái hiếm hoi haymỏng manh cũng như điều kiện cư trú của các loài và các sinh vật biển khác đangthoái hóa, có nguy cơ hay đang bị hủy diệt.

ĐIỀU 195. Nghĩa vụ không được đùnđẩy thiệt hại hay các nguy cơ và không được thay thế một kiểu ô nhiễm này bằng mộtkiểu ô nhiễm khác

Khi thi hành các biện pháp để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngựô nhiễm môi trường biển, các quốc gia phải làm sao để không đùn đẩy, trực tiếphay gián tiếp, thiệt hại hay các nguy cơ từ vùng này sang vùng khác và khôngđược thay thế một kiểu ô nhiễm này bằng một kiểu ô nhiễm khác.

ĐIỀU 196. Sử dụng các kỹ thuật haydu nhập các loài ngoại lai hoặc mới

1. Các quốc gia thi hành mọi biện pháp cần thiết để ngănngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển từ việc sử dụng các kỹ thuậttrong khuôn khổ quyền tài phán hay dưới sự kiểm soát của mình, hoặc do du nhậpcố ý hay vô tình vào một bộ phận môi trường biển các ngoại lai hoặc mới có thểgây ra ở đó các thay đổi đáng kể và có hại.

2. Điều này không ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy địnhcủa Công ước có liên quan đến các biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ônhiễm môi trường biển.

Mục 2. HỢP TÁC TRÊN PHẠM VI THẾ GIỚIVÀ KHU VỰC

ĐIỀU 197. Hợp tác trên phạm vi thếgiới hoặc khu vực

Các quốc gia hợp tác trên phạm vi thế giới và nếu có thể thìtrên phạm vi khu vực, trực tiếp hay qua trung gian của các tổ chức quốc tế có thẩmquyền, trong việc hình thành và soạn thảo các quy tắc và các quy phạm, cũng nhưcác tập quán và thủ tục được kiến nghị mang tính chất quốc tế phù hợp với Côngước, để bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, có tính đến các đặc điểm có tínhchất khu vực.

ĐIỀU 198. Thông báo về một nguy cơ gâythiệt hại sắp xảy ra hay thông báo về một thiệt hại thực sự

Quốc gia nào biết được trường biệt môi trường biển đang cónguy cơ sắp phải chịu những thiệt hại hay đã chịu những thiệt hại do ô nhiễmthì phải lập tức thông báo cho các quốc gia khác mà mình xét thấy có nguy cơphải chịu những tổn thất này cũng như cho các tổ chức quốc tế có thẩm quyền.

ĐIỀU 199. Kế hoạch khẩn cấp chống ônhiễm

Trong các trường hợp đã nêu ở Điều 198, các quốc gia ở trongkhu vực bị ảnh hưởng, theo khả năng của mình, và các tổ chức quốc tế có thẩmquyền hợp tác với nhau đến mức cao nhất nhằm loại trừ ảnh hưởng của ô nhiễm vànhằm ngăn ngừa và giảm đến mức tối thiểu những thiệt hại. Nhằm mục đích này,các quốc gia cần cùng nhau soạn thảo và xúc tiến các kế hoạch khẩn cấp để đốiphó với những tai nạn gây ra ô nhiễm môi trường biển.

ĐIỀU 200. Công tác nghiên cứu, cácchương trình nghiên cứu và trao đổi thông tin và các dữ kiện

Trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức quốc tế cóthẩm quyền, các quốc gia hợp tác với nhau nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu,thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học và khuyến khích việc trao đổicác thông tin và các dữ kiện về ô nhiễm môi trường biển. Các quốc gia cố gắngtham gia tích cực vào các chương trình khu vực và thế giới nhằm thu được nhữngkiến thức cần thiết để xác định tính chất và phạm vi ô nhiễm, đối tượng có nguycơ bị ô nhiễm, những con đường mà nạn ô nhiễm đi qua, những nguy hiểm mà nạn ônhiễm chứa đựng và những phương thức khắc phục có thể có.

ĐIỀU 201. Tiêu chuẩn khoa học đểsoạn thảo các quy định

Lưu ý đến các thông tin và các dữ kiện thu được trong khi ápdụng Điều 200, trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức quốc tế có thẩmquyền, các quốc gia hợp tác với nhau nhằm lập ra các tiêu chuẩn khoa học thíchhợp để xây dựng và soạn thảo các quy tắc và quy phạm, cũng như các tập quán và thủtục được kiến nghị nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển.

Mục 3. GIÚP ĐỠ KỸ THUẬT

ĐIỀU 202. Giúp đỡ cho các quốc giađang phát triển trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật

Trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức quốc tế cóthẩm quyền, các quốc gia cần:

a. Đẩy mạnh các chương trình giúp đỡ cho các quốc gia đangphát triển trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, kỹ thuật và trong các lĩnhvực khác nhằm bảo vệ và gìn giữ môi trường biển và nhằm ngăn ngừa, hạn chế vàchế ngự ô nhiễm biển. Sự giúp đỡ này đặc biệt gồm có:

i. Đạo tạo nhân viên khoa học và kỹ thuật của các quốc gianày;

ii. Tạo điều kiện dễ dàng cho việc tham gia của các quốc gianày vào các chương trình quốc tế thích hợp;

iii. Cung cấp cho các quốc gia này cơ sở vật chất và những điềukiện thuận lợi cần thiết;

iv. Tăng cường khả năng tự sản xuất cơ sở vật chất nói trêncho các quốc gia đó;

v. Giúp đỡ các ý kiến tư vấn và phát triển các phương tiệnvật chất liên quan đến các chương trình nghiên cứu, các chương trình giám sát liêntục, chương trình giáo dục và các chương trình khác;

b. Thực hiện sự giúp đỡ thích hợp, đặc biệt là cho các quốcgia đang phát triển, để giúp các quốc gia này giảm bớt đến mức tối thiểu nhữngảnh hưởng của các tai biến lớn có nguy cơ gây ra một nạn ô nhiễm nghiêm trọngcho môi trường biển;

c. Thực hiện sự giúp đỡ thích hợp, đặc biệt là cho các quốc giađang phát triển, để xây dựng các đánh giá về sinh thái học.

ĐIỀU 203. Việc đối xử ưu tiên chocác quốc gia đang phát triển

Để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biểnhoặc để hạn chế đến mức tối thiểu các ảnh hưởng của nó, các tổ chức quốc tếdành sự đối xử ưu tiên cho các quốc gia đang phát triển về:

a. Việc trợ cấp vốn và các phương tiện giúp đỡ kỹ thuậtthích hợp; và

b. Việc sử dụng các cơ sở chuyên môn của mình.

Mục 4. GIÁM SÁT LIÊN TỤC VÀ ĐÁNH GIÁVỀ SINH THÁI

ĐIỀU 204. Giám sát liên tục các nguycơ ô nhiễm và ảnh hưởng của ô nhiễm

1. Các quốc gia cần cố gắng hết sức mình và phù hợp với cácquyền của các quốc gia khác, trực tiếp hoặc qua trung gian của các tổ chức quốctế có thẩm quyền, để quan sát, đo đạc, đánh giá và phân tích, bằng các phươngpháp khoa học được thừa nhận, các nguy cơ ô nhiễm môi trường biển hay những ảnhhưởng của vụ ô nhiễm này.

2. Đặc biệt, các quốc gia phải thường xuyên giám sát nhữngtác động của mọi hoạt động mà họ cho phép hay họ tiến hành để xác định xem cáchoạt động này có nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường biển hay không.

ĐIỀU 205. Việc công bố các báo cáo

Các quốc gia công bố các báo cáo về kết quả thu được trongkhi áp dụng Điều 204 hay, theo khoảng thời gian thích hợp, cung cấp các báo cáonhư vậy cho các tổ chức quốc tế có thẩm quyền và các tổ chức quốc tế này cầnphải để cho mọi quốc gia khác sử dụng các báo cáo này.

ĐIỀU 206. Đánh giá những tác dụngtiềm tàng của các hoạt động

Khi các quốc gia có những lý do xác đáng để cho rằng cáchoạt động đã dự tính thuộc quyền tài phán hay quyền kiểm soát của mình có quycơ gây ra một vụ ô nhiễm nghiêm trong hay làm thay đổi đáng kể và có hại đốivới môi trường biển, thì trong chừng mực có thể, các quốc gia này cần đánh giácác tác động tiềm tàng cùa các hoạt động này đối với môi trường đó và cần báocáo lại những kết quả của những đánh giá này theo cách đã được quy định ở Điều205.

Mục 5. QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ LUẬTTRONG NƯỚC NHẰM NGĂN NGỪA, HẠN CHẾ VÀ CHẾ NGỰ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

ĐIỀU 207. Ô nhiễm bắt nguồn từ đất

1. Các quốc gia thông qua các luật và quy định để ngăn ngừa,hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường có nguồn gốc từ đất, kể cà các ô nhiễmxuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ, cólưu ý đến các quy tắc và quy phạm cũng như các tập quán và thủ tục được kiếnnghị và chấp nhận trên phạm vi quốc tế.

2. Các quốc gia thi hành mọi biện pháp có thể cần thiết đểngăn ngừa, hạn chế và chế ngự nạn ô nhiễm này.

3. Các quốc gia có cố gắng điều hòa các chính sách của mìnhvề mặt này ở mức độ khu vực thích hợp.

4. Đặc biệt khi hành động qua trung gian của các tổ chứcquốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao, các quốc gia cố gắngthông qua các quy tắc và quy phạm, cũng như các tập quán và thủ tục được kiếnnghị trên phạm vi thế giới và khu vực để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự nạn ônhiễm bắt nguồn từ đất đối với môi trường biển, có tính đến các đặc điểm khuvực, đến khả năng kinh tế của các quốc gia đang phát triển và các đòi hỏi vềphát triển kinh tế của các quốc gia này. Các quy tắc và quy phạm cũng như các nhữngtập quán và thủ tục được kiến nghị này tùy theo sự cần thiết mà qua từng thờikỳ, được xem xét lại.

5. Các luật, quy chế và các biện pháp cũng như các quy tắc,quy phạm và các tập quán, thủ tục được kiến nghị đã nêu ở khoản 1, 2 và 4, baogồm những biện pháp nhằm hạn chế đến hết mức việc trút vào môi trường biển cácchất độc, có hại và độc hại, đặc biệt là các chất không thể phân hủy được.

ĐIỀU 208. Ô nhiễm do các hoạt động liênquan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia gây ra

Các quốc gia ven biển thông qua các luật và quy định để ngănngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm đối với môi trường biển trực tiếp hay giántiếp do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia gâyra, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình thuộc quyền tàiphán của mình theo các Điều 60 và 80.

Các quốc gia thi hành mọi biện pháp khác có thể cần thiết đểngăn ngừa, hạn chế và chế ngự sự ô nhiễm này.

Các luật, quy định và biện pháp này không được kém hiệu quảhơn các quy tắc và quy phạm quốc tế hay các tập quán và thủ tục đã được kiếnnghị có tính chất quốc tế.

Các quốc gia cố gắng điều hòa các chính sách của mình về mặtnày ở mức độ khu vực thích hợp.

Đặc biệt khi hành động qua trung gian của các tổ chức quốctế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao, các quốc gia thông qua cácquy tắc và quy phạm cũng như tập quán và thủ tục được kiến nghị, trên phạm vithế giới và khu vực, để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự nạn ô nhiễm môi trườngbiển nói ở khoản 1. Các quy tắc và quy phạm cũng như tập quán và thủ tục đượckiến nghị này, tùy theo sự cần thiết mà qua từng thời kỳ được xem xét lại.

ĐIỀU 209. Ô nhiễm do các hoạt độngtiến hành trong Vùng gây ra

1. Các quy tắc, quy định và thủ tục quốc tế được thông quatheo đính Phần XI để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển do cáchoạt động tiến hành trong Vùng gây ra. Các quy tắc, quy định và thủ tục này,tùy theo sự cần thiết mà qua từng thời kỳ được xem xét lại.

2. Trong điều kiện tuân theo các quy định thích hợp của mụcnày, các quốc gia thông qua các luật và quy định để ngăn ngừa, hạn chế và chếngự ô nhiễm môi trường biển này sinh từ các hoạt động tiến hành trong Vùng của cáctàu thuyền hay xuất phát từ các thiết bị, công trình hay các phương tiện khác,tùy theo trường hợp, treo cờ của các quốc gia đó, đăng ký ở trên lãnh thổ hay thuộcquyền của họ. Các luật và quy định này không được kém hiệu lực hơn các quytắc,quy định và thủ tục quốc tế nói ở khoản 1.

ĐIỀU 210. Ô nhiễm do sự nhận chìm

Các quốc gia thông qua các luật và quy định để phòng ngừa,hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển do sự nhận chìm.

Các quốc gia thi hành tất cả các biện pháp khác có thể cầnthiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm này.

Các luật, quy định và biện pháp phải bảo đảm rằng không một sựnhận chìm nào có thể được tiến hành mà không được phép của các nhà đương cục cóthẩm quyền của các quốc gia.

Đặc biệt khi hành động qua trung gian của các tổ chức quốc tếcó thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao; các quốc gia cố gắng thông quatrên phạm vi thế giới và khu vực các quy tắc và quy phạm cũng như tập quán và thủtục được kiến nghị để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm này. Các quy tắc vàquy phạm cũng như tập quán và thủ tục được kiến nghị này, tùy theo sự cần thiếtmà qua từng thời kỳ được xem xét lại.

Việc nhận chìm ở trong lãnh hải và trong vùng đặc quyền vềkinh tế hay trên thềm lục địa không thể được tiến hành nếu không được sự đồng ýrõ ràng trước quốc gia ven biển; quốc gia ven biển có quyền cho phép, quy địnhvà kiểm soát sự nhận chìm này, sau khi đã xem xét đúng mức vấn đề với các quốcgia khác mà do những hoàn cảnh địa lý nên việc nhận chìm này có thể có nhữngtác hại đối với họ.

Các luật và quy định cũng như các biện pháp quốc gia không đượckém hiệu lực hơn các quy tắc và quy phạm có tính chất thế giới để ngăn ngừa,hạn chế và chế ngự ô nhiễm này.

ĐIỀU 211. Ô nhiễm do tàu thuyền gâyra

Hành động qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hayqua một hội nghị ngoại giao chung, các quốc gia thông qua các quy tắc và quyphạm quốc tế nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển do cáctàu thuyền gây ra và quan tâm tạo điều kiện dễ dàng cho việc định ra, cũng theocách nói trên, nếu cần, các cách bố trí đường giao thông cho tàu thuyền nhằmhạn chế đến mức tối thiểu nguy cơ xảy ra tai nạn có thể làm cho môi trường biểnkể cả vùng duyên hải bị ô nhiễm, và do đó mà đụng chạm đến những lợi ích cóliên quan của các quốc gia ven biển. Các quy tắc và quy phạm này, cũng theocách như thế, tùy theo sự cần thiết mà qua từng thời kỳ được xem xét lại.

Các quốc gia thông qua các luật và quy định để ngăn ngừa,hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển do tàu thuyền mà mình cho mang cờhay cho đăng ký gây ra. Các luật và quy định này không được kém hiệu quả hơncác quy tắc và quy phạm quốc tế được chấp nhận chung và được xây dựng qua trunggian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao chung.

Nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môitrường biển, các quốc gia khi đặt ra các điều kiện đặt biệt cho các tàu thuyềnnước ngoài đi vào các cảng hay nội thủy của mình hoặc công trình cảng cuối cùngở ngoài khơi, cần phải công bố đúng thủ tục về các điều kiện này và phải thôngbáo cho các tổ chức quốc tế có thẩm quyền. Để điều hòa chính sách về mặt này,khi hai hay nhiều quốc gia ven biển đặt ra các điều kiện như vậy dưới một hình thứcgiống nhau, cần ghi rõ trong thông báo các quốc gia nào tham gia vào các thỏathuận như vậy. Mọi quốc gia đòi hỏi thuyền trưởng của một chiếc tàu mà mình chomang cờ hay đăng ký, khi tàu có mặt ở trong lãnh hải của một quốc gia tham giavào những thỏa thuận chung này, phải cung cấp, theo yêu cầu của quốc gia này,những thông tin chỉ rõ liệu chiếc tàu này có hướng về một quốc gia thuộc cùngkhu vực tham gia vào các thỏa thuận này không và, nếu đúng, cần xác định xemchiếc tàu này có đáp ứng đầy đủ các điều kiện do quốc gia này đặt ra liên quanđến việc đi vào trong các cảng của mình không. Điều này được áp dụng khôngphương hại đến việc tiếp tục thực hiện quyền đi qua không gây hại của một chiếctàu hay đến việc áp dụng Điều 25, khoản 2.

Trong việc thi hành chủ quyền đối với lãnh hải của mình, cácquốc gia ven biển có thể thông qua các luật và quy định để ngăn ngừa, hạn chếvà chế ngự ô nhiễm môi trường biển do tàu thuyền nước ngoài gây ra, kể cả cáctàu thuyền đang thực hiện quyền đi qua không gây hại. Các luật và quy định này,theo đúng với Mục 3 của phần II, không được cản trở việc đi qua không gây hạicủa tàu thuyền nước ngoài.

Nhằm thực hiện việc áp dụng đã nói ở mục 6, các quốc gia venbiển có thể thông qua các luật và quy định nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ônhiễm do tàu thuyền gây ra trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình; các luậtvà quy định đó phải phù hợp và đem lại hiệu lực cho các quy tắc và quy địnhquốc tế được chấp nhận chung và được xây dụng qua trung gian của các tổ chứcquốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao chung.

a. Khi các quy tắc và quy phạm quốc tế nói ở khoản 1 khôngcho phép đáp ứng một cách thích đáng với những tình huống đặc biệt và nếu mộtquốc gia ven biển có lý do chính đáng để cho rằng một khu vực đặc biệt và đượcxác định rõ ràng trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình, đòi hỏi phải thông quacác biện pháp bắt buộc đặc biệt để ngăn ngừa ô nhiễm do tàu thuyền gây ra, vìnhững lý do kỹ thuật được thừa nhận do những đặc điểm hải dương học và sinhthái học của khu vực đó cũng như do việc sử dụng hay việc bảo vệ các tài nguyêncủa khu vực đó và do đặc điểm riêng của luồng giao thông, thì quốc gia này, saukhi thông qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền, đã tham khảo ý kiếnthích đáng với mọi quốc gia hữu quan, có thể gửi lên tổ chức này một thông báoliên quan đến khu vực xem xét bằng cách đưa ra những chứng minh khoa học và kỹthuật, cũng như những chỉ dẫn về cá thiết bị thu nhận cần thiết để chứng minh. Trongthời hạn 12 tháng sau khi nhận được thông báo, tổ chức quyết định xem tình hìnhtrong khu nvực được xem xét có đáp ứng các điều kiện kể trên không. Nếu tổ chứcquyết định đúng là như vậy, thì quốc gia ven biển có thể thông qua cho khu vựcnày các luật và quy định nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do các tàuthuyền gây ra đem lại hiệu lực cho các quy tắc và quy phạm hay tập quán về hànghải quốc tế mà tổ chức đã đưa ra áp dụng cho những khu vực đặc biệt.Các luật vàquy định này chỉ được áp dụng đối với các tàu thuyền nước ngoài sau một thờihạn là 15 tháng kể từ ngày thông báo cho tổ chức;

Quốc gia ven biển công bố các giới hạn của các khu vực đặcbiệt và được xác định rõ ràng này;

Khi làm thông báo kể trên, quốc gia ven biển cần đồng thờinói rõ cho tổ chức rằng họ có ý định thông qua, cho khu vực mà họ đề cập, nhữngluật và quy định bổ sung nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trườngdo tàu thuyền gây ra hay không. Các luật và quy dịnh bổ sung này có thể đề cập việcthải bỏ hay những tập quán hàng hải, nhưng không bắt buộc các tàu thuyền nướcngoài phải tôn trọng các tiêu chuẩn khác về mặt thiết kế, cấu trúc và trang bị,ngoài các quy tắc và quy phạm quốc tế đẵ được chấp nhận chung; các luật và quyđịnh bổ sung này có thế áp dụng cho tàu thuyền nước ngoài, sau 15 tháng kể từngày thông báo cho tổ chức này, với điều kiện là tổ chức này, trong một thờihạn là 12 tháng, kể từ ngày được thông báo, đã chuẩn y các luật và quy định bổ sungnói trên.

Các quy tắc và quy phạm quốc tế nêu ở điều này còn cần trùđịnh nghĩa vụ phải thông báo ngay lập tức cho các quốc gia ven biển mà vùngduyên hải hay các lợi ích liên quan của họ có nguy cơ bị những tai nạn trênbiển tác động đến, nhất là những tai nạn dẫn đến hay có nguy cơ dẫn đến nhữngviệc thải bỏ.

ĐIỀU 212. Ô nhiễm có nguồn gốc từbầu khí quyển hay qua bầu khí quyển

Để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển cónguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển, các quốc gia thông qua cácluật và quy định áp dụng ở vùng trời thuộc chủ quyền của mình và áp dụng chocác tàu thuyền mang cờ của mình hay cho các tàu thuyền hoặc các phương tiện baymà mình cho đăng ký, có tính đến các quy tắc quy phạm, cũng như những tập quánvà thủ tục được kiến nghị, và đã được chấp nhận trên phạm vi quốc tế vá có tínhđến an toàn hàng không.

Các quốc gia thi hành các biện pháp khác có thể cấn thiết đểngăn giữ, hạn chế và chế ngự ô nhiễm này.

Đặc biệt khi hành động qua trung gian cảu các tổ chức quốctế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao, các quốc gia cố gắng thôngqua các quy tắc và quy phạm, cũng như các tập quán và thủ tục được kiến nghịtrên phạm vi thế giới và khu vực để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự nạn ô nhiễmnày.

Mục 6. VIỆC ÁP DỤNG

ĐIỀU 213. Việc áp dụng quy định liênquan đến ô nhiễm xuất phát từ đất

Các quốc gia đảm bảo việc áp dụng các luật và quy định vàthi hành theo đúng Điều 207; Các quốc gia thông qua luật và quy định và thihành các biện pháp cần thiết khác để đem lại hiệu lực cho các quy tắc và quyphạm quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao nhằm ngăn ngừa, hạnchế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển bắt nguồn từ đất.

ĐIỀU 214. Việc áp dụng các quy định liênquan đến ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển gây ra

Các quốc gia bảo đảm việc áp dụng các luật và quy định đãđược thông qua theo đúng Điều 208; họ thông qua các luật và các quy định và thihành các biện pháp cấn thiết khác để đem lại hiệu lực cho các quy tắc và quyphạm quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua trung gian của các tổ chức quốc tếcó thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao, để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngựô nhiễm môi trường do các hoạt động liên quan đến đáy biển và thuộc quyền tàiphán của mình, trực tiếp hay gián tiếp gây ra, hay xuất phát từ các đảo nhântạo, các thiết bị và công trình được đặt dưới quyền tài phán của mình theo cácĐiều 60 và 80.

ĐIỀU 215. Việc áp dụng quy định quốctế liên quan đến ô nhiễm do các hoạt động tiến hành trong Vùng gây ra

Việc áp dụng quy tắc, quy định và thủ tục quốc tế được xâydựng theo đúng Phần XI để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biểngây ra bởi các hoạt động tiến hành trong Vùng do phần này điều chỉnh.

ĐIỀU 216. Việc áp dụng quy định liênquan đến ô nhiễm do việc nhận chìm

Các luật và quy định được thông qua theo đúng Công ước vàcác quy tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua trung giancủa các tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao nhằm ngănngừa,hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển bởi việc nhận chìm do các đốitượng sau đây thi hành:

Quốc gia ven biển, đối với việc nhận chìm nằm trong giới hạncủa lãnh hải hay vùng đặc quyền về kinh tế hay trên thềm lục địa của mình;

Quốc gia mà tàu mang cờ, đối với các tàu thuyền mang cờ củamình hay các tàu hay phương tiện bay mà mình cho đăng ký;

Bất kỳ quốc gia nào, đối với việc đưa ra chất cặn bã hay cácchất khác lên lãnh thổ của mình hay lên các công trình cảng cuối cùng ra khơi.

Theo điều này, không quốc gia nào được khởi tố, khi vụ kiệnđã được một quốc gia khác khởi tố cũng theo đúng điều này.

ĐIỀU 217. Các quyền hạn của các quốcgia mà tàu mang cờ

Các quốc gia quan tâm đến việc tàu thuyền mang cờ của mìnhhay được mình cho đăng ký tôn trọng các quy tắc và quay phạm quốc tế có thể ápdụng, được xây dựng qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay quamột hội nghị ngoại giao chung, cũng như các luật và quy định mà các quốc gianày đã thông qua theo đúng Công ước để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm môitrường biển do tàu thuyền gây ra và họ thông qua các quy luật và quy định, vàthi hành các biện pháp cần thiết để đem lại hiệu lực cho các quy luật và quyđịnh đó. Quốc gia mà tàu mang cờ phải quan tâm đến việc các quy tắc, quy phạm,luật và quy định này được áp dụng một cách có hiệu quả, bất kể việc vi phạm xảyra ở đâu.

Đặc biệt, các quốc gia thi hành các biện pháp thích hợp để cấmcác tàu thuyền mang cờ của nước mình hay được mình cho đăng ký chuẩn bị nhổ neo,chừng nào chúng không tuân theo đúng các quy tắc và quy phạm quốc tế nêu ởkhoản 1, kể các quy định liên quan đến cách thiết kế, cấu trúc, và trang bị củatàu thuyền.

Các quốc gia quan tâm đến việc các tàu thuyền mang cờ củanước mình hay được mình cho đăng ký phải có đủ các chứng từ cấn thiết và đượccấp theo các quy tắc và quy phạm quốc tế nêu ở khoản 1. Các quốc gia quan tâm đếnviệc các tàu thuyền mang cờ nước mình phải được kiểm tra định kỳ xác minh xemlời ghi chú ở trên các chứng từ này có phù hợp với tình trạng thực tế của contàu hay không. Các quốc gia khác chấp nhận các chứng từ này cũng có giá trị nhưlà những chứng từ mà mình cấp, trừ khi có lý do xác đáng để cho rằng tình trạngcon tàu trong một chừng mực quan trọng không phù hợp với các ghi chú ở trên cácchứng từ này.

Nếu một con tàu vi phạm các quy tắc và quy định được xâydựng qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghịngoại giao chung, quốc gia cho tàu mang cờ, với điều kiện không phương hại tớicác Điều 218, 220 và 228, phải lập tức tiến hành mọi cuộc điều tra và, nếu thấycần thì, khởi tố đối với vụ vi phạm được suy đoán đó, bất kể nơi xảy ra vụ viphạm này hay vị trí mà nạn ô nhiễm do vụ vi phạm gây ra đã xảy ra hoặc được xácnhận là ở đâu.

Khi tiến hành điều tra vụ vi phạm, quốc gia mà tàu mang cờcó thể yêu cầu sự giúp đỡ của mọi quốc gia khác mà sự hợp tác có thể có ích đểlàm sáng tỏ các hoàn cảnh của sự việc. Các quốc gia cố gắng đáp ứng các yêu cầuthích hợp của các quốc gia mà tàu mang cờ.

Theo yêu cầu bằng văn bản của một quốc gia,các quốc gia phảitiến hành điều tra về mọi vi phạm do tàu thuyền mang cờ của họ có thể đã phạmphải. Quốc gia mà tàu mang cờ phải tiến hành không chậm trễ việc truy tố về nộidung chính của sự vi phạm đã được suy đoán theo đúng luật trong nước của mình,nếu tin chắc rằng đã có đủ chứng cứ để tiến hành công việc này.

Quốc gia mà tàu mang cờ thông báo ngay cho quốc gia yêu cầuvà tổ chức quốc tế có thẩm quyền về vụ việc đã được khởi tố và kết quả của nó.Tất cả các quốc gia đều được tiếp xúc với những thông tin đã được thông báo đó.

Những chế tài được trù định trong các quy luật và quy địnhcủa quốc gia đối với các tàu thuyền mang cờ của mình cần phải nghiêm khắc đểhạn chế các vụ vi phạm,ở bất cứ đâu.

ĐIỀU 218. Các quyền hạn của quốc giacó cảng

Khi một chiếc tàu tự ý có mặt ở trong một cảng hay ở mộtcông trình cảng cuối cùng ngoài khơi, quốc gia có cảng có thể mở một cuộc điềutra và, khi có các chứng cứ để chứng minh, có thể khởi tố đối với bất kỳ sựthải đổ nào do chiếc tàu tiến hành ở ngoại nội thủy, lãnh hải hay vùng đặcquyền về kinh tế của mình, vi phạm các luật và quy phạm quốc tế có thể áp dụng,được xây dựng qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hộinghị ngoại giao chung.

Quốc gia có cảng không thể khởi tố theo khoản 1 đối với mộtvụ vi phạm do việc thải đổ nào do chiếc tàu tiến hành ở ngoài nội thủy, lãnhhải hay vùng đặc quyền về kinh tế của mình, hoặc là quốc gia mà tàu mang cờ hayquốc gia đã chịu, hay có nguy cơ phải chịu, các tổn thất do việc thải đổ nàygây ra yêu cầu.

Khi một con tàu tự ý có mặt trong một cảng hay ở một côngtrình cảng cuối cùng ngoài khơi, quốc gia có cảng cố gắng chấp nhận những đơnyêu cầu điều tra của bất kỳ quốc gia nào khác về việc thải đổ có khả năng gâyra vụ vi phạm đã nêu ở khoản 1 có thể đã xảy ra trong nội thủy, lãnh hải hayvùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia yêu cầu, và có thể đã gây ô nhiễm hay cónguy cơ gây ô nhiễm cho các vùng này. Quốc gia có cảng cũng cố gắng chấp nhậnđơn yêu cầu điều tra của quốc gia mà tàu mang cờ về những vi phạm như thế, bấtkể các vụ vi phạm này có thể xảy ra ở đâu.

Hồ sơ điều tra do quốc gia có cảng tiến hành theo điều nàyđược chuyển cho quốc gia mà tàu mang cờ hay cho quốc gia ven biển theo yêu cầucủa các quốc gia này. Bất kỳ việc nào do quốc gia có cảng khởi tố dựa trên cơ sởcủa cuộc điều tra này, có thể bị đình chỉ theo yêu cầu của quốc gia ven biển,với điều kiện phải tuân theo các quy định của Mục 7, khi vụ vi phạm đã xảy ratrong nội thủy, lãnh hải hay vùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia ven biểnnày. Khi đó những chứng cứ, hồ sơ về sự việc, cũng như mọi sự bảo lãnh hay đảmbảo tài chính đã được gửi cho những nhà đương cục của quốc gia có cảng phảiđược chuyển cho quốc gia ven biển. Sau khi chuyển giao hồ sơ, quốc gia có cảngkhông theo đuổi vụ kiện nữa.

ĐIỀU 219. Các biện pháp kiểm tra khảnăng đi biển nhằm tránh ô nhiễm

Với điều kiện tuân thủ Mục 7, khi các quốc gia, theo yêu cầuhay tự ý mình xác định rằng một con tàu đang ở một trong các cảng của mình hayở một trong các công trình cảng cuối cùng ở ngoài khơi của mình đã vi phạm cácqui tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng liên quan đến khả năng đi biển củatàu thuyền và có nguy cơ từ đó gây ra thiệt hại cho môi trường biển, cần thihành các biện pháp hành chính trong phạm vi khả năng của mình để ngăn không chochiếc tàu này rời bến. Các quốc gia này chỉ cho phép chiếc tàu này đi vào xưởngsửa chữa thích hợp gần nhất và, một khi đã loại trừ các nguyên nhân gây ra viphạm, các quốc gia này cho phép chiếc tàu này tiếp tục hành trình của mình ngaylập tức.

ĐIỀU 220. Các quyền hạn của quốc giaven biển

Khi một chiếc tàu tự ý có mặt trong cảng hay ở một côngtrình cảng cuối cùng ngoài khơi với điều kiện tuân thủ Mục 7, quốc gia có cảngcó thể khởi tố về bất kỳ vi phạm nào đôi với các luật và quy định mà mình đãthông qua theo đúng Công ước hay theo đúng các qui tắc và quy phạm quốc tế cóthể áp dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do tàu thuyền gây ra,nếu vụ vi phạm đã xảy ra trong lãnh hải hay trong vùng đặc quyền kinh tế củamình.

Khi một quốc gia có lý do xác đáng cho rằng chiếc tàu tronglúc đi qua lãnh hải của mình đã vi phạm các luật và quy định mà mình đã thôngqua theo đúng công ước hay các nguyên tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụngnhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do các tàu thuyền gây ra thì quốcgia này có thể tiến hành kiểm tra cụ thể chiếc tàu đã gây ra vụ vi phạm, nhưngkhông làm phương hại đến việc áp dụng các quy định thích hợp của Mục 3 thuộc phầnII, và, khi có các chứng cứ để chứng minh được điều đó thì có thể khởi tố vàđặc biệt có thể ra lệnh giữ chiếc tàu theo đúng luật trong nước của mình, vớiđiều kiện phải tuân thủ theo quy định của Mục 7.

Khi một quốc gia có lý do xác đáng để cho rằng một con tàuđi trong vùng đặc quyền về kinh tế hay trong lãnh hải của mình đã vi phạm cácquy tắc và quy phạm quốc tế đó và đem lại hiệu lực cho chúng, quốc gia này cóthể yêu cầu con tàu cung cấp các thông tin liên quan đến lý lịch và cảng đăng kýcủa tàu, cảng cuối cùng và cảng sắp ghé vào của tàu và các thông tin thích hợpcần thiết khác để xác định có phải một vụ vi phạm đã xảy ra không.

Các quốc gia thông qua các luật và qui định và thi hành cácbiện pháp cần thiết cho các tàu thuyền mang cờ của mình đáp ứng các yêu cầu vềthông tin đã nêu ở khoản 3.

Khi một quốc gia có các lý do xác đáng để cho rằng một chiếctàu đi trong đặc quyền kinh tế hay trong lãnh hải của mình đã gây ra một vụ viphạm trong vùng đặc quyền kinh tế đã nêu ở khoản 3 dẫn đến những việc thải đổnghiêm trọng vào môi trường biển, đã gây ra hoặc có nguy cơ gây ra ở môi trườngbiển này một vụ ô nhiễm đáng kể, quốc gia có thể tiến hành kiểm tra cụ thể contàu để xác minh xem có phải đã có sự vi phạm không, nếu như con tàu từ chối khôngđưa ra các thông tin, hay nếu những thông tin được cung cấp mâu thuẫn rõ ràngvới sự thật, và nếu các hoàn cảnh của sự việc lý giải cho sự kiểm tra này.

Khi có chứng cứ chứng tỏ rằng một chiếc tàu đi trong vùngđặc quyền về kinh tế hay lãnh hải của một quốc gia đã gây ra trong vùng đặcquyền về kinh tế một vụ vi phạm đã nêu ở khoản 3 dẫn đến những việc thải đổ gâyhoặc có nguy cơ gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho vùng duyên hải hay chocác lợi ích có liên quan của quốc gia ven biển hay cho tất cả tài nguyên củalãnh hải hay vùng đặc quyền về kinh tế của mình, thì quốc gia đó, với điều kiệntuân thủ Mục 7 và nếu có các chứng cứ chứng minh được điều trên, có thể tiếnhành khởi tố, nhất là ra lệnh giữ con tàu lại theo đúng luật trong nước củamình.

Mặc dù đã có khoản 6, trong mọi trường hợp mà các thủ tụcthích hợp đã được đặt ra qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền, hoặcdo thỏa thuận bằng mọi cách khác để tôn trọng các nghĩa vụ liên quan đến việc nộptiền bảo lãnh hay việc ký gửi một khoản bảo đảm tài chính thích hợp khác, nếu nhưquốc gia ven biển có bị các thủ tục đó ràng buộc, thì quốc gia đó cho phépchiếc tàu tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 cũng được áp dụng vào các luật vàquy định quốc gia được thông qua theo điều 211, khoản 6.

ĐIỀU 221. Các biện pháp nhằm ngănchặn ô nhiễm tiếp theo sau một tai nạn xảy ra trên biển

Không một qui định nào của phần này đụng đến các quyền củacác quốc gia, theo pháp luật quốc tế, kể cả tập quán lẫn theo công ước, định ravà tiến hành áp dụng ở ngoài lãnh hải các biện pháp cân xứng với những thiệthại mà các quốc gia này đã thật sự phải chịu đựng hay bị đe dọa phải chịu nhằmbảo vệ vùng duyên hải hay các lợi ích có liên quan của mình, kể cả việc đánh bắthải sản, chống nạn ô nhiễm hay đe dọa ô nhiễm do một tai nạn xảy ra trên biểnhoặc do những hành vi gắn liền với một tai nạn như vậy gây ra mà người ta cócăn cứ để chờ đợi những hậu quả tai hại.

Trong điều này, thì “tai nạn trên biển” có nghĩa là một vụđâm va, mắc cạn hay sự cố hàng hải khác hoặc sự kiện xảy ra ở trên hay ở mộtcon tàu gây ra những thiệt hại về vật chất hay đe dọa sắp gây ra những thiệthại về vật chất cho một chiếc tàu hay hàng hóa của nó.

ĐIỀU 222. Việc áp dụng quy định liênquan đến ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển…

Trong giới hạn của vùng trời thuộc chủ quyền của mình hayđối với các tàu thuyền mang cờ của mình hoặc các tàu hay phương tiện bay đượcmình cho đăng ký, các quốc gia bảo đảm việc áp dụng các luật, quy định mà mìnhđã thông qua theo đúng điều 212, khoản 1, theo đúng các quy định khác của Côngước, thông qua các luật và qui định, thi hành các biện pháp khác để phát huy hiệulực của các quy tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua trunggian của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao nhằmngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường có nguồn gốc từ bầu khí quyểnhay xuyên qua bầu khí quyển, theo đúng tất cả các quy tắc và quy phạm quốc tếtương ứng liên quan đến an toàn hàng không.

Mục 7. CÁC BẢO ĐẢM

ĐIỀU 223. Các biện pháp nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho việc triển khai một vụ kiện

Khi có một vụ kiện do áp dụng phần này, các quốc gia thihành các biện pháp để tạo thuận lợi cho việc nghe nhân chứng và thu nhận cácchứng cứ do các nhà đương cục của một quốc gia khác hay do tổ chức quốc tế cóthẩm quyền cung cấp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia các phiên tòacủa các đại biểu chính thức của tổ chức này, của quốc gia mà tàu mang cờ haycủa bất kỳ quốc gia nào bị ảnh hưởng bởi nạn ô nhiễm nảy sinh từ mọi vi phạm. Cácđại biểu chính thức tham gia các phiên tòa này có quyền và nghĩa vụ do luậttrong nước hay pháp luật quốc tế trù định.

ĐIỀU 224. Việc thi hành các quyềncảnh sát

Chỉ có những nhân viên chính thức có đủ tư cách, cũng nhưcác tàu chiến hay phương tiện bay quân sự hay các tàu thuyền hoặc các phươngtiện bay khác có mang những dấu hiệu bên ngoài chứng tỏ rõ ràng rằng chúngthuộc một cơ quan nhà nước và được phép tiến hành công việc đó, có thể thi hànhcác việc cảnh sát đối với các tàu thuyền nước ngoài theo phần này.

ĐIỀU 225. Nghĩa vụ đối với các quốcgia tránh các hậu quả tai hại có thể xảy ra trong khi thi hành các quyền cảnhsát của họ

Khi thi hành quyền cảnh sát của mình đối với tàu thuyền nướcngoài theo Công ước, các quốc gia không được gây ra nguy hiểm cho an toàn hànghải, không được gây ra một rủi ro nào cho một con tàu hay dẫn con tàu đó về mộtcảng hoặc khu neo nguy hiểm, cũng không gây ra rủi ro quá đáng cho môi trườngbiển.

ĐIỀU 226. Các cuộc điều tra có thểđược tiến hành đối với tàu thuyền nước ngoài

a) Các quốc gia không được giữ một chiếc tàu nước ngoài lâuquá mức cần thiết để tiến hành các cuộc điều tra đã được trù định ở các Điều216, 218 và 220. Việc kiểm tra cụ thể một chiếc tàu nước ngoài phải được giới hạnở việc xem xét các chứng từ, sổ đăng ký hay các tài liệu khác mà chiếc tàu cónhiệm vụ phải mang theo, theo các quy tắc và quy phạm quốc tế được chấp nhậnchung, hay mọi tài liệu tương tự; chỉ có thể tiến hành kiểm tra cụ thể chiếctàu tỉ mỉ hơn tiếp theo sau cuộc xem xét này và với điều duy nhất là:

Có các lý do xác đáng để cho rằng tình trạng con tàu haytrang thiết bị của nó về cơ bản không phù hợp với những ghi chú ở trên các tàiliệu.

Nội dung của các tài liệu này không đủ để xác minh và thẩmtra vụ vi phạm đã được suy đoán.

Con tàu không mang theo các chứng từ và tài liệu có giá trị.

b) Khi qua cuộc điều tra mà thấy rằng đã có sự vi phạm cácluật và qui định có thể áp dụng hay các quy tắc và quy phạm quốc tế nhằm bảo vệvà gìn giữ môi trường biển, sau khi con tàu đã hoàn thành các thể thức hợp lý,như việc ký gửi một khoản tiền bảo lãnh hoặc một khoản bảo đảm tài chính khác,thì cần chấm dứt ngay việc cầm giữ.

c) Không làm phương hại đến các quy tắc và quy phạm quốc tếcó thể áp dụng về mặt khả năng đi biển của tàu thuyền, nếu việc chấm dứt cầmgiữ một con tàu sẽ có nguy cơ dẫn tới thiệt hại do khinh suất đối với môitrường biển, thì con tàu nói trên có thể không được phép tiếp tục cuộc hànhtrình, hoặc được phép nhưng với điều kiện là phải đi đến xưởng sửa chữa thíchhợp gần nhất. Trong trường hợp mà việc chấm dứt cầm giữ con tàu bị từ chối haybị đặt các điều kiện, thì quốc gia mà tàu mang cờ phải được thông báo ngay vềviệc này và có thể yêu cầu chấm dứt việc cầm giữ này theo đúng phần XV.

2. Các quốc gia hợp tác để soạn thảo các thủ tục nhằm tránhkhỏi việc kiểm tra cụ thể thừa đối với tàu thuyền trên biển.

ĐIỀU 227. Việc không phân biệt đốixử với tàu thuyền nước ngoài

Khi thi hành các quyền và làm tròn các nghĩa vụ của mìnhtheo phần này, các quốc gia không được bắt các tàu thuyền của một quốc gia nàokhác phải chịu một sự phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế.

ĐIỀU 228. Việc đình chỉ các cuộctruy tố và các hạn chế đối với việc truy tố

Khi một quốc gia tiến hành các cuộc truy tố nhằm trừng phạtmột vi phạm do một chiếc tàu nước ngoài gây ra ở bên ngoài lãnh hải của quốcgia trên đối với các luật và quy định có thể áp dụng hay các quy tắc và quiphạm quốc tế nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do tàu thuyền gây ra, thìcác cuộc truy tố này phải bị đình chỉ ngay sau khi quốc gia mà tàu mang cờ đãtự mình tiến hành các cuộc truy tố đối với nội dung chính của vụ vi phạm nóitrên, trong vòng 6 tháng tiếp theo việc khởi tố đầu tiên, trừ khi việc khởi tốnày nhằm vào một trường hợp đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia venbiển, hay quốc gia mà tàu mang cờ nói trên đã nhiều lần không làm tròn nghĩa vụcủa mình để bảo đảm áp dụng thực sự các quy tắc và các quy phạm quốc tế hiệnhành đối với các vụ vi phạm do tàu thuyền của mình gây ra. Quốc gia mà tàu mangcờ khi đã yêu cầu đình chỉ các cuộc truy tố theo đúng điều này trao lại trongthời gian thích hợp cho quốc gia đầu tiên một hồ sơ đầy đủ về sự việc và cácvăn bản gốc của vụ án. Khi các tòa án của quốc gia mà tàu mang cờ đã tuyên ánthì các cuộc truy tố phải chấm dứt sau khi đã thanh toán xong các chi phí vềthủ tục, thì bất kỳ khoản tiền bảo lãnh hay khoản bảo đảm tài chính nào khácđược ký gửi khi tiến hành các cuộc truy tố này đều phải được quốc gia ven biểntrả lại.

Không thể tiến hành các cuộc truy tố đối với tàu thuyền nướcngoài sau thời hạn 3 năm kể từ ngày vi phạm, và không quốc gia nào có thể tiếnhành rồi, với điều kiện phải tuân thủ khoản 1.

Điều này không đụng chạm đến quyền của quốc gia mà tàu mang cờsử dụng mọi biện pháp, kể cả quyền tiến hành các cuộc truy tố, theo đúng luậttrong nước của mình, không phụ thuộc vào các cuộc truy tố do một quốc gia kháctiến hành trước.

ĐIỀU 229. Việc kiện về trách nhiệmdân sự

Không một quy định nào của Công ước đụng chạm đến quyền khởitố về trách nhiệm dân sự trong trường hợp xảy ra những thiệt hại hay tổn thấtdo ô nhiễm môi trường biển.

ĐIỀU 230. Các hình thức sử phạt bằngtiền và việc tôn trọng quyền bào chữa

Đối với trường hợp vi phạm các luật và quy định quốc gia haycác quy tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chếngự ô nhiễm môi trường biển do các tàu thuyền nước ngoài gây ra ở ngoài lãnhhải thì chỉ có thể áp dụng hình thức phạt tiền.

Đối với tình trạng vi phạm các luật và quy định quốc gia haycác quy tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chếngự ô nhiễm môi trường biển, do một tàu nước ngoài gây ra ở trong lãnh hải, thìchỉ có thể áp dụng hình thức phạt tiền, trừ trường hợp đó là một hành động cố ývà gây ra ô nhiễm nghiêm trọng.

Trong tiến trình các cuôc truy tố đã được tiến hành nhằmtrừng phạt các vụ vi phạm thuộc lọai này do một tàu nước ngoài phạm phải màchiếc tàu có thể phải chịu đụng những hình thức xử phạt, các quyền được thừanhận của bị cáo vẫn được tôn trọng.

ĐIỀU 231. Việc tôn trọng thông báocho quốc gia mà tàu mang cờ và cho các quốc gia hữu quan khác

Các quốc gia thông báo không chậm trễ cho các quốc gia màtàu mang cờ và cho mọi quốc gia hữu quan khác tất cả các biện pháp được sử dụngvới tàu thuyền nước ngoài trong việc áp dụng Mục 6, và giao cho quốc gia mà tàumang cờ tất cả các báo cáo chính thức có liên quan đến biện pháp này. Tuynhiên, trong trường hợp các vụ vi phạm xảy ra trong lãnh hải, quốc gia ven biểnchỉ thực hiện các nghĩa vụ này đối với các biện pháp đuợc dùng trong khuôn khổcác cuộc truy tố. Các nhân viên ngọai giao hay các viên chức lãnh sự, và trongtrường hợp có thể được, nhà đương cục về biển của quốc gia mà tàu mang cờ đượcthông báo ngay về mọi biện pháp thuộc loại này.

ĐIỀU 232. Trách nhiệm của các quốcgia về biện pháp thi hành

Các quốc gia chịu trách nhiệm về những thiệt hại và tổn thấtcó thể qui cho họ do các biện pháp đã được sử dụng trong việc áp dụng Mục 6,khi các biện pháp này là bất hợp pháp hay vượt quá mức cần thiết hợp lý, có xétđến các thông tin sẵn có.

ĐIẾU 233. Các bảo đảm liên quan đếncác eo biển dung cho hàng hải quốc tế

Không một quy định nào của Mục 5, 7 và 6 đụng chạm đến chếđộ pháp lý của các eo dùng cho hàng hải quốc tế. Tuy nhiên, nếu một chiếc tàunước ngoài không phải là các tàu thuyền đã nêu ở Mục 10 vi phạm các luật và quyđịnh đã nêu ở Điều 42 khoản 1, điểm a, và b, gây ra hay đe dọa gây ra các thiệthại nghiêm trọng cho môi trường biển của các eo biển, thì quốc gia có eo biểncó thể thi hành các biện pháp cảnh sát thích hợp, trong khi vẫn tôn trọng mutatismutandis (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) mục này.

Mục 8. NHỮNG KHU VỰC BỊ BĂNG BAO PHỦ

ĐIỀU 234. Các khu vực bị băng baophủ

Các quốc gia ven biển có quyền thông quan và tiến hành ápdụng các luật và quy định không phân biệt đối xử nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chếngự ô nhiễm môi trường biển do tàu thuyền gây ra trong khu vực bị băng bao phủ vànằm trong ranh giới của vùng đặc quyền về kinh tế, khi các điều kiện khí hậuđặc biệt khắc nghiệt và việc các khu vực bao phủ phần lớn thời gian trong mộtnăm gây trở ngại cho hàng hải hoặc hoặc làm cho việc hàng hải trở nên đặc biệtnguy hiểm, và nạn ô nhiễm môi trường biển có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọngđến sự cân bằng sinh thái hay làm rối lọan sự cân bằng này một cách không thểhồi phục được. Các luật và quy định này phải lưu ý thích đáng đến hàng hải cũngnhư đến việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trên cơ sở của các dữ kiện khoahọc chắc chắn nhất mà người ta có thể có được.

Mục 9. TRÁCH NHIỆM

ĐIỀU 235. Trách nhiệm

Các quốc gia có trách nhiệm quan tâm đến việc hoàn thành cácnghĩa vụ quốc tế của mình về vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Các quốcgia có trách nhiệm theo đúng luật quốc tế.

Quốc gia quan tâm làm sao cho luật trong nước của mình cóđược những hình thức tố tụng cho phép thu được sự đền bù nhanh chóng và thíchđáng, hay sự bồi thường khác đối với những thiệt hại nảy sinh từ ô nhiễm môitrường do tự nhiên nhân, hay pháp nhân thuộc quyền tài phán của mình gây ra.

Để bảo đảm một sự đền bù nhanh chóng và thích đáng mọi thiệthại nảy sinh từ ô nhiễm môi trường biển, các quốc gia cần hợp tác để bảo đảm ápdụng và phát triển luật quốc tế về trách nhiệm có liên quan đến việc đánh giávà bồi thường các thiệt hại và việc giải quyết các tranh chấp về mặt này, cũngnhư, nếu có thể, đến việc soạn thảo các tranh chấp và thủ tục để thanh toán tiềnbồi thường thích đáng, chẳng hạn trù định một khoản bảo hiểm bắt buộc các quỹbồi thường.

Mục 10.VIỆC MIỄN TRỪ CÓ TÍNH CHẤTCHỦ QUYỀN

ĐIỀU 236. Việc miễn trừ có tính chấtchủ quyền

Các quy định của Công ước liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữmôi trường biển không áp dụng đối với các tàu chiến hay tàu thuyền bổ trợ, cũngnhư đối với các tàu thuyền khác hay đối với các phương tiện bay thuộc một quốcgia hay do quốc gia này, khai thác, khi trong thời gian xem xét, quốc gia nàychỉ sử dụng chúng vào những mục đích công vụ không có tính chất thương mại. Tuynhiên, mỗi quốc gia thi hành các biện pháp thích hợp không ảnh hưởng đến cáchoạt động hay khả năng hoạt động của tàu thuyền hay phương tiện bay thuộc mìnhhay do mình khai thác, sao cho các tàu thuyền hay phương tiện bay này hành độngmột cách thích hợp với Công ước trong chừng mực có thể làm được.

Mục 11. NGHĨA VỤ PHÁT SINH TỪ CÁCCÔNG ƯỚC KHÁC VỀ VIỆC BẢO VỆ VÀ GÌN GIỮ MÔI TRƯỜNG BIỂN

ĐIỀU 237. Các nghĩa vụ phát sinh từcác công ước khác về việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển

Phần này không ảnh hưởng đến các nghĩa vụ riêng thuộc bổnphận của các quốc gia theo các công ước hay điều ước đặc thù được ký kết trướcđây về mặt bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, cũng không ảnh hưởng đến các điềuước có thể được ký kết để áp dụng các nguyên tắc chung đã được nêu trong Côngước.

Các quốc gia phải làm tròn các nghĩa vụ riêng thuộc phận sựcủa mình có liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển theo Công ướcđặc biệt, một cách thích hợp với các nguyên tắc và mục tiêu chung của Công ước.

Phần XIII

VIỆC NGHIÊN CỨU KHOA HỌCBIỂN

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 238. Quyền tiến hành các cuộcnghiên cứu khoa học biển

Tất cả các quốc gia, bất kể vị trí địa lý thế nào, cũng nhưcác tổ chức quốc tế có thẩm quyền, đều có quyền tiến hành các cuộc nghiên cứukhoa học biển, với điều kiện tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của các quốc giakhác như đã đuợc quy định trong Công uớc.

ĐIỀU 239. Nghĩa vụ tạo điều kiệnthuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học biển

Các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền khuyến khíchvà tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai và chỉ đạo công tác nghiên cứukhoa học biển theo đúng Công uớc.

ĐIỀU 240. Các nguyên tắc chung chi phốiviệc chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học biển

Công tác nghiên cứu khoa học biển phải phục tùng các nguyêntắc sau đây: Công tác này đuợc tiến hành nhằm vào những mục đích hoàn toàn hòa bình;

Công tác này đuợc tiến hành bằng cách dùng các phương pháp vàphương tiện khoa học thích hợp phù hợp với Công uớc;

Công tác này không cản trở một cách vô lý những việc sử dụngbiển hợp pháp khác phù hợp với Công uớc và nó phải đuợc quan tâm đến trong cácviệc sử dụng này.

Công tác này đuợc tiến hành theo đúng mọi quy định tương ứngđuợc thông qua để thi hành Cống uớc, kể cả các quy định nhằm bảo vệ và giữ gìnmôi truờng biển.

ĐIỀU 241. Việc không thừa nhận côngtác nghiên cứu khoa học biển với tư cách là cơ sở pháp lý cho một yêu sách nàođó

Công tác nghiên cứu khoa học biển không tạo ra co sở pháp lýcho một yêu sách nào đối với một bộ phận nào đó của môi truờng biển hay của cáctài nguyên của nó.

Mục 2. SỰ HỢP TÁC QUỐC TẾ

ĐIỀU 242. Nghĩa vụ tạo điều kiệnthuận lợi cho sự hợp tác quốc tế

Chấp hành nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán,và trên cơ sở của nguyên tắc có đi có lại về lợi ích, các quốc gia và các tổchức quốc tế có thẩm quyền tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế vềmặt nghiên cứu khoa học biển vì mục đích hòa bình.

Trong bối cảnh này và không làm phương hại đến các quyền vànghĩa vụ các quốc gia theo Công uớc, một quốc gia khi hành động theo phần này,cần tùy theo tình hình mà dành cho các quốc gia khác các khả năng hợp lý đểnhận đuợc của mình hay với sự hợp tác của mình các thông tin cần thiết để ngănngừa và chế ngự các tác hại đối với sức khỏe và đối với sự an toàn của connguời và môi truờng biển.

ĐIỀU 243. Việc tạo ra các điều kiệnthuận lợi

Các quốc gia, tổ chức quốc tế có thẩm quyền hợp tác với nhauqua việc ký kết các hiệp định hai bên và nhiều bên để tạo ra các điều kiệnthuận lợi cho việc chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học biển trong môi truờngbiển và kết hợp những nỗ lực của các nhà nghiên cứu khoa học tiền hành nghiêncứu bản chất của các hiện tuợng, các quá trình xảy ra trong môi truờng biển vàcác tác động qua lại của chúng.

ĐIỀU 244. Việc công bố và phổ biếncác thông tin và kiến thức

Bằng các con đuờng thích hợp và theo đúng Công uớc, các quốcgia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền công bố, phổ biến các thông tin liên quanđến các chương trình chủ yếu đuợc dự tính và các mục tiêu của chúng, cũng nhưnhững kiến thức đuợc rút ra từ công tác nghiên cứu khoa học biển.

Vì mục đích này, các quốc gia, tự mình hay hợp tác với cácquốc gia khác và với các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tích cực tạo điều kiệnthuận lợi cho việc trao đổi các dữ kiện, thông tin khoa học và cho việc chuyển giaocác kiến thức rút ra từ công tác nghiên cứu khoa học biển, đặc biệt là cho cácquốc gia đang phát triển cũng như cho việc tăng cuờng khả năng của chính cácquốc gia này để tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển, nhất là bằngcác chuong trình giúp cho các nhân viên kỹ thuật và khoa học của họ đuợc huởngmột sự giáo dục và đào tạo thích hợp.

Mục 3. SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC NGHIÊNCỨU KHOA HỌC BIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG NHẰM TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO CÔNG VIỆC NÀY

ĐIỀU 245. Việc nghiên cứu khoa họcbiển ở trong lãnh hải

Trong việc thực hiện chủ quyền của mình, các quốc gia ven biểncó đặc quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa họcbiển ở trong lãnh hải chỉ đuợc tiến hành vợi sự thảo thuận rõ ràng của quốc giaven biển và trong các điều kiện do quốc gia này ấn định.

ĐIỀU 246. Việc nghiên cứu khoa học biểntrong vùng đặc quyền về kinh tế và trên thềm lục địa

Trong việc thi hành quyền tài phán của mình, các quốc gia venbiển có quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa họcbiển trong vùng đặc quyền về kinh tế và trên thềm lục địa của mình theo đúngcác quy định tương ứng của Công uớc.

Công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền vềkinh tế và trên thềm lục địa đuợc tiến hành với sự thỏa thuận của quốc gia venbiển.

Trong những truờng hợp bình thuờng, các quốc gia ven biểnthỏa thuận cho thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học biển mà các quốc giakhác hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền dự định tiến hành trong vùng đặcquyền về kinh tế hay trên thềm lục địa của mình theo đúng Công uớc, nhằm vàonhững mục đích hoàn toàn hòa bình và để tăng thêm kiến thức khoa học về môitruờng biển, vì lợi ích của toàn thể loài nguời. Vì mục đích này, các quốc giaven biển thông qua các quy tắc và thủ tục bảo đảm sẽ cho phép trong những thờihạn hợp lý và sẽ không khuớc từ một cách phi lý.

Trong việc áp dụng khoản 3, các truờng hợp có thể đuợc coilà bình thuờng ngay cả khi giữa quốc gia ven biển và quốc gia đề nghị thực hiệncông trình nghiên cứu không có quan hệ ngoại giao.

Tuy nhiên, quốc gia ven biển có thể tùy ý mình không chophép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển do một quốc gia khác hay mộttổ chức quốc tế có thẩm quyền đề nghị tiến hành ở vùng đặc quyền về kinh tế haytrên thềm lục địa của mình trong các truờng hợp sau:

a. Nếu dự án có ảnh huởng trực tiếp đến việc thăm dò và Khaithác các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật;

b. Nếu dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa,sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào trong môi truờng biển;

c. Nếu dự án dự kiến việc xây dựng, khai thác hay sử dụngcác đảo nhân tạo, thiết bị và công trình đã nêu ở các Điều 60 và 80;

d. Nếu những thông tin đuợc thông báo về tình chất và mụctiêu của dự án theo Điều 248 không đúng, hoặc nếu quốc gia hay tổ chức quốc tếcó thẩm quyền, tác giả của dự án không làm tròn những nghĩa vụ đã cam kết vớiquốc gia ven biển hữu quan trong một dự án nghiên cứu truớc đây.

Mặc dầu khoản 5 đa quy định như thế, các quốc gia ven biểncũng không thể thi hành quyền tùy ý khuớc từ theo điểm a của khoản này, đối vớicác dự án nghiên cứu khoa học biển đuợc tiến hành theo đúng phần này trên thềmlục địa ở cách đuờng cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải quá 200 hải lý,ngoài các khu vực đặc biệt mà bất kỳ lúc nào các quốc gia ven biển cung có thểchính thức chỉ định làm nơi hoặc sẽ làm nơi để tiến hành công việc khai tháchay thăm dò đi vào chi tiết trong một thời hạn hợp lý. Các quốc gia ven biểnthông báo trong những thời hạn hợp lý các khu vực mà mình chỉ định cũng như tấtcả những thay đổi có liên quan, nhung không có trách nhiệm cung cấp các chitiết về các công việc trên các khu vực này.

Khoản 6 đuợc áp dụng không phương hại đến các quyền ở thềm lụcđịa đuợc thừa nhận cho các quốc gia ven biển ở Điều 77.

Các công tác nghiên cứu khoa học biển nói ở điều này khôngđuợc gây trở ngại một cách phi lý cho các hoạt động do quốc gia ven biển tiếnhành trong việc thi hành quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán mà Công uớc đãtrù định.

ĐIỀU 247. Các dự dán nghiên cứu docác tổ chức quốc tế thực hiện hay duới sự bảo trợ của các tổ chức này

Một quốc gia ven biển là hội viên của một tổ chức quốc tế, haybị ràng buộc với tổ chức quốc tế đó qua một hiệp định tay đôi và ở vùng đặcquyền về kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó, tổ chức quốc tế nói trênmuốn trực tiếp tiến hành, hay cho tiến hành duới sự bảo trợ của mình một dự ánnghiên cứu khoa học biển, thì nếu như quốc gia đó đã chuẩn y dự án chi tiết khitổ chức quốc tế quyết định tiến hành dự án, hay là quốc gia đó đã sẵn sàng thamgia dự án nghiên cứu khoa học biển và không có ý kiến phản đối nào sau thờigian 4 tháng, kể từ khi tổ chức đó thông báo cho quốc gia về dự án nói trên,thì quốc gia đó coi như đa cho phép thực hiện dự án đúng theo các quy định vềtiêu chuẩn kỹ thuật đã thỏa thuận.

ĐIỀU 248. Nghĩa vụ cung cấp cácthông tin cho quốc gia ven biển

Các quốc gia và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền muốn tiền hànhcác công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền về kinh tế hay trênthềm lục địa của một quốc gia ven biển, phải cung cấp cho quốc gia này, chậmnhất là không quá 6 tháng truớc thời gian dự kiến để bắt đầu dự án nghiên cứukhoa học biển, một bản mô tả đầy đủ, chỉ rõ:

Tính chất và các mục tiêu của dự án

Phương pháp và các phương tiện sẽ đuợc sử dụng; có nói rõ tên,trọng luợng, kiểu và loại tàu thuyền, và một bản mô tả các dụng cụ khoa học;

Các khu vực địa lý cụ thể mà dự án sẽ thực hiện;

Các thời hạn dự định cho chuyện đến đầu tiên và chuyện ra đicuối cùng của các tàu thuyền nghiên cứu, hay thời hạn dự định cho việc triểnkhai và rút thiết bị, và thời hạn dự định cho việc thu hồi dụng cụ nghiên cứu, tùytheo truờng hợp;

Tên cơ quan bảo trợ cho dự án nghiên cứu, tên của giám đốccơ quan này và của nguời chịu trách nhiệm dự án;

Mức độ mà quốc gia ven biển có thể tham gia vào dự án hayđuợc cử đại diện

ĐIỀU 249. Nghĩa vụ tuân thủ một sốđiều kiện

1. Các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền thực hiện côngtác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền về kinh tế hay trên thềm lụcđịa của một quốc gia ven biển, cần phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a. Bảo đảm cho quốc gia ven biển, nếu quốc gia này muốn,quyền tham gia vào dự án nghiên cứu khoa học biển hay đặc biệt là khi có thểđuợc, cử đại diện lên trên các tàu thuyền và các xuồng nghiên cứu khác hay lêntrên các thiết bị nghiên cứu khoa học, nhung không phải thanh toán một khoảntiền thù lao nào cho những nhà nghiên cứu của quốc gia này, và quốc gia nàycũng không bị buộc phải đóng góp vào các kinh phí của dự án;

b. Một khi công việc nghiên cứu đã kết thúc, phải cung cấpcàng sớm càng tốt, theo yêu cầu của quốc gia ven biển, những báo cáo sơ bộ,cũng như các kết quả và kết luận cuối cùng;

c. Cam kết cho quốc gia ven biển, theo yêu cầu của họ, tiếpxúc với tất cả các mẫu vật và dữ kiện thu đuợc trong khuôn khổ của dự án nghiêncứu khoa học biển, cũng như cam kết cung cấp cho quốc gia này những dữ kiện cóthể sao lại và các mẫu vật có thể đuợc phân chia mà không làm giảm giá trị khoahọc của chúng;

d. Cung cấp cho quốc gia ven biển, theo yêu cầu của họ, mộtbản đánh giá về các dữ kiện, các mẫu vật và các kết quả nghiên cứu đó, hay giúpđỡ cho quốc gia này tiến hành đánh giá hoặc giải thích chung;

e. Với điều kiện phải thực hiện quy định ở khoản 2, bảo đảmcho các kết quả của công tác nghiên cứu đuợc sẵn sàng đưa ra sử dụng càng sớmcàng tốt trên truờng quốc tế qua các con đuờng quốc gia hay quốc tế thích hợp.

f. Thông báo ngay cho quốc gia ven biển bất kỳ sửa đổi quantrọng nào đối với dự án nghiên cứu;

g. Một khi công tác nghiên cứu đã kết thúc, phải tháo gỡ cácthiết bị hay công cụ nghiên cứu khoa học, trừ khi có sự thỏa thuận khác.

2. Điều này đuợc áp dụng không làm phương hại đến các điềukiện do các luật và quy định của quốc gia ven biển ấn định về việc thi hànhquyền tùy ý quyết định đồng ý hay không đồng ý theo Điều 246, khoản 5, kể cảviệc bắt buộc phải đuợc sự đồng ý truớc của nuớc đó mới đuợc phổ biến trên phạmvi quốc tế các kết quả nghiên cứu thuộc một dự án có liên quan trực tiếp đếnviệc thăm dò và khai thác các tài nguyên thiên nhiên.

ĐIỀU 250. Các thông tin liên lạcliên quan đến các dự án nghiên cứu khoa học biển

Các thông tin liên lạc liên quan đến các dự án nghiên cứukhoa học biển phải đuợc tiến hành qua các con đuờng chính thức thích hợp, trừkhi có sự thỏa thuận khác.

ĐIỀU 251. Các tiêu chuẩn chung vàcác nguyên tắc chỉ đạo

Các quốc qia hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền có thểthực hiện một dự án nghiên cứu khoa học sau một thời hạn 6 tháng kể từ ngày cácthông tin cần thiết theo Điều 248 đã đuợc thông báo cho quốc gia ven biển, trừ khitrong một thời hạn 4 tháng kể từ lúc nhận đuợc các thông tin này, quốc gia venbiển đã báo cho quốc gia hay tổ chức đề nghị thực hiện các công tác nghiên cứubiết:

Quốc gia ven biển đã khuớc từ theo Điều 246; hay

Các thông tin do quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyềnnày cung cấp về tính chất hay mục tiêu của dự án không phù hợp với sự thực hiểnnhiên; hay

Quốc gia ven biển cần có một thông báo bổ sung về nhữngthông tin hoặc những điều kiện đã nêu ở các Điều 248 và 249; hay

Các nghĩa vụ nẩy sinh từ các điều kiện đã đuợc quy định ởĐiều 249 cho một dự án nghiên cứu khoa học biển do quốc gia hay tổ chức quốc tếnày thực hiện truớc đây đã không đuợc làm tròn.

ĐIỀU 253. Việc đinh chỉ hoặc chấmdứt công việc nghiên cứu khoa học biển

1. Quốc gia ven biển có quyền yêu cầu đinh chỉ các công việcnghiên cứu khoa học biển đang tiến hành trong vùng đặc quyền về kinh tế hay trênthềm lục địa của mình:

Nếu công việc này không đuợc tiến hành theo đúng các thôngtin đã đuợc thông báo theo Điều 248 mà quốc gia ven biển đã dựa vào để đồng ýcho phép; hay

Nếu quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền khi tiến hànhcông việc này không tôn trọng các quy định của Điều 249 liên quan đến các quyềncủa quốc gia ven biển đối với dự án nghiên cứu khoa học biển.

2. Quốc gia ven biển có quyền yêu cầu chấm dứt mọi công việcnghiên cứu khoa học biển trong tất cả các truờng hợp mà việc không tuân thủĐiều 248 có nghĩa là làm thay đổi lớn dự án các công trình nghiên cứu.

3. Quốc gia ven biển cũng có thể yêu cầu chấm dứt các côngviệc nghiên cứu khoa học biển, nếu như, trong một thời gian hợp lý, một điểmbất kỳ trong những tình hình nêu ở khoản 1 không đuợc sửa chữa.

4. Sau khi nhận đuợc thông báo về quyết định của quốc giaven biển đòi đinh chỉ hay chấm dứt công việc nghiên cứu khoa học biển, các quốcgia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền đã đuợc phép tiến hành các công việc nàyphải chấm dứt những công việc thuộc đối tuợng của thông báo.

5. Lệnh đinh chỉ đuợc đưa ra theo khoản 1 phải do quốc giaven biển thu hồi, và dự án khoa học nghiên cứu biển có thể đuợc tiếp tục ngaykhi quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền thực hiện các công tác nghiêncứu khoa học biển này đã tuân theo các điều kiện quy định ở các Điều 248 và 249.

ĐIỀU 254. Các quyền của các quốc gialáng giềng không có biển và các quốc gia láng giềng có hoàn cảnh địa lý bất lợi

1. Các quốc gia và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền khi đãtrao cho một quốc gia ven biển một dự án nghiên cứu khoa học biển nêu ở Điều 246,khoản 3, cần thông báo dự án này cho các quốc gia láng giềng không có biển vàcác quốc gia láng giềng có hoàn cảnh địa lý bất lợi, và báo cho quốc gia venbiển việc gửi các thông báo này.

2. Một khi quốc gia ven biển có liên quan đã chấp thuận dựán, theo đúng điều 246 và các quy định thích hợp khác của Công uớc, các quốcgia và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền khi thực hiện dự án cần cung cấp chocác quốc gia láng giềng không có biển và các quốc gia láng giềng có hoàn cảnh địalý bất lợi các thông tin đã đuợc quy định rõ ở các Điều 248 và 249, khoản 1,điểm f, theo yêu cầu của họ và tùy theo sự cần thiết.

3. Các quốc gia không có biển và các quốc gia bất lợi về mặtđịa lý đã nói ở trên, theo yêu cầu của mình, có khả năng đuợc tham gia trongchừng mực có thể vào dự án nghiên cứu khoa học hiển đã đuợc dự tính qua cácchuyên gia có trình độ do mình chỉ định và đuợc quốc gia ven biển chấp nhận,theo những điều kiện mà quốc gia ven biển và quốc qia hay các tổ chức quốc tế cóthẩm quyền tiến hành công tác nghiên cứu khoa học biển đã thảo luận để thựchiện dự án, phù hợp với Công uớc.

4. Các quốc gia và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền đã nêuở khoản 1 cung cấp cho các quốc gia không có biển và các quốc gia bất lợi vềmặt địa lý nói trên, theo yêu cầu của họ, những thông tin và sự giúp đỡ đã đuợcquy định rõ ở Điều 249, khoản 1, điểm d, với điều kiẹn phải tuân thủ khoản 2của chính điều này.

ĐIỀU 255. Những biện pháp nhằm tạo điềukiện dễ dàng cho việc nghiên cứu khoa học biển và giúp đỡ cho các tàu thuyềnnghiên cứu

Các quốc gia cố gắng thông qua các quy tắc, quy định và thủtục hợp lý nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoahọc biển đuợc tiến hành theo đúng Công uớc ở ngoài lãnh hải, và nếu cần, thìtạo điều kiện cho các tàu thuyền nghiên cứu khoa học biển chấp hành các quyđịnh thích hợp của phần này vào ra cảng của các quốc gia nói trên đuợc dễ dàng,với điều kiện là phải tuân thủ theo các luật và quy định của các quốc gia này,và phải khuyến khích sự giúp đỡ cho các tàu thuyền này.

ĐIỀU 256. Việc nghiên cứu khoa họcbiển trong Vùng

Tất cả các quốc gia, bất kể hoàn cảnh địa lý của mình nhưthế nào, cũng như các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, đều có quyền thực hiệnviệc nghiên cứu khoa học biển trong Vùng, theo đúng phần XI.

ĐIỀU 257. Việc nghiên cứu khoa họcbiển trong phần nuớc nằm ngoài ranh giới của vùng đặc quyền về kinh tế

Tất cả các quốc gia, bất kể hoàn cảnh địa lý của mình nhưthế nào, cũng nhu các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, đều có quyền thực hiệnviệc nghiên cứu khoa học biển theo đúng Công uớc trong phần nuớc nằm ngoài ranhgiới của vùng đặc quyền về kinh tế.

Mục 4. CÁC THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤNGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG MÔI TRUỜNG BIỂN

ĐIỀU 258. Việc đặt và sử dụng

Việc đặt và sử dụng các thiết bị hay dụng cụ nghiên cứu khoahọc thuộc bất kỳ kiểu nào ở một vùng nào đó của môi truờng biển phải phụ thuộcvào cùng các điều kiện như đã đuợc Công uớc trù định cho việc tiến hành nghiêncứu khoa học biển ở trong khu vực kể trên.

ĐIỀU 259. Chế độ pháp lý

Các thiết bị hay dụng cụ đuợc nêu trong mục này, không cóquy chế của các đảo. Chúng không có lãnh hải riêng, và sự có mặt của chúngkhông có ảnh huởng đến vấn đề hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng độc quyền vềkinh tế hay thềm lục địa.

ĐIỀU 260. Khu vực an toàn

Các khu vực an toàn có một chiều rộng hợp lý không quá 500mcó thể đuợc lập ra xung quanh các thiết bị nghiên cứu khoa học, theo đúng cácquy định tuong ứng của Công uớc. Tất cả các quốc gia phải chú ý bảo đảm cho tàuthuyền của mình tôn trọng các khu vực an toàn này.

ĐIỀU 261. Nghĩa vụ không đuợc gâytrở ngại cho hàng hải quốc tế

Việc đặt và sử dụng các thiết bị hay dụng cụ nghiên cứu khoahọc thuộc bất kỳ kiểu nào không đuợc gây cản trở cho việc hàng hải theo các conđuờng quốc tế thuờng dùng.

ĐIỀU 262. Dấu hiệu nhận dạng vàphương tiện báo hiệu

Các thiết bị hay dụng cụ đã nêu trong mục này phải có cácdấu hiệu nhận dạng chỉ rõ quốc gia đăng ký hay tổ chức quốc tế mà chúng phụthuộc vào, cũng như, phải có các phuong tiện báo hiệu thích hợp đã đuợc chấpthuận trên truờng quốc tế nhằm bảo đảm an toàn hàng hải và hàng không, có tính đếncác quy tắc và quy phạm do các tổ chức quốc tế có thẩm quyền đặt ra.

Mục 5. TRÁCH NHIỆM

ĐIỀU 263. Trách nhiệm

Bổn phận của các quốc gia và các tổ chức quốc tế có thẩmquyền là phải quan tâm, sao cho việc nghiên cứu khoa học biển, bất kể chúng dohoặc nguời thay mặt cho họ thực hiện, đều đuợc tiến hành theo đúng Công uớc.

Các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền chịu tráchnhiệm về những biện pháp mà mình thi hành, vi phạm Công uớc, liên quan đến cáccông việc nghiên cứu khoa học biển do các quốc gia khác, các tự nhiên nhân hay phápnhân có quốc tịch của các quốc gia khác đó hoặc do các tổ chức quốc tế có thẩmquyền tiến hành, và phải đền bù các tồn thất do các biện pháp đó gây ra.

Các quốc gia và tổ chức có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm,theo Điều 235, về các tổn thất gây ra bởi nạn ô nhiễm môi truờng biển xuất pháttừ việc nghiên cứu khoa học biển do mình thực hiện hay do nguời thay mặt cho mìnhthực hiện.

Mục 6. GIẢi QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VÀCÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

ĐIỀU 264. Việc giải quyết các tranhchấp

Các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng cácquy định của Công uớc về việc nghiên cứu khoa học biển đuợc giải quyết theođúng các Mục 2 và 3 của Phần XV

ĐIỀU 265. Các biện pháp bảo đảm

Chừng nào một tranh chấp chưa đuợc giải quyết theo đúng cácMục 2 và 3 của Phần XV, thì quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền đuợcphép thực hiện dự án nghiên cứu khoa học biển, không cho phép thực hiện hay tiếptục việc nghiên cứu khoa học nếu không có sự đồng ý rõ ràng của các quốc giaven biển hữu quan.

PHẦN XIV

PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂNGIAO KỸ THUẬT BIỂN

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 266. Việc xúc tiến phát triểnvà chuyển giao các kỹ thuật biển

1. Các quốc gia hợp tác trực tiếp, hoặc thông qua các tổchức quốc tế có thẩm quyền, trong phạm vi khả năng của mình, nhằm tích cực tạođiều kiện thuận lợi cho sự phát triển và chuyển giao khoa học và kỹ thuật biểntheo các thể thức và điều kiện công bằng và hợp lý.

2. Các quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triểnkhả năng trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật biển của các quốc gia có nhu cầuvà yêu cầu được hưởng một sự giúp đỡ về kỹ thuật trong lĩnh vực này, nhất làcác quốc gia đang phát triển, kể cả quốc gia không có biển hay bất lợi về mặtđịa lý, trong việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên củabiển, trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, trong việc nghiên cứu khoahọc biển và các hoạt động khác nhằm tiến hành trong môi trường biển phù hợp vớiCông ước, nhằm thúc đẩy tiển bộ xã hội và kinh tế của các quốc gia đang pháttriển.

3. Các quốc gia cố gắng giúp tạo ra các điều kiện kinh tế vàpháp lý thuận lợi cho việc chuyển giao kỹ thuật biển, trên cơ sở công bằng, cólợi cho tất cả các bên hữu quan.

ĐIỀU 267. Việc bảo vệ các lợi íchchính đáng

Để tạo điều kiện cho sự hợp tác theo Điều 266, các quốc giacần phải tính đến tất cả các lợi ích chính đáng, cũng như các quyền và nghĩa vụcủa người nắm giữ, những người cung cấp và những người được nhận các kỹ thuậtbiển.

ĐIỀU 268. Các mục tiêu cơ bản

Các quốc gia trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức quốc tế cóthẩm quyền, cần phải xúc tiến:

Việc nắm, đánh giá và phổ biến các kiến thức trong lĩnh vực kỹthuật biển; các quốc gia này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc với cácthông tin và các dữ liệu tương ứng;

Việc phát triển các kỹ thuật biển thích hợp;

Việc phát triển hạ tầng cơ sở về kỹ thuật cần thiết để làmdễ dàng cho việc chuyển giao các kỹ thuật biển;

Việc khai thác nguồn nhân lực qua việc đào tạo và giảng dạy chocác công dân của các quốc gia và các nước đang phát triển, đặc biệt là nhữngnước kém phát triển nhất trong các quốc gia đang phát triển đó;

Việc hợp tác quốc tế ở mọi mức độ, nhất là việc hợp tác theokhu vực, phân khu vực và tay đôi.

ĐIỀU 269. Các biện pháp được thihành để đạt tới các mục tiêu cơ bản

Để đạt đến các mục tiêu cơ bản đã nêu ở Điều 268, ngoài cácbiện pháp khác, các quốc gia tìm cách, trực tiếp hoặc thông qua các tổ chứcquốc tế có thẩm quyền, để:

Lập ra các chương trình hợp tác kỹ thuật nhằm chuyển giaothực sự các kỹ thuật biển thuộc đủ mọi loại cho các quốc gia có nhu cầu và yêucầu hưởng một sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật biển trong lĩnh vực này, nhất là chocác quốc gia đang phát triển không có biển hay bất lợi về địa lý, cũng như chocác quốc gia đang phát triển khác không có khả năng hoặc để tạo ra hoặc để pháttriển khả năng kỹ thuận riêng của mình trong lĩnh vực khoa học biển và tronglĩnh vực thăm dò và khai thác các tài nguyên của biển, cũng không có khả năng pháttriển hạ tầng cơ sở cần thiết cho các kỹ thuật này;

Giúp tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc ký kết các hiệpđịnh, các hợp đồng hay các thỏa thuận tương tự khác, trong những điều kiện côngbằng, hợp lý;

Tổ chức các hội nghị, hội thảo và các cuộc thảo luận về cácvấn đề khoa học và kỹ thuật, nhất là về các chính sách và phương pháp cần đề rađể thực hiện chuyển giao các kỹ thuật biển;

Tạo điều khiện thuận lợi cho việc trao đổi các nhà khoa học,kỹ thuật và các chuyên gia khác;

Thực hiện các dự án và xúc tiến các xí nghiệp liên doanh vàcác hình thức hợp tác hai bên và nhiều bên khác.

Mục 2. VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ

ĐIỀU 270. Khuôn khổ và hợp tác quốctế

Việc hợp tác quốc tế để phát triển và chuyển giao kỹ thuậtbiển được thực hiện, khi có thể được và thích hợp, trong khuôn khổ của cácchương trình hai bên, khu vực, và nhiều bên hiện có, cũng như trong khuôn khổcủa các chương trình được mở rộng và của các chương trình mới, nhằm làm dễ dàngcho việc nghiên cứu khoa học biển và chuyển giao kỹ thuật biển, đặc biệt, trongcác lĩnh vực mới, và việc cấp kinh phí quốc tế thích hợp cho việc nghiên cứuđại dương và khai thác các đại dương.

ĐIỀU 271. Các nguyên tắc chỉ đạo,các tiêu chuẩn và quy phạm

Các quốc gia, trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức quốc tếcó thẩm quyền, tìm cách xúc tiến việc soạn thảo các nguyên tắc chỉ đạo, cáctiêu chuẩn và qui phạm được chấp nhận chung về việc chuyển giao kỹ thuật biềntrong khuôn khổ của các thỏa hiệp hai bên hay trong khuôn khổ của các tổ chứcquốc tế và cơ quan khác, đặc biệt, có tính đến các lợi ích và nhu cầu của quốcgia đang phát triển.

ĐIỀU 272. Việc phối hợp các chươngtrình quốc tế

Trong lĩnh vực chuyển giao kỹ thuật biển, các quốc gia cốgắng bảo đảm cho các tổ chức quốc tế có thâtm quyền phối hợp với các hoạt độngcủa họ, kể cả mọi chương trình khu vực và thế giới, có tính đến các lợi ích vànhu cầu của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia không cóbiển hay bất lợi về mặt địa lý.

ĐIỀU 273. Việc hợp tác với các tổchức quốc tế và Cơ quan quyền lực

Các quốc gia tích cực hợp tác với các tổ chức quốc tế cóthẩm quyền và với Cơ quan quyền lực nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuậnlợi cho việc chuyển giao cho các quốc gia đang phát triển, cho công dân của họvà cho xí nghiệp những kiến thức thực tiễn và kỹ thuật biển có liên quan đếncác hoạt động trong Vùng.

ĐIỀU 274. Các mục tiêu của Cơ quanquyền lực

Về các hoạt động tiến hành trong Vùng, Cơ quan quyền lựcquan tâm tới mọi lợi ích chính đáng cũng như các quyền và nghĩa vụ của nhữngngười nắm giữ, những người cung cấp và những người được nhận kỹ thuật, đảm bảocho:

Theo đúng nguyên tắc phân chia công bằng về mặt địa lý, cáccông dân của các quốc gia đang phát triền, dù là quốc gia ven biển, không có biểnhay có hoàn cảnh địa lý bất lợi, được đưa vào làm nhân viên tập sự trong số cácnhân viên kỹ thuật, quản lý và nghiên cứu được tuyển cho các nhu cầu hoạt độngcủa Cơ quan quyền lực;

Tài liệu kỹ thuật về dụng cụ, máy móc thiết bị và phươngpháp đã dùng phải để cho tất cả các quốc gia sử dụng, nhất là cho các quốc giađang phát triển đang có nhu cầu và yêu cầu được hưởng sự giúp đỡ kỹ thuật tronglĩnh vực này;

Các quy định thích hợp phải được xác định ngay trong Cơ quanquyền lực để tạo điều kiện dễ dàng cho các quốc gia có nhu cầu và yêu cầu đượchưởng một sự giúp đỡ kỹ thuật trong lĩnh vực kỹ thuật biển, nhất là các quốcgia đang phát triển, và công dân của các nước này, nắm được các kiến thức và cótrình độ thành thạo cần thiết, kể cả việc được hưởng một sự đào luyện về nghềnghiệp.

Các quốc gia có nhu cầu và yêu cầu được hưởng một sự giúp đỡkỹ thuật trong lĩnh vực này, nhất là các quốc gia đang phát triển, nhận được mộtsự giúp đỡ để có được trang thiết bị, các phương pháp, dụng cụ và bí quyết kỹ thuậtcần thiết, trong khuôn khổ của các thỏa thuận tài chính trù định trong Côngước.

Mục 3. CÁC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOAHỌC VÀ KỸ THUẬT BIỂN CỦA QUỐC GIA VÀ KHU VỰC

ĐIỀU 275. Việc thành lập các trungtâm quốc gia

1. Các quốc gia, trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức quốc tếcó thẩm quyền và Cơ quan quyền lực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập,nhất là trong các quốc gia ven biển đang phát triển, các trung tâm quốc gianghiên cứu khoa học và kỹ thuật biển, và tăng cường các trung tâm hiện có, đểđộng viên và xúc tiến việc nghiên cứu khoa học biển trong các quốc gia này vàđể phát triển khả năng riêng của từng nước nhằm sử dụng và gìn giữ các tàinguyên biển của họ cho mục đích kinh tế.

2. Các quốc gia, thông qua các tổ chức quốc tế có thẩm quyềnvà Cơ quan quyền lực, góp phần giúp đỡ thích đáng để tạo điều kiện dễ dàng choviệc thành lập và tăng cường các trung tâm quốc gia nhằm làm cho các quốc gia cónhu cầu và yêu cầu được hưởng sự giúp đỡ như vậy có được những phương tiện đàotạo tiên tiến, những thiết bị, những kiến thức thực tiễn và sự thông thạo cầnthiết, cũng như các chuyên gia kỹ thuật.

ĐIỀU 276. Việc thành lập các trungtâm khu vực

1. Phối hợp với các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, Cơ quanquyền lực và các viện nghiên cứu quốc gia về khoa học và kỹ thuật biển, cácquốc gia tạo điều kiện dễ dàng cho việc thành lập, nhất là trong các quốc giađang phát triển, các trung tâm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật biển của khu vực,nhằm khuyến khích và thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học biển trong các quốc gianày và để làm dễ dàng cho việc chuyển giao kỹ thuật biển.

2. Tất cả các quốc gia của cùng một khu vực cần tập hợp tácvới các trung tâm của khu vực để bảo đảm tốt hơn việc thực hiện các mục tiêucủa họ.

ĐIỀU 277. Những chức năng của cáctrung tâm khu vực

Ngoài các chức năng khác, các trung tâm khu vực có tráchnhiệm bảo đảm: Các chương trình đào tạo và giảng dạy ở mọi trình độ trong cáclĩnh vực nghiên cứu khoa học và kỹ thuật biển khác nhau, đặc biệt là môn sinh vậtbiển, đề cập trước hết là việc bảo về và quản lý các tài nguyên sinh vật, mônhải dương học, thủy văn học, kỹ thuật công trình, thăm dò địa chất đáy biển,khai thác mỏ và kỹ thuật khử mặn nước biển; Việc nghiên cứu công tác quản lý;

Các chương trình nghiên cứu có quan hệ đến việc bảo vệ vàgìn giữ môi trường biển và việc ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm;

Việc tổ chức các hội nghị, hội thảo và các cuộc thảo luậnthuộc khu vực;

Thu thập và xử lý dữ kiện và thông tin trong lĩnh vực khoa họcvà kỹ thuật biển;

Phổ biến nhanh chóng các kết quả của việc nghiên cứu khoa họcvà kỹ thuật biển trong các tài liệu dễ phổ cập;

Phổ biến các thông tin về các chính sách quốc gia liên quan đếnviệc chuyển giao kỹ thuật biển, và việc nghiên cứu so sánh có hệ thống cácchính sách này;

Sưu tập và hệ thống hóa các thông tin liên quan đến việcthương mại hóa các kỹ thuật, cũng như đến các hợp đồng và các thỏa thuận khácvề các chứng chỉ;

Hợp tác kỹ thuật với các quốc gia khác của khu vực.

Mục 4. VIỆC HỢP TÁC GIỮA CÁC TỔ CHỨCQUỐC TẾ

ĐIỀU 278. Việc hợp tác giữa các tổchức quốc tế

Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền nói trong phần này và PhầnXIII thi hành mọi biện pháp cần thiết để trực tiếp hay bằng cách hợp tác chặtchẽ, làm tròn các chức năng và nhiệm vụ mà mình đảm đương theo phần này.

Phần XV

GIẢI QUYẾT CÁC TRANHCHẤP

Mục 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 279. Nghĩa vụ giải quyết tranhchấp bằng phương pháp hòa bình

Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ragiữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bìnhtheo đúng Điều 2, khoản 3 của Hiến chương liên hợp quốc và, vì mục đích này,cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở Điều 33, khoản 1của Hiến chương.

ĐIỀU 280. Giải quyết các tranh chấp bằngbất kỳ phương pháp hòa bình nào do các bên lựa chọn

Không một quy định nào của phần này ảnh hưởng đến quyền củacác quốc gia thành viên đi đến thỏa thuận giải quyết vào bất cứ lúc nào, bằngbất kỳ phương pháp hòa bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảyra giữa họ và vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước.

ĐIỀU 281. Thủ tục phải tuân theo khicác bên không đạt tới một cách giải quyết

1. Khi các quốc gia thành viên tham gia và một vụ tranh chấpliên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã thỏa thuận tìm cách giải quyếttranh chấp này bằng một phương pháp hòa bình theo sự lựa chọn của mình, thìcác thủ tục được trù định trong phần này chỉ được áp dụng nếu người ta khôngđạt được một cách giải quyết bằng phương pháp này và nếu sự thỏa thuận giữa cácbên không loại trừ khả năng tiến hành một thủ tục khác.

2. Nếu các bên cùng thỏa thuận về một thời hạn, thì khoảnmột chỉ được áp dụng kể từ khi kết thúc thời hạn này.

ĐIỀU 282. Các nghĩa vụ xuất phát từcác hiệp định chung, khu vực hay hai bên

Khi các quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấpliên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, trong khuôn khổ của mộthiệp định chung, khu vực hay hai bên hay bất kỳ cách nào, đã thỏa thuận rằngmột vụ tranh chấp như vậy, sẽ phải tuân theo một thủ tục dẫn đến một quyết địnhbắt buộc, thì thủ tục này được áp dụng thay cho các thủ tục đã được trù địnhtrong phần này, trừ khi các bên tranh chấp có thỏa thuận khác.

ĐIỀU 283. Nghĩa vụ tiến hành cáccuộc trao đổi về quan điểm

1. Khi có tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia thành viênliên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp tiếnhành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thươnglượng hay bằng các phương pháp hòa bình khác.

2. Cũng như vậy, các bên tiến hành ngay một cuộc trao đổiquan điểm mỗi khi kết thúc một thủ tục giải quyết đối với một vụ tranh chấp nhưvậy mà không giải quyết được, hay mỗi khi đã có một giải pháp và các hoàn cảnhđòi hỏi các cuộc tham khảo ý kiến liên quan đến việc thi hành giải pháp đó.

ĐIỀU 284. Việc hòa giải

1. Bất kỳ quốc gia nào thành viên nào tham gia vào một vụtranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đều có thể yêucầu quốc gia khác hay các bên khác đưa vụ tranh chấp ra hòa giải theo thủ tụcđã được trù định ở Mục 1 của Phụ lục V, hay theo một thủ tục hòa giải khác.

2. Khi yêu cầu đã được chấp nhận và nếu các bên đồng ý vềthủ tục hòa giải sẽ được áp dụng, thì bất kỳ bên nào cũng có thể đưa ra vụtranh chấp ra hòa giải theo thủ tục đó.

3. Khi yêu cầu không được chấp nhận hay nếu các bên khôngthỏa thuận được về thủ tục hòa giải, thì coi như đã chấm dứt việc hòa giải.

4. Khi một vụ tranh chấp đã được đưa ra hòa giải, thì chỉkết thúc việc hòa giải theo đúng thủ tục hòa giải đã thỏa thuận, trừ khi cácbên có sự thỏa thuận khác.

ĐIỀU 285. Việc áp dụng mục này chocác vụ tranh chấp đã được đưa ra theo phần XI

Mục này được áp dụng cho bất kỳ vụ tranh chấp nào mà theoMục 5 của Phần XI cần được giải quyết theo đúng các thủ tục đã trù định trongphần này. Nếu một thực thế không phải là một quốc gia thành viên tham gia vàomột vụ tranh chấp như thế, thì mục này được áp dụng mutalis mutandis (với nhữngsửa đổi cần thiết về chi tiết).

Mục 2. CÁC THỦ TỤC BẮT BUỘC DẪN TỚICÁC QUYẾT ĐỊNH BẮT BUỘC

ĐIỀU 286. Phạm vi áp dụng mục này

Với điều kiện tuân thủ Mục 3, mọi tranh chấp liên quan đếnviệc giải thích hay áp dụng Công ước khi không được giải quyết bằng cách ápdụng Mục 1, theo yêu cầu của một bên tranh chấp, đều được đưa ra trước tòa áncó thẩm quyền theo mục này.

ĐIỀU 287. Việc lựa chọn thủ tục

1. Khi ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công ước, hayở bất kỳ thời điểm nào sau đó, một quốc gia được quyền tự do lựa chọn, hìnhthức tuyên bố bằng văn bản, một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết cáctranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước:

Tòa án quốc tế về Luật biển được thành lập theo đúng Phụ lụcVII; Toà án quốc tế;

Một tòa trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII;

Một tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lụcVIII để giải quyết một hay nhiều loại tranh chấp đã được qui định rõ trong đó.

2. Một bản tuyên bố theo khoản 1 không ảnh hưởng đến nghĩavụ của một quốc gia thành viên phải chấp nhận, trong phạm vi và theo các thể thứcđược trù định ở Mục 5 của phần XI, thẩm quyền của Viện giải quyết các tranhchấp có liên quan đến đáy biển thuộc Toàn án quốc tế về luật biển và tuyên bốđó cũng không bị nghĩa vụ này tác động đến.

3. Một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp màkhông được một tuyên bố còn có hiệu lực bảo vệ, thì được xem là đã chấp nhậnthủ tục trọng tài đã trù định ở Phụ lục VII.

4. Nếu các bên tranh chấp đã chấp nhận cùng một thủ tục để giảiquyết tranh chấp, thì vụ tranh chấp đó chỉ có thể được đưa ra giải quyết theothủ tục đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

5. Nếu các bên tranh chấp không chấp nhận cùng một thủ tụcđể giải quyết tranh chấp, thì vụ tranh chấp đó chỉ có thể được đưa ra giảiquyết theo thủ tục trọng tài đã được trù định ở Phụ lục VII, trừ khi các bên cóthỏa thuận khác.

6. Một bản tuyên bố theo đúng khoản 1 vẫn còn hiệu lực trongvòng 3 tháng sau khi đã gửi một thông báo hủy bỏ cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

7. Một tuyên bố mới, một thông báo hủy nbỏ hay việc mộttuyên bố hết hạn không hề ảnh hưởng đến thủ tục đang tiến hành trước một toànán có thẩm quyền theo điều này, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

8. Các tuyên bố và thông báo đã nêu ở điều này được gửi đếnTổng thư ký Liên hợp quốc để lưu chuyển và Tổng thư ký Liên hợp quốc chuyển cácbản sao cho các quốc gia thành viên.

ĐIỀU 288. Thẩm quyền

1. Một tòa án đã nêu ở Điều 287 có thẩm quyền xét xử bất kỳtranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã được đưara cho mình theo đúng phần này.

2. Một tòa án nói ở Điều 287 cũng có thẩm quyền xét xử bấtkỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tếcó liên quan đến các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho mình theo đúngđiều ước này.

3. Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển được lậpnên theo đúng phụ lục VI và bất kỳ viện nào khác, hay tòa trọng tài nào khác,đã nêu ở Mục 5 của Phần XI, đều có thẩm quyền xét xử mọi vấn đề đã được đưa racho mình theo đúng mục đó.

4. Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề một tòa án cóthẩm quyền hay không, thì vấn đề này do tòa án đó quyết định.

ĐIỀU 289. Các chuyên viên

Đối với mọi tranh chấp đụng chạm đến những vấn đề khoa học haykỹ thuật, một tòa án khi thi hành thẩm quyền của mình theo mục này, theo yêucầu của một bên hay tự ý mình, và qua tham khảo ý kiến các bên, có thể lựa chọntrên một bản danh sách thích hợp được lập nên theo đúng Điều 2 của phụ lụcVIII, ít nhất là 2 chuyên viên khoa học hay kỹ thuật tham gia tòa án nhưngkhông có quyền biểu quyết.

ĐIỀU 290. Những biện pháp bảo đảm

1. Nếu một tòa án được đề nghị xét một vụ tranh chấp theođúng thủ tục và thấy prima facie (hiển nhiên) là mình có thẩm quyền theo phần nàyhay Mục 5 của phần XI, thì tòa án này có thế qui định tất cả các biện pháp bảođảm mà mình xét thấy thích hợp với tình hình để bảo vệ các quyền riêng của từngbên tranh chấp hay để ngăn không cho môi trường của biển bị những tổn thấtnghiêm trọng, trong khi chờ quyết định cuối cùng.

2. Các biện pháp bảo đảm có thể bị sửa đổi hay hủy bỏ ngaykhi các hoàn cảnh chứng minh cho các biện pháp đó thay đổi hay không còn tồntại.

3. Các biện pháp bảo đảm chỉ có thể được qui định, sửa đổihay hủy bỏ theo điều này, theo yêu cầu của một bên tranh chấp và sau khi đã tạocho các bên tranh chấp khả năng thỏa thuận được với nhau.

4. Toà án thông báo ngay mọi biện pháp bảo đảm hay mọi quyếtđịnh sửa bỏ hay hủy bỏ biện pháp đó cho các bên tranh chấp, và nếu xét thấythích hợp, thì thông báo cho các quốc gia thành viên khác.

5. Trong khi chờ lập ra một tòa trọng tài xét xử một vụtranh chấp theo mục này, mọi tòa án do các bên thỏa thuận với nhau chỉ định,hoặc, nếu không thỏa thuận được trong một thời hạn 2 tuần sau ngày có yêu cầucác biện pháp bảo đảm. Toà án quốc tế về luật biển, hay trong trường hợp củacác hoạt động tiến hành trong Vùng, Viện giải quyết các tranh chấp liên quanđến đáy biển, có thể quy định, sửa đổi hay hủy bỏ các biện pháp bảo đảm theođúng điều này, nếu như họ thấy prima facie (hiển nhiên) rằng tòa án cần đượclập ra sẽ có thẩm quyền, và nếu như họ xét thấy rằng tính chất khẩn trương củatình hình đòi hỏi phải làm như vậy. Một khi được thành lập, tòa án được giaoxét xử vụ tranh chấp, hành động theo đúng các khoản 1 đến 4, có thể sửa đổi,hủy bỏ hay xác nhận biện pháp bảo đảm này.

6. Các bên tranh chấp phải tuân theo không chậm trễ các biệnpháp bảo đảm được quy định theo điều này.

ĐIỀU 291. Việc sử dụng các thủ tụcgiải quyết tranh chấp

1. Tất cả các thủ tục giải quyết tranh chấp được trù địnhtrong phần này đều để ngỏ cho các quốc gia thành viên.

2. Các thủ tục để giải quyết tranh chấp được trù định trongphần này chỉ để ngo cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên trongphạm vi mà Công ước đã trù định một cách rõ ràng.

ĐIỀU 292. Giải phóng ngay cho tàuthuyền bị cầm giữ hay trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó

1. Khi các nhà chức trách của một quốc gia thành viên đã bắtgiữ một chiếc tàu mang cờ của một quốc gia thành viên khác và nếu thấy rằngquốc gia bắt giữ chiếc tàu đã không tuân theo các qui định của Công ước trùđịnh việc giải phóng ngay cho tàu thuyền hay trả tự do cho đoàn thủy thủ của nóngay khi ký gởi một khoản tiền bảo lãnh hợp lý hay một khoản bảo đảm tài chínhnào khác, thì vấn đề giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ phải đượcđưa ra trước một tóa án do các bên chỉ định theo một thỏa thuận chung; nếukhông thỏa thuận đuợc trong một thời hạn 10 ngày kể từ lúc bắt giữ chiếc tàuhay đoàn thủy thủ, vấn đề này có thể được đưa ra trước một tòa án được quốc giađã tiến hành bắt hay giữ tàu hay đoàn thủy thủ chấp nhận theo đúng Điều 287,hay trước Tòa án quốc tế về luật biển, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

2. Yêu cầu giải phóng hay trả tự do chỉ có thể do quốc giamà tàu mang cờ hoặc nhân danh quốc gia ấy đưa ra.

3. Tòa án nhanh chóng xem xét yêu cầu này và chỉ xét xử vấnđề giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ, việc này không có ảnh hưởnggì đến tiến trình tiếp sau của mọi vụ kiện mà chiếc tàu, người chủ chiếc tàuhay đoàn thủy thủ của nó có thể là đối tượng trước quyền tài phán quốc giathích hợp. Các nhà chức trách của quốc gia đã tiến hành bắt, giữ vẫn có đủ tưcách ra lệnh giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó vào bất kỳlúc nào.

4. Ngay khi đã ký gửi khoản tiền bảo lãnh hay một khoản bảođảm tài chính khác theo quyết định của tòa án, các nhà chức trách của quốc giađã bắt giữ tàu phải tuân theo quyết định của tòa án về việc giải phóng tàu vàtrả tự do cho đoàn thủy thủ của nó.

ĐIỀU 293. Luật có thể áp dụng

1. Tòa án có thẩm quyền theo mục này áp dụng các qui địnhcủa Công ước và các qui tắc khác của pháp luật quốc tế không mâu thuẫn với Côngước.

2. Khoản 1 không đụng chạm đến quyền hạn của tòa có thẩmquyền theo mục này để xét xử ex aequo bono (công bằng) nếu các bên thỏa thuận.

ĐIỀU 294. Các thủ tục sơ bộ

1. Tòa án được trù định ở Điều 287 nhận được đơn yêu cầu xétxử một vụ tranh chấp nói ở Điều 297 quyết định theo thỉnh cầu của một bên, haycó thể quyết định theo ý mình, xem yêu cầu này có phải là một sự lạm dụng cácphương pháp tố tụng hay prima facie (hiển hiên) là có căn cứ. Nếu tòa án xétthấy rằng, đó là một sự lạm dụng các phương pháp tố tụng hay prima facie (hiểnhiên) là không có căn cứ, thì tòa án thôi không xét đơn nữa.

2. Lúc nhận được đơn, tòa án thông báo ngay cho bên kia haycác bên kia, và qui định một thời hạn hợp lý, để các bên này có thể yêu cầu tòaquyết định về các điểm đã nêu ở khoản 1.

3. Điều này không hề đụng chạm đến các quyền của một bên tranhchấp nêu lên những phản bác sơ bộ theo đúng các qui tắc tố tụng có thể áp dụng.

ĐIỀU 295. Trường hợp các biện pháptố tụng nội bộ đã được sử dụng hết

Một vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đếnviệc giải thích hay áp dụng Công ước, chỉ có thể được đưa ra giải quyết theocác thủ tụ đã qui định ở mục này sau khi các biện pháp tố tụng nội bộ đã đượcsử dụng hết theo đòi hỏi của pháp luật quốc tế.

ĐIỀU 296. Tính chất tối hậu và bắtbuộc của các quyết định

1. Các quyết định do tòa án có thẩm quyền theo mục này đưara là có tính chất tối hậu, và tất cả các bên tranh chấp phải tuân theo.

2. Các quyết định đó chỉ có tính chất bắt buộc đối với các bênvà trong trường hợp riêng biệt được xem xét.

Mục 3. CÁC GIỚI HẠN VÀ NGOẠI LỆ ĐỐIVỚI VIỆC ÁP DỤNG

ĐIỀU 297. Các giới hạn áp dụng mục 2

1. Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay ápdụng Công ước về việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hay quyền tài phán củaquốc gia ven biển như đã được trù định trong Công ước, được xét theo các thủ tụcgiải quyết đã được trù định ở Mục 2 trong các trường hợp sau đây:

Khi thấy rằng quốc gia ven biển đã không tuân theo Công ướcliên quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không hoặc tự do và quyền đặt cácdây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như đến việc sử dụng biển vào các mục đích khácmà quốc tế thừa nhận là chính đã nêu ở Điều 58;

Khi thấy rằng trong việc thi hành các tự do và các quyền đóhoặc trong việc sử dụng các quyền này, một quốc gia đã không tuân theo Công ướchay các luật hoặc các qui định do quốc gia ven biển đề ra phù hợp với các quiđịnh của Công ước và các qui tắc khác của pháp luật quốc tế không trái với Côngước; hoặc

Khi thấy rằng quốc gia ven biển đã không tuân theo các quitắc hay quy phạm quốc tế đã được xác định nhằm bảo vệ và gìn giữ môi trườngbiển có thể áp dụng cho quốc gia này và đã được Công ước đặt ra, hay được đặtra thông qua một tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay một hội nghị ngoại giao hànhđộng phù hợp với Công ước.

2. a) Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay ápdụng các qui định của Công ước về nghiên cứu khoa học biển được giải quyết theođúng Mục 2, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận theo cách giải quyếtnhư thế đối với một vụ tranh chấp phát sinh từ:

Việc quốc gia này thi hành một quyền tùy ý quyết định theođúng Điều 246; hay

Quyết định của quốc gia này ra lệnh đình chỉ hoặc chấm dứttiến hành một dự án nghiên cứu theo đúng Điều 253;

b) Các vụ tranh chấp phát sinh từ một luận cứ của quốc gianghiên cứu cho rằng trong trường hợp của một dự án riêng biệt, quốc gia ven biểnkhông sử dụng các quyền mà các Điều 246 và 253 đã dành cho mình một cách phù hợpvới Công ước, thì theo yêu cầu của bên này hay bên khác được đưa ra hòa giảitheo thủ tục đã được trù định ở Mục 2 của Phụ lục V, dĩ nhiên là Ủy ban hòagiải không được xét việc thi hành quyền tùy ý quyết định của quốc gia ven biểntrong việc chỉ định các khu vực đặc biệt, như đã được trù định ở Điều 246, khoản6, cũng như việc thi hành quyền tùy ý không cho phép theo đúng khoản 5 của cùngđiều đó.

3. a) Các việc tranh chấp liên quan đến việc giải thích hayáp dụng các qui định của Công ước về việc đánh bắt hải sản được giải quyết theođúng Mục 2, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận cách giải quyết nhưvậy về một vụ tranh chấp liên quan đến các quyền thuộc chủ quyền của mình đốivới các tài nguyên sinh vật thuộc Vùng đặc quyền về kinh tế của mình, hay liênquan đến việc thi hành các quyền này, kể cả quyền tùy ý qui định khối lượngđánh bắt có thể chấp nhận được và khả năng đánh bắt của mình, phân phối số dưra giữa các quốc gia khác, quyết định các thể thức, điều kiện đặt ra trong cácluật và qui định của mình về bảo vệ và quản lý;

b) Nếu việc vận dụng Mục 1, không cho phép đi đến một cáchgiải quyết, thể theo yêu cầu của một bên nào đó trong số các bên tranh chấp, vụtranh chấp được đưa ra hòa giải theo thủ tục được trù định ở Mục 2 của Phụ lục V,khi chứng minh được rằng quốc gia ven biển đã:

Rõ ràng không thực hiện nghĩa vụ phải dùng các biện pháp bảovệ và quản lý thích hợp để bảo đảm rằng việc duy trì các tài nguyên sinh vậtthuộc vùng đặc quyền kinh tế không bị ảnh hưởng nghiêm trọng;

Độc đoán từ chối việc quy định, theo yêu cầu của một quốcgia khác khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được và khả năng khai thác tàinguyên sinh vật của mình đối với các đàn (stocks) hải sản mà việc khai thác cóliên quan đến quốc gia khác đó; hay

Độc đoán từ chối việc chia cho một quốc gia nào đó toàn bộhay một phần số cá dư mà mình đã xác nhận, như đã trù định ở các Điều 62, 69 và70 và theo các thể thức và điều kiện mà bản thân mình đã qui định và phù hợpvới Công ước;

Ủy ban hòa giải không có trường hợp nào được phép dùng quyềntúy ý quyết định của mình thay cho quyền tùy ý quyết định của các quốc gia venbiển.

Báo cáo của Ủy ban hòa giải phải được thông báo cho các tổchức quốc tế thích hợp.

Khi đàm phán về các thỏa thuận đã trù định ở các Điều 69 và70, các quốc gia thành viên, trừ khi có thỏa thuận khác, ghi vào đó một điềukhoản trù định các biện pháp mà mình phải thi hành để giảm đến mức tối thiểucác khả năng bất đồng về việc giải thích hay áp dụng thỏa thuận, cũng như thủtục phải tuân theo trong trường hợp vẫn có bất đồng.

ĐIỀU 298. Những ngoại lệ không bắtbuộc đối với việc áp dụng Mục 2

1. Khi ký kết, phê chuẩn hay tham gia Công ước, hoặc ở vàobất kỳ thời điểm nào sau đó, với điều kiện không phương hại đến các nghĩa vụphát sinh từ Mục 1, một quốc gia có thể tuyên bố bằng văn bản rằng mình khôngchấp nhận một hay nhiều thủ tục giải quyết các tranh chấp đã được trù định ởMục 2 có liên quan đến một hay nhiều loại tranh chấp sau đây:

a) i. Các vụ tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng cácĐiều 15, 74 và 83 liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển hay cácvụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử, nghĩa là khi một tranh chấpnhư thế xảy ra sau khi Công ước có hiệu lực và nếu các bên không đi đến mộtthỏa thuận nào bằng con đường thương lượng trong một thời hạn hợp lý, thì quốcgia đã tuyên bố, theo yêu cầu của một trong các bên, chấp nhận đưa vụ tranhchấp đó ra hòa giải theo thủ tục đã được trù định ở Mục 2 của phụ lục V, vàđương nhiên không thể đưa ra xét theo thủ tục này một vụ tranh chấp nào đòi hỏinhất thiết phải xem xét đồng thời một vụ tranh chấp chưa được giải quyết liênquan đến chủ quyền và các quyền khác trên một lãnh thổ đất liền hay đảo;

ii. Một khi Ủy ban hòa giải đã trình bày báo cáo của mình,báo cáo phải nói rõ được lý do, thì các bên thương lượng về một thỏa thuận trêncơ sở của báo cáo này; nếu các cuộc thương lượng không thành, thì các bên, quasự thỏa thuận với nhau, đưa vấn đề ra theo các thủ tục đã được quy định ở Mục2, trừ khi các bên có thỏa thuận khác;

iii. Điểm nhỏ này không áp dụng đối với các vụ tranh chấpliên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển đã được một thỏa thuậngiữa các bên giải quyết dứt khoát, cũng như đối với các vụ tranh chấp phải đượcgiải quyết theo đúng một bạn thỏa thuận hai bên hay nhiều bên có tính chất ràngbuộc các bên;

b) Các vụ tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự, kểcả hoạt động quân sự của tàu thuyền và phương tiện bay của Nhà nước được sử dụngcho một dịch vụ không có tính chất thương mại, và các vụ tranh chấp liên quanđến các hành động bắt buộc chấp hành, đã được thực hiện trong việc thi hành cácquyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán mà Điều 297, khoản 2 và 3, đã loạitrừ khỏi thẩm quyền của một Tòa án;

c) Các vụ tranh chấp mà Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, trongkhi thi hành các chức năng của mình do Hiến chương Liên hợp quốc giao phó có tráchnhiệm giải quyết, trừ khi Hội đồng bảo an quyết định xóa vấn đề trong chươngtrình nghị sự của mình hay yêu cầu các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp củahọ bằng các phương pháp đã qui định trong Công ước.

2. Một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1,thì bất kỳ lúc nào cũng có thể rút lui tuyên bố đó hay thỏa thuận đưa ra một vụtranh chấp mà tuyên bố này đã loại trừ, ra trước bất cứ thủ tục giải quyết nàođã được trù định trong Công ước.

3. Một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1,thì không thể đưa ra một vụ tranh chấp, nằm trong một loại tranh chấp đã bịloại trừ, ra trước một thủ tục nào đó trong số các thủ tục đã được trù địnhtrong Công ước, nếu không có sự thỏa thuận của quốc gi thành viên đang tranhchấp với mình.

4. Nếu một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản1, điểm a, thì bất kỳ quốc gia thành viên nào khác cũng có thể đưa ra mọi tranhchấp giữa quốc gia đó với quốc gia đã ra tuyên bố và nằm trong một loại tranhchấp đã bị loại trừ, ra giải quyết theo thủ tục được định rõ trong tuyên bốnày.

5. Một tuyên bố mới hay một thông báo rút lui một tuyên bốkhông hề có tác động đến thủ tục đang áp dụng trước một toàn án xét xử theođúng điều này, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

6. Các tuyên bố hay các thông báo rút lui các tuyên bố nói ởđiều này phải được gửi cho Tổng thư ký Liên hợp quốc để lưu chuyển, Tổng thư kýLiên hợp quốc chuyển các bản sao các văn kiện đó cho các quốc gia thành viên.

ĐIỀU 299. Quyền của các bên trongviệc thỏa thuận các thủ tục

1. Bất kỳ tranh chấp nào khi đã bị loại khỏi các thủ tụcgiải quyết các tranh chấp được trù định ở Mục 2 theo Điều 297 hoặc bằng mộttuyên bố theo đúng Điều 298, thì chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo các thủtục này qua sự thỏa thuận của các bên tranh chấp.

2. Không một quy định nào của mục này đụng chạm đến quyềncủa các bên tranh chấp trong việc thỏa thuận sử dụng một thủ tục khác để giảiquyết vụ tranh chấp, hay thỏa thuận giải quyết vụ tranh chấp bằng sự giàn xếpổn thỏa.

Phần XVI

CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 300. Thiện chí và lạm quyền

Các quốc gia thành viên phải có thiện chí hoàn thành cácnghĩa vụ đã đảm nhận theo nội dung Công ước, và thực hiện các quyền, thẩm quyềnvà các tự do đã được thừa nhận trong Công ước, sao cho không để xảy ra tìnhtrạng lạm quyền.

ĐIỀU 301. Việc sử dụng biển vàonhững mục đích hòa bình

Trong việc thực hiện các quyền và làm tròn nghĩa vụ của mìnhtheo đúng Công ước, các quốc gia thành viên tránh dựa vào việc đe dọa hay sửdụng vũ lực để xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi quốcgia hay tránh cùng bất kỳ cách nào khác không phù hợp với các nguyên tắc củapháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc.

ĐIỀU 302. Việc tiết lộ các thông tin

Không phương hại đến quyền của mọi quốc gia thành viên dựavào các thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp đã được trù định trong Công ước,không qui định nào của Công ước có thể được giải thích như là bắt buộc một quốcgia thành viên, trong khi thi hành các nghĩa vụ của mình theo Công ước, cungcấp các thông tin mà việc tiết lộ sẽ là trái với các lợi ích thiết yếu của mìnhvề mặt an ninh.

ĐIỀU 303. Các hiện vật khảo cổ vàlịch sử được phát hiện ở biển

Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ các hiện vật có tính chấtkhảo cổ hay lịch sử được phát hiện ở biển; các quốc gia hợp tác với nhau vì mụcđích ấy.

Để kiểm soát việc mua bán hiện vật này, bằng cách áp dụngĐiều 33, quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biểntrong vùng nói ở điều đó mà không có sự thỏa thuận của mình là sự vi phạm cácluật và qui định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải củamình, đã được nêu ở Điều 33.

Điều này không đụng chạm đến các quyền của những người sởhữu có thể được xác nhận, cũng không đụng chạm đến quyền thu hồi các xác tàu vàcác qui tắc khác của luật hàng hải cũng không đụng chạm đến các luật và tậpquán về mặt trao đổi văn hóa.

Điều này không làm phương hại đến các điều ước quốc tế khácvà các qui tắc của pháp luật quốc tế liên quan đến việc bảo vệ các hiện vật cótính chất khảo cổ hay lịch sử.

ĐIỀU 304. Trách nhiệm trong trườnghợp xảy ra thiệt hại

Các qui định của Công ước liên quan đến trách nhiệm trongtrường hợp xảy ra thiệt hại không phương hại đến việc áp dụng các qui tắc hiệnhành và việc lập ra các qui tắc mới liên quan đến trách nhiệm theo pháp luậtquốc tế.

Phần XVII

CÁC QUI ĐỊNH CUỐI CÙNG

ĐIỀU 305. Ký kết

1. Công ước để ngỏ cho các đối tượng sau đây được ký: Tất cảcác quốc gia;

Nước Na-mi-bi-a do Hội đồng của Liên hợp quốc về Na-mi-bi-ađại diện;

Tất cả các quốc gia liên kết tự trị đã chọn chế độ này quamột hành động tự quyết do Liên hợp quốc giám sát và phê chuẩn theo Nghị quyết 1514(XV) của Đại hội đồng và có thẩm quyền đối với các vấn đề mà Công ước đề cập,kể cả thẩm quyền ký các hiệp ước về các vấn đề đó;

Tất cả các quốc gia liên kết tự trị mà theo các văn bản liênkết, có thẩm quyền đối với các vấn đề mà Công ước đề cập, kể cả thẩm quyền kýcác hiệp ước về các vấn đề đó;

Tất cả các lãnh thổ có quyền tự trị hoàn toàn về nội trịđược Liên hợp quốc thừa nhận, nhưng chưa giành được nền độc lập hoàn toàn phù hợpvới Nghị quyết 1514 (XV) của Đại hội đồng và có thẩm quyền đối với các vấn đềmà Công ước đề cập, kể cả thẩm quyền ký các hiệp ước về các vấn đề đó;

Các tổ chức quốc tế theo đúng phụ lục IX.

Công ước để ngỏ cho việc ký kết tại Bộ Ngoại giao nướcGia-mai-ca cho đến ngày 09-12-1984 cũng như tại trụ sở của Liên hợp quốc tạiNiu Oóc từ 1-7-1983 đến 9-12-1984.

ĐIỀU 306. Việc phê chuẩn và việc xácnhận chính thức

Công ước phải được các quốc gia và các thực thể khác nói ở Điều305, khoản 1, các điểm b, c, d và e phê chuẩn và được các thực thể nói ở khoản 1,điểm f, của điều đó xác nhận chính thức theo đúng Phụ lục IX. Các văn kiện phêchuẩn và xác nhận chính thức được lưu chiểu bên cạnh Tổng thư ký Liên hợp quốc.

ĐIỀU 307. Việc tham gia

Công ước vẫn để ngỏ cho các quốc gia và thực thể khác nói ởĐiều 305 tham gia. Việc tham gia của các thực thể nói ở Điều 305, khoản 1, điểmf do Phụ lục IX điều chỉnh. Các văn kiện tham gia được lưu chiểu bên cạnh Tổngthư ký Liên hợp quốc.

ĐIỀU 308. Có hiệu lực

1. Công ước có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày gửi lưuchiểu văn bản phê chuẩn hay tham gia thứ 60.

2. Đối với mỗi quốc gia phê chuẩn Công ước hay tham gia vàoCông ước sau khi văn bản phê chuẩn hay tham gia thứ 60 đã được gửi lưu chiểu,thì Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau ngày quốc gia này gửi lưu chiểuvăn bản phê chuẩn hay tham gia của mình, với điều kiện phải tuân thủ quy định ởkhoản 1.

Đại hội đồng của Cơ quan quyền lực sẽ nhóm họp vào ngày màCông ước bắt đầu có hiệu lực và sẽ bầu ra Hội đồng của Cơ quan quyền lực. Trongtrường hợp Điều 161 không thể thực hiện hoàn toàn đầy đủ, thì Hội đồng đầu tiênphải được thành lập sao cho phù hợp với những mục tiêu đã nói ở điều đó.

Các quy tắc, quy định và thủ tục do Ủy ban trù bị soạn thảosẽ được tạm thời áp dụng trong khi chờ cho các qui tắc, qui định và thủ tục đóđược Cơ quan quyền lực chính thức thông qua theo đúng Phần XI.

Cơ quan quyền lực và các cơ quan của nó hành động theo đúngnghị quyết II của Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc liên quanđến các khoản vốn đầu tư ban đầu và với các quyết định của Ủy ban trù bị để thựchiện nghị quyết này.

ĐIỀU 309. Các bảo lưu và ngoại lệ

Công ước không chấp nhận bảo lưu, cũng không chấp nhận các ngoạilệ ngoài những điều đã được các điều khác của Công ước cho phép một cách rõràng.

ĐIỀU 310. Các tuyên bố

Điều 309 không ngăn cấm một quốc gia, vào lúc mà quốc gianày ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia vào Công ước, ra các tuyên bố, bấtkể lới văn hay tên gọi của tuyên bố đó thế nào, đặc biệt là nhằm điều hòa luật lệvà qui định quốc của họ với Công ước, với điều kiện là các tuyên bố này không nhằmloại trừ hay sửa đổi hiệu lực pháp lý của các qui định của Công ước trong việcáp dụng chúng vào quốc gia này.

ĐIỀU 311. Mối quan hệ với các côngước và điều ước quốc tế khác

Giữa các quốc gia thành viên, Công ước có giá trị hơn cácCông ước Giơ-ne-vơ ngày 29 tháng 4 năm 1958 về luật biển.

Công ước không thay đổi chút nào về các quyền và nghĩa vụcủa các quốc gia thành viên bắt nguồn từ các Hiệp ước khác phù hợp với Công ướcvà các quyền và nghĩa vụ đó không đụng chạm đến việc các quốc gia khác đượchưởng các quyền mà Công ước dành cho họ, cũng như việc các quốc gia khác thihành nghĩa vụ của họ bắt nguồn từ Công ước.

Hai hoặc trên hai quốc gia thành viên tham gia vào Công ướccó thể ký các điều ước sửa đổi hay đình chỉ việc áp dụng các qui định của Côngước và chỉ áp dụng vào các mối quan hệ giữa họ với nhau, với điều kiện là cácđiều ước này không đụng đến một trong các qui định Công ước mà việc không tôntrọng sẽ không phù hợp với việc thực hiện nội dung và mục đích của Công ước, vàcũng với điều kiện là các điều ước này không đụng chạm đến việc áp dụng cácnguyên tắc cơ bản đã được nêu trong Công ước, cũng không đụng chạm đến việc cácquốc gia khác hưởng và thi hành các quyền hay nghĩa vụ bắt nguồn từ Công ước.

Các quốc gia thành viên dự định ký kết một điều ước nói ởkhoản 3 cần thông báo cho các bên khác, qua trung gian của người lưu chiểu Côngước, ý định ký kết điều ước của mình cũng như những sửa đổi hay việc đình chỉáp dụng các qui định của Công ước mà điều ước đó trù định.

Điều này không đụng chạm đến các điều ước quốc tế được phéphay được duy trì một cách rõ ràng theo các điều khác của Công ước.

Các quốc gia thành viên thỏa thuận rằng không thể có sự sửađổi nào đối với nguyên tắc cơ bản về di sản chung của loài người đã được nêulên ở Điều 136 và các quốc gia này sẽ không tham gia vào một điều ước nào viphạm nguyên tắc ấy.

ĐIỀU 312. Sửa đổi

Sau một thời gian 10 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực,mọi quốc gia thành viên có thể, qua văn bản gửi lên Tổng thư ký Liên hợp quốc,đề nghị các điểm sửa đổi đối với Công ước về những điểm cụ thể, trong chừng mựcmà các điểm sửa đổi đó không nhằm vào các hoạt động tiến hành trong Vùng, và đềnghị triệu tập một hội nghị có nhiệm vụ xem xét các điều sửa đổi được đề xuấtnhư vậy. Tổng thư ký chuyển văn bản này cho các quốc gia thành viên. Nếu trong12 tháng sau ngày chuyển văn bản, có ít nhất là một nửa số quốc gia thành viêntrả lời một cách thuận lợi cho yêu cầu này, thì Tổng thư ký triệu tập hội nghị.

Trừ khi Hội nghị sửa đổi có quyết định khác, Hội nghị đó sẽáp dụng thủ tục ra quyết định đã được dùng trong hội nghị luật biển lần thứ IIIcủa Liên hợp quốc. Hội nghị phải cố gắng hết sức để đi đến thỏa thuận về cácđiểm sửa đổi bằng consensus (thỏa thuận) và hội nghị chỉ được tiến hành bỏphiếu về vấn đề khi mọi cố gắng để đạt tới một sự thỏa thuận không còn nữa.

ĐIỀU 313. Việc sửa đổi bằng thủ tụcđơn giản hóa

Qua văn bản gửi lên cho Tổng thư ký Liên hợp quốc, mọi quốcgia thành viên có thể đề nghị một điều sửa đổi đối với Công ước, không phải làmột điều sửa đổi nhằm vào các hoạt động tiến hành trong Vùng, và yêu cầu rằngđiều sửa đổi đó được thông qua theo thủ tục đơn giản hóa được trù định trong điềunày, không cần triệu tập một hội nghị để xem xét điều sửa đổi đó. Tổng thư kýLiên hợp quốc chuyển văn bản đó cho tất cả các quốc gia thành viên.

Nếu trong 12 tháng sau ngày chuyển văn bản này, một quốc giathành viên có ý kiến phản đối điều sửa đổi đã được đề nghị hay phản đối ý kiếnđề xuất nhằm làm cho điều sửa đổi đó được thông qua theo thủ tục đơn giản hóa,thì điều sửa đổi coi như bị bác bỏ. Tổng thư ký Liên hợp quốc thông báo ngayviệc đó cho tất cả các quốc gia thành viên.

Nếu 12 tháng sau ngày chuyển văn bản, không có một quốc giathành viên nào có ý kiến phản đối điều sửa đổi đã được đề xuất hay phản đối đềnghị nhằm làm cho điều đó được thông qua theo thủ tục đơn giản hóa, thì điềusửa đổi được đề xuất coi như được chấp thuận. Tổng thư ký thông báo cho tất cảcác quốc gia thành viên việc chấp nhận điều sửa đổi đã được đề xuất này.

ĐIỀU 314. Những điều sửa đổi đối vớicác qui định của Công ước chỉ liên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng

1. Qua biên bản gởi lên Tổng thư ký của Cơ quan quyền lực,mọi quốc gia thành viên có thể đề nghị một điều sửa đổi đối với các qui định củaCông ước chỉ liên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng, kể cả các quiđịnh của Mục 4 thuộc Phụ lục VI. Tổng thư ký gởi văn bản này cho tất cả cácquốc gia thành viên. Một khi Hội đồng chuẩn y, điểm sửa đổi được đề xuất phải đượcĐại hội đồng chuẩn y. Đại biểu của các quốc gia thành viên có toàn quyền để xemxét và thông qua điều sửa đổi được đề xuất. Đề nghị sửa đổi, như đã được Hộiđồng và Đại hội đồng chuẩn y, coi như được chấp thuận.

2. Trước khi chuẩn y một điều sửa đổi theo đúng khoản 1, Hộiđồng và Đại hội đồng phải biết chắc rằng điều sửa đổi không đụng chạm đến hệthống thăm dò và khai thác các tài nguyên của Vùng trong khi chờ đợi triệu tậpcuộc hội nghị xét duyệt lại theo đúng Điều 155.

ĐIỀU 315. Những điều sửa đổi: ký,phê chuẩn, tham gia và các văn bản chính thức

Những điều sửa đổi đối với Công ước khi được thông qua, đượcđể ngỏ cho các quốc gia thành viên ký kết tại trụ sở của Liên hợp quốc ở NiuOóc, trong thời hạn là 12 tháng kể từ ngày thông qua các điều sửa đổi này, trừkhi các điều sửa đổi đó có qui định khác.

Các Điều 306, 307 và 320 được áp dụng cho tất cả các điềusửa đổi đối với Công ước.

ĐIỀU 316. Các điều sửa đổi có hiệulực

Đối với các thành viên đã phê chuẩn hay đã tham gia công ước,ngoài những điều đã nói ở khoản 5, sẽ có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi tiếp sauviệc gửi lưu chiểu các văn bản phê chuẩn hay tham gia của hai phần ba số quốcgia thành viên hay của 60 quốc qia thành viên, số lượng nào cao nhất sẽ được sửdụng. Các điều sửa đổi không đụng chạm đến việc các quốc gia khác được hưởng cácquyền mà Công ước dành cho họ, cũng không đụng chạm đến việc họ thi hành cácnghĩa vụ bắt nguồn từ Công ước.

Một điều sửa đổi có thể trù định rằng, việc nó có hiệu đòihỏi phải có một số lượng quốc gia phê chuẩn hay tham gia cao hơn số lượng màđiều này đòi hỏi.

Đối với một quốc gia đã phê chuẩn một điều sửa đổi nói ởkhoản 1 hay đã tham gia vào điều sửa đổi đó sau ngày số lượng các văn bản phêchuẩn hay tham gia cần thiết đã được lưu chiểu, điều sửa đổi này có hiệu lựcvào ngày thứ ba mươi tiếp sau ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn hay tham giacủa quốc gia thành viên đó.

Bất kỳ quốc gia nào khi trở thành thành viên của Công ước,sau khi một điều sửa đổi có hiệu lực theo đúng khoản 1, nếu không biểu thị mộtý định khác, thì được coi như là:

Thành viên của Công ước đã được sửa đổi; và

Thành viên của Công ước không được sửa đổi đối với mọi quốcgia thành viên không bị ràng buộc bởi các điều sửa đổi.

Các điều sửa đổi chỉ nhằm vào các hoạt động tiến hành trongVùng và các điều sửa đổi đối với Phụ lục VI sẽ có hiệu lực đối với tất cả cácquốc gia thành viên sau ngày có ba phần tư số quốc gia thành viên nộp lưu chiểucác văn bản phê chuẩn hay tham gia.

Mọi quốc gia khi trở thành thành viên của Công ước, sau khicác điều sửa đổi nói trong khoản 5 có hiệu lực được coi như thành viên của Côngước đã được sửa đổi.

ĐIỀU 317. Việc từ bỏ

Một quốc gia thành viên có thể từ bỏ Công ước, qua thông báoviết gửi lên cho Tổng thư ký Liên hợp quốc, và nói rõ những lý do của việc từbỏ. Dù quốc gia thành viên này không nêu rõ lý do đó, thì việc từ bỏ vẫn khôngvì thế mà vô hiệu lực. Việc từ bỏ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày nhận đượcthông báo, trừ khi trong thông báo có trù định một thời hạn chậm hơn.

Việc từ bỏ cũng không làm cho một quốc gia tránh khỏi cácnghĩa vụ về mặt tài chính và hợp đồng mà họ phải đảm nhận, khi mà quốc gia nàycòn là thành viên của Công ước, và việc từ bỏ cũng không ảnh hưởng đến các quyển,nghĩa vụ hay các địa vị pháp lý của quốc gia này bắt nguồn từ việc áp dụng Côngước, trước khi Công ước không còn hiệu lực đối với quốc gia đó.

Việc từ bỏ không hề ảnh hưởng chút nào tới bổn phận của mọiquốc gia thành viên phải làm tròn mọi nghĩa vụ đã nêu trong Công ước, mà quốcgia này phải tuân thủ theo pháp luật quốc tế độc lập với Công ước.

ĐIỀU 318. Quy chế của các phụ lục

Các phụ lục là bộ phận hoàn chỉnh của Công ước, một sự việndẫn Công ước cũng là một sự viện dẫn các phụ lục của nó và sự viện dẫn một phầncủa Công ước cũng là sự viện dẫn các phụ lục có liên quan đến phần đó, trừtrường hợp có quy định trái ngược rõ ràng.

ĐIỀU 319. Người lưu chiểu

Tổng thư ký Liên hợp quốc là người lưu chiểu Công ước và cácđiều sửa đổi có liên quan đến công ước.

Ngoài chức năng của người lưu chiểu, Tổng thư ký Liên hợp quốccòn:

Báo cáo cho tất cả các quốc gia thành viên, Cơ quan quyềnlực và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền về các vấn đề mang tính chất chungxuất hiện liên quan đến Công ước.

Thông báo cho Cơ quan quyền lực các văn bản phê chuẩn, xácnhận chính thức và tham gia Công ước và các điều sửa đổi đối với Công ước, cũngnhư các văn bản từ bỏ các Công ước;

Thông báo cho các quốc gia thành viên các điều ước được kýkết theo đúng với Điều 311, khoản 4;

Chuyển cho các quốc gia thành viên các điều sửa đổi đã đượcthông qua theo đúng Công ước để phê chuẩn hay tham gia;

Triệu tập các cuộc họp cần thiết của các quốc gia thành viêntheo đúng Công ước.

3. a) Tổng thư ký cũng chuyển cho các quan sát viên nói ởĐiều 156: Các báo cáo nói ở khoản 2, điểm a;

Các thông báo nói ở khoản 2, điểm b và c;

Văn bản các điểm sửa đổi nói ở khoản 2, điểm d với tính chấtđể thông báo.

b) Tổng thư ký cũng mời các quan sát viên này tham gia cáchội nghị của các quốc gia thành viên nói ở khoản 2 điểm e với tư cách là quansát viên

ĐIỀU 320. Các văn bản chính thức

Nguyên bản của Công ước bằng tiếng Anh, Ả Rập, Trung Quốc,Tây Ban Nha, Pháp, và Nga đều có giá trị chính thức như nhau và được lưu chiếubên cạnh Tổng thư ký Liên hợp quốc, theo Điều 305, khoản 2.

Để làm tin, các đại diện toàn quyền ký dưới đây là nhữngngười được phép hợp thức ký vào Công ước.

Làm tại Môn-tê-gô Bay ngày mồng Mười tháng Mười hai năm Mộtngàn chín trăm tám mươi hai.

LIÊN HỢP QUỐC

PHỤ LỤC I

CÁCLOÀI CÁ DI CƯ XA

Tên bằng tiếng Việt Nam

Tên bằng tiếng Pháp

Tên bằng tiếng La tinh

1. Cá ngừ vây dài

Thon blanc germon

Thunnus alalunga

2. Cá ngừ

Thon rouge

Thunnus thynnus

3. Cá ngừ mắt to

Thon abèse à grosoceil

Thunnis obesus

4. Cá ngừ vằn

Bonite à ventre rayé

Katsuwonus pelamis

5. Cá ngừ vàng

Thon à nageoire jaune

Thunnus albacares

6. Cá ngừ đen

Thon noir

Thunnus atlanticus

7. Cá ngừ Đài Loan

Thonine

Euthunnus alletteatus; Euthunnus affinis

8. Cá ngừ phương nam

Thon à nageoire bleue

Thunnus maccoyii

9. Cá ngừ dẹp

Auxide

Auxis thazard; Auxis rochie

10. Cá ven biển

Brème de mẻ

Bramide

11. Cá ngừ môn nhái

Martin

Tetrapturus angustirostris; Tetrapturus belone; Tetrapturus pluegeri; Tetrapturusalbidus; Tetrapturus audax; Tetrapturus georgei;

Makaira mazara; Makaira india; Makaira nigricans; Istiophorus platyterus

12. Cá cờ

Voilier

Istiophorus albicans

13. Cá mũi kiếm

Espadon

Xiphias gladius

14. Cá thu đao

Sauri ou balaou

Scomberesor saurus; cololabis saira; Cololabis adocetus; Scomberesox saurus; Scombroides

15. Cá nục heo

Coryphène ou dorade tropicale

Corypheana hippurus; Corypheana equiselis

16. Cá nhám

Requin

Hexanchusgriseus; Cetorhinus maximus; Alpildae; Rhincodon typus; Carcharhinidae; Sphyrnidae; Isuridae

17. Cá loài cá voi

Cétacés

Physeteridae; Balaenopteridae; Balanenidae; Eschrichtiidae; Monodontidae;Ziphiidae; Deiphinidae.

PHỤ LỤC II

ỦYBAN RANH GIỚI THỀM LỤC ĐỊA

ĐIỀU 1. Để thi hành Điều 76, một ủy ban ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hoải lýđược thành lập theo đúng các điều sau đây.

ĐIỀU 2.

1. Ủy ban gồm 21 ủy viên là chuyên gia về địa chất, địa vậtlý hay địa thủy văn, do các quốc gia thành viên tham gia Công ước lựa chọntrong số công dân của mình, có tính đến sự cần thiết phải bảo đảm một sự đạidiện công bằng về địa lý, các ủy viên này phải thi hành các chức trách của mìnhvới tư cách cá nhân.

2. Cuộc bầu cử đầu tiên sẽ được tiến hành ngay khi có điềukiện, và dù sao cũng phải được tiến hành trong một thời hạn là 18 tháng kể từkhi Công ước có hiệu lực. Ít nhất là ba tháng trước ngày tiến hành mỗi cuộc bầucử, Tổng thư ký Liên hợp quốc gửi một văn thư cho các quốc gia thành viên đểmời họ giới thiệu ứng cử viên, sau khi đã có các cuộc tham khảo ý kiến thíchhợp ở khu vực và việc này tiến hành trong một thời hạn là ba tháng. Tổng thư kýlập ra một danh sách theo thứ tự a, b, c, tất cả các ứng cử viên được chỉ địnhnói trên và gửi danh sách này cho tất cả quốc gia thành viên.

3. Việc bầu cử các ủy viên của Ủy ban được tiến hành trongmột hội nghị của các quốc gia thành viên do Tổng thư ký triệu tập tại trụ sởcủa Liên hiệp quốc. Số đại biểu cần thiết (quorum) là hai phần ba số phiếu củacác đại biểu có mặt và bỏ phiếu, thì trúng cử ủy viên của Ủy ban. Mỗi vùng địa lýđược tuyển chọn ít nhất ba ủy viên.

4. Các ủy viên của Ủy ban được bầu với một nhiệm kỳ là 5năm. Họ có thể được bầu lại.

5. Quốc gia thành viên nào đã giới thiệu ứng cử viên vào Ủyban phải bảo đảm mọi khoản chi tiêu cho ủy viên đó khi họ thi hành phận sự củamình nhân danh Ủy ban, quốc gia ven biển hữu quan phải chịu các kinh phí cóliên quan đến những ý kiến nêu ở Điều 3, khoản 1, điểm d của phụ lục này. Chiphí Văn phòng của Ủy ban do Tổng thư ký Liên hiệp quốc bảo đảm.

ĐIỀU 3.

Các chức năng của Ủy ban là:

Xem xét các số liệu và các thông tin khác do các quốc giaven biển gửi đến có liên quan đến ranh giới ngoài của thềm lục địa, khi thềmlục địa này mở rộng quá 200 hải lý và đưa ra các kiến nghị theo đúng điều 76,và Giác thư thỏa thuận (Memorandum d’accord) đã được Hội nghị luật biển lần thứIII của Liên hợp quốc thông qua ngày 39-8-1980.

Theo yêu cầu của quốc gia ven hữu quan, phát biểu các ý kiếnvề khoa học và kỹ thuật để xây dựng các số liệu ở ý kiến về khoa học và kỹthuật để xây dựng các số liệu nói ở điểm trên.

Trong phạm vi được đánh giá là cần thiết và hữu ích, Ủy bancó thể hợp tác với Ủy ban Hải dương học liên chính phủ của UNESCO, Tổ chức thủyvăn quốc tế và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền khác nhằm thu được các số liệukhoa học và kỹ thuật có thể giúp cho mình hoàn thành trách nhiệm.

ĐIỀU 4. Quốc gia ven biển nào dự định xác định ranh giới ngoài của thềm lục địangoài 200 hải lý theo Điều 76 cần gửi cho Ủy ban ngay khi có điều kiện và trongbất kỳ hoàn cảnh nào trong một thời hạn 10 năm kể từ khi công ước có hiệu lựcđối với quốc gian này, các đặc điểm của ranh giới này với những số liệu khoahọc và kỹ thuật để chứng minh. Đồng thời, quốc gia ven biển thông báo tên tấtcả các ủy viên của Ủy ban đã cung cấp cho mình các ý kiến về khoa hoc và kỹthuật.

ĐIỀU 5. Trừ trường hợp Ủy ban có quyết định khác, Ủy ban hoạt động thông quahai tiểu ban gồm bảy ủy viên được chỉ định một cách cân bằng có tính đến cácyếu tố riêng của mỗi đơn yêu cầu do một quốc gia ven biển gửi lên các ủy viêncủa Ủy ban là công dân của quốc gia này các ý kiến về khoa học và kỹ thuật vềđường ranh giới này, không thể tham gia vào tiểu ban có trách nhiệm xem xét đơnyêu cầu, nhưng học có quyền tham gia với tư cách là các ủy viên vào các côngviệc của Ủy ban có liên quan đến đơn này. Quốc gia ven biển khi đã gửi một đơnyêu cầu lên Ủy ban, thì có thể gửi các đại diện của mình tới tham gia các công việcthích hợp, nhưng không có quyền biểu quyết.

ĐIỀU 6.

1. Tiểu ban gửi các kiến nghị của mình lên Ủy ban.

2. Ủy ban chuẩn y các kiến nghị của Tiểu ban theo đa số haiphần ba các ủy viên và bỏ phiếu.

3. Các kiến nghị của Ủy ban được gửi bằng văn bản tới quốcgia ven biển đã đưa đơn yêu cầu cũng như cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

ĐIỀU 7. Các quốc gia ven biển xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mìnhtheo đúng Điều 76, khoản 8 và theo các thủ tục quốc gia thích hợp.

ĐIỀU 8. Nếu không đồng ý với các kiến nghị của Ủy ban, quốc gia ven biển gửi lêncho Ủy ban trong một thời hạn hợp lý một đơn yêu cầu đã được xem xét lại hoặcmột đơn mới.

ĐIỀU 9. Các hành động của Ủy ban không xét đoán trước các vấn đề liên quan đếnviệc thiết lập các ranh giới giữa các quốc gia mà bờ biển tiếp liền hoặc đốidiện.

PHỤ LỤC III

CÁCQUI ĐỊNH CƠ SỞ ĐIỀU CHỈNH VIỆC THĂM DÒ, KHẢO SÁT VÀ KHAI THÁC

ĐIỀU 1. Các quyền đối với các khoảng sản

Việc chuyển giao các quyền đối với các khoáng sản diễn ravào lúc khai thác các khoáng sản này theo đúng Công ước.

ĐIỀU 2. Thăm dò

1. a) Cơ quan quyền lực khuyến khích việc thăm dò trongvùng.

b) Việc thăm dò chỉ có thể bắt đầu khi Cơ quan quyền lựcnhận được của người sẽ tiến hành thăm dò một bản cam đoan thỏa đáng là sẽ tôn trọngCông ước, các quy tắc, quy định và thủ tục của cơ quan quyền lực có liên quanđến việc hợp tác trong các chương trình đào tạo nói trong các Điều 143 và 144và về việc bảo vệ môi trường biển, và người đó chấp nhận để cho Cơ quan quyềnlực kiểm tra việc thi hành của mình. Đồng thời với bản cam đoan này, người sẽtiến hành thăm dò sẽ thông báo cho Cơ quan quyền lực biết các giới hạn gần đúngcủa khu vực hay các khu vực sẽ tiến hành thăm dò.

c) Công việc thăm dò có thể được nhiều người thăm dò thựchiện đồng thời trong cùng một hay cùng những khu vực.

2. Việc thăm dò không dành cho người thăm dò một quyền nàođối với các tài nguyên. Tuy nhiên, người thăm dò có thể khai thác một số lượnghợp lý khoáng sản để làm mẫu.

ĐIỀU 3. Khảo sát và khai thác

1. Xí nghiệp, các quốc gia thành viên và các thực thể hay cánhân khác nói ở Điều 153, khoản 2, điểm b, có thể yêu cầu cơ quan quyền lực phêchuẩn các kế hoạch làm việc về hoạt động tiến hành trong vùng.

2. Xí nghiệp có thể làm một đơn yêu cầu nhằm vào bất kỳ khuvực nào của vùng, nhưng các đơn yêu cầu đối với các khu vực dành riêng do cácthực thể hay cá nhân khác gửi đến khi còn phải thỏa mãn các điều kiện đã nêu ởĐiều 9 của Phụ lục này.

3. Việc khảo sát và khai thác chỉ tiến hành trong những khuvực đã được nói rõ trong các kế hoạch làm việc đã nêu ở Điều 153, khoản 3 và đãđược Cơ quan quyền lực chuẩn y theo đúng Công ước, và các quy tắc, quy định vàthủ tục tương ứng của Cơ quan quyền lực.

4. Mọi kế hoạch làm việc được chuẩn y đều phải:

a) Phù hợp với công ước và các quy tắc, quy định và thủ tụccủa Cơ quan quyền lực;

b) Trù định việc kiểm soát của cơ quan quyền lực đối với cáchoạt động tiến hành trong Vùng, theo đúng Điều 153, khoản 4;

c) Trao cho người khai thác, theo đúng các quy tắc, quy địnhvà thủ tục của Cơ quan quyền lực, các đặc quyền đối với việc khảo sát và khaithác trong khu vực nói trong kế hoạch làm việc, các loại tài nguyên được ghi rõtrong kế hoạch làm việc chỉ liên quan đến giai đoạn khảo sát hay khai thác, thìngười đó chỉ được giao cho các đặc quyền đối với giai đoạn đó thôi.

5. Một khi được cơ quan quyền lực chuẩn y, mọi kế hoạch làmviệc, nếu không phải là kế hoạch làm việc do xí nghiệp đề nghị, đều mang hìnhthức một hợp đồng ký kết giữa cơ quan quyền lực và người hay những người yêucầu.

ĐIỀU 4. Các điều kiện về tư cách của những người yêu cầu

1. Ngoài các xí nghiệp ra, những người yêu cầu được coi làcó tư cách, là những người thực hiện đầy đủ các điều kiện nói trong Điều 153,khoản 2, điểm b về các vấn đề quốc tịch hay vấn đề về kiểm soát và bảo trợ, vàtuân theo các thủ tục, đáp ứng các tiêu chuẩn về tư cách đã được nêu trong cácquy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực.

2. Với điều kiện tuân thủ khoản 6, các tiêu chuẩn về tư cáchđó có liên quan tới khả năng tài chính và kỹ thuật của người yêu cầu, cũng nhưvới tư cách mà người này thực hiện các hợp đòng ký kết trước đây vơi Cơ quanquyền lực.

3. Mọi người yêu cầu đều phải được quốc gia thành viên màngười yêu cầu là công dân, bảo trợ, trừ khi người yêu cầu có qua một quốc tịchnhư: trong trường hợp một Công ty hay Công-xoóc-xi-om gồm nhiều thực thể cánhân thuộc các quốc gia khác nhau, tất cả các quốc gia thành viên hữu quan phảibảo trợ đơn yêu cầu; trong trường hợp người yêu cầu do một quốc gia thành viênkhác hay các công dân của quốc gia khác này kiểm soát một cách thực sự và thủtục áp dụng các điều kiện bảo trợ được nêu trong các quy định quy tắc và thủtục của Cơ quan quyền lực.

4. Theo điều 139 và theo chế độ pháp lý của mình, quốc giathành viên hay các quốc gia thành viên bảo trợ một đơn yêu cầu có nghĩa vụ thamquan tâm đến các hoạt động trong vùng của một người ký kết, mà quốc gia đó haycác quốc gia bảo trợ, được tiến hành theo đúng các nghĩa vụ của họ theo hợp đồngvà theo Công ước. Tuy nhiên, một quốc gia thành viên không chịu trách nhiệm vềnhững tổn thất gây ra do thiếu sót của người ký kết mà mình bảo trợ đối vớinhững nghĩa vụ của người đó, nếu quốc gia nói trên đã thông qua các luật và quichế và đã quy định các biện pháp hành chính, mà đối với chế độ pháp lý của quốcgia này, thì thích hợp một cách đúng mức để bảo đảm cho những người thuộc quyềntài phán của mình tôn trọng thực sự các nghĩa vụ đó.

5. Các thủ tục để xét đơn của các quốc gia thành viên phảitính đến tư cách Nhà nước của họ.

6. Các tiêu chuẩn tư cách đòi hỏi bất kỳ người yêu cầu nào,không ngoại lệ, cũng phải cam đoan trong đơn yêu cầu của mình:

a) Chấp nhận coi như có tính chất bắt buộc và tôn trọng cácnghĩa vụ của mình theo phần XI, các quy tắc quy định, thủ tục của Cơ quan quyềnlực, các quyết định của các cơ quan của Cơ quan quyền lực và các điều khoản củacác hợp đồng đã được ký kết với Cơ quan quyền lực;

b) Chấp nhận để Cơ quan quyền lực thực hiện việc kiểm soátnhư Công ước đã cho phép đối với các hoạt động tiến hành trong Vùng;

c) Cung cấp cho Cơ quan quyền lực bản cam đoan sẽ hoàn thànhmột cách trung thực những nghĩa vụ của mình theo hợp đồng;

d) Tông trọng các điều quy định liên quan đến việc chuyển giaocác kỹ thuật đã nêu trong Điều 5 của phụ lục này.

ĐIỀU 5. Chuyển giao các kỹ thuật

1. Khi đệ trình một kế hoạch làm việc, mọi người yêu cầu đềuphải cung cấp cho Cơ quan quyền lực một bản mô tả chung về trang bị các phươngpháp sẽ được sử dụng đối với các hoạt động tiến hành trong Vùng, các thông tintương ứng khác không phải là sở hữu công nghiệp và có liên quan đến các đặctính của các kỹ thuật được dự tính, cũng như các thông tin chỉ rõ nơi có các kỹthuật này.

2. Mọi người khai thác đều thông báo cho Cơ quan quyền lựccác điều thay đổi đối với bản mô tả các dữ kiện và các thông tin đã đưa đến choCơ quan quyền lực sư dụng theo khoản 1, mỗi khi có sự sửa đổi hay đổi mới về kỹthuật quan trọng.

3. Mọi hợp đồng về các hoạt động trong vùng đều phải có cácđiều khoản; trong đó, người ký hợp đồng cam đoan:

a) Theo yêu cầu của Cơ quan quyền lực, theo các thể thức và điềukiện thương mại công bằng, hợp lý, để cho xí nghiệp sử dụng các kỹ thuật màmình dùng để tiến hành các hoạt động trong vùng theo hợp đồng và mình có quyềnchuyển giao. Việc chuyển giao này được tiến hành qua các thỏa thuận về giấy phéphay các dàn xếp thích hợp khác, mà người khai thác thương lượng với xí nghiệpvà đã được ghi lại trong một bản thỏa thuận đặc biệt bổ sung cho hợp đồng. Sựcam kết này chỉ có thể được đề cập, nếu xí nghiệp xét thấy rằng, mình không cókhả năng có được trên thị trường tự do chính những kỹ thuật này hoặc những kỹthuật cũng có hiệu quả và thích hợp như thế, theo các thể thức và điều kiệnthương mại công bằng, hợp lý;

b) Nhận được bản cam kết của người sở hữu mọi kỹ thuật dùng đểtiến hành các hoạt đọng trong Vùng theo hợp đồng và không được nêu ở điểm a, vànói chung cũng không có sẵn trên thị trường tự do; bản cam kết đó nói rằng theoyêu cầu của Cơ quan quyền lực, người đó sẽ cho phép Xí nghiệp, qua các thỏathuận về giấy phép hay các dàn xếp thích hợp khác, sử dụng các kỹ thuật nàytrong cùng một mức độ của người ký hợp đồng, theo các thể thức và điều kiệnthương mại công bằng, hợp lý. Nếu không có cam kết này, thì người khai tháckhông thể được sử dụng các kỹ thuật nói trên để tiến hành các hoạt động trongVùng.

c) Theo yêu cầu của Xí nghiệp và nếu có thể tiến hành màkhông làm cho người ký kết hợp đồng phải chịu những chi phí quan trọng thì bằngmột hợp đồng có tính chất bắt buộc phải chấp hành, đạt được quyền chuyển giao choXí nghiệp mọi kỹ thuật dùng để tiến hành các hoạt động trong Vùng theo danhnghĩa của hợp đồng, mà người đó chưa có quyền chuyển giao và nói chung khôngsẵn có trên thị trường tự do. Nếu có mối liên hệ thực chất trong khuôn khổ củamột công ty, giữa người khai thác và người sở hữu kỹ thuật, thì tính chất chặtchẽ của mối liên hện này và mức độ kiểm soát hay ảnh hưởng được lưu ý đến khicần xác định xem họ đã cố gắng hết sức để có được quyền đó không. Nếu người kýhợp đồng có sự kiểm soát thực sự đối với người sở hữu và không giành được từngười sở hữu quyền đó, thì điều đó sẽ được tính đến trong việc xác định tư cáchcủa người ký hợp đồng, khi họ đưa một đơn mới xin chuẩn y một kế hoạch làmviệc.

d) Nếu Xí nghiệp yêu cầu, thì tạo điều kiện dẽ dàng để Xínghiệp có được mọi kỹ thuật nói ở điểm b, qua các thỏa thuận về giấy phép hoặccác dàn xếp thích hợp khác, theo các thể thức và điều kiện thương mại công bằngvà hợp lý, trong trường hợp mà Xí nghiệp quyết định sẽ thương lượng trực tiếpvới người sỡ hữu kỹ thuật nói trên:

e) Áp dụng cũng các quy định như các quy định đã ghi ở điểma, b, c và d đối với một quốc gia hay một nhóm quốc gia đang phát triển đangxin ký kết một hợp đồng theo Điều 9 của phụ lục này, với điều kiện là: các điềuquy định này giới hạn ở việc khai thác phần của khu vực mà người ký kết hợpđồng đề nghị đã được dành riêng theo Điều 8 của phụ lục này; các hoạt động đượctrù định trong hợp đồng mà quốc gia hay nhóm quốc gia đang phát triển đang kýkết không dẫn đến việc chuyên giao kỹ thuật vì lợi ích của một quốc gia thứ bahay của các công dân của một quốc gia thứ ba. Nghĩa vị do điều quy định này trùđịnh chỉ áp dụng đối với các người ký hợp đồng có những kỹ thuật không phải là đốitượng của một yêu cầu chuyển gia cho Xí nghiệp.

4. Các tranh chấp liên quan đến các cam kết đòi hỏi ở khoản3, cũng như những tranh chấp liên quan đến các điều khoản khác của hợp đồng,thuộc phạm vi của giải quyết tranh chấp có tính chất bắt buộc được trừ địnhtrong Phần XI, và việc không tôn trọng các cam kết này có thể bị phạt tiền vàbị đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng, theo đúng Điều 18 của Phụ lục này. Các tranhchấp về vấn đề xét xem các đề nghị của người ký kết hợp đồng có bao hàm các thểthức và điều kiện thương mại công bằng và hợp lý không, có thể được một trongcác bên nào đó đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài thương mại có tính chấtbắt buộc được trù định trong bản Quy tắc trọng tài của CNUDCI hay theo bất kỳ thủtục trọng tài nào khác được quy định trong quy tắc, quy định và thủ tục của Cơquan quyền lực. Nếu trọng tài đi đến kết luận phủ đình về vấn đề đó, thì ngườiký kết hợp đồng có được 45 ngày để sửa đổi đề nghị của mình nhằm làm cho nó baogồm các thể thức và điều kiện thương mại công bằng theo Điều 18 của Phụ lụcnày.

5. Nếu Xí nghiệp không có khả năng có được các kỹ thuậtthích hợp theo các thể thức và điều kiện thương mại công bằng, hợp lý để Xínghiệp thực hiện đúng lúc việc khai thác và chế biến các khoáng sản của Vùng,thì Hội đồng và Đại hội đồng có thể triệu tập một nhóm các quốc gia thành viên,bao gồm các quốc gia tiến hành các hoạt động như vậy trong Vùng và các quốc giakhác nắm được những kỹ thuật này. Sau khi đã thảo luận, nhóm này thi hành cácbiện pháp có hiệu quả cao sao cho Xí nghiệp được sử dụng các kỹ thuật này theocác thể thức và điều kiện thương mại công bằng hợp lý. Mỗi quốc gia thành viêntrên sẽ thi hành tất cả mọi biện pháp thực tế thực hiện mục đích đó, trongkhuôn khổ chế độ pháp luật của mình.

6. Trong trường hợp các công ty liên doanh với Xí nghiệp,việc chuyển giao các kỹ thuật được tiến hành theo đúng vơi thỏa thuận về cáccông ty liên doanh đó.

7. Các cam kết đòi hỏi ở khoản 3 được ghi vào mỗi hợp đồngvề các hoạt động trong Vùng đến hết một thời hạn 10 năm, sau khi Xí nghiệp bắtđầu việc sản xuất hàng hóa và có thể được viện dẫn trong thời hạn này.

8. Trong điều này, thuật ngữ “kỹ thuật” dùng để chit thiếtbị chuyên dụng và bí quyết kỹ thuật, kể cả các bản mô tả, sổ tay, tài liệuhướng dẫn, việc đào tạo, các hướng dẫn về kỹ thuật và việc giúp đỡ kỹ thuật cầnthiết để lắp đặt, bảo dưỡng và vận hành một hệ thống có thể đứng vững được, cũngnhư, quyền sử dụng các yếu tố nói trên vào mục đích này trên cơ sở không cótính chất đặc quyền.

ĐIỀU 6. Việc chuẩn y các kế hoạch làm việc

1. Sáu tháng sau khi Công ước có hiệu lực, Cơ quan quyền lựcsẽ tiến hành xem xét các kế hoạch làm việc đã được đề nghị, sau đó cứ bốn thánglại xét một lần.

2. Khi xem xét một đơn xin chuẩn y một kế hoạch làm việcdưới hình thức một hợp đồng, trước hết, Cơ quan quyền lực phải xác định:

a) Xem người yêu cầu có tuân theo các thủ tục đệ đơn yêu cầunói trong Điều 4 của Phụ lục này không, xem người yêu cầu có cam kết và cónhững đảm bảo đối với Cơ quan quyền lực theo đòi hỏi của điều này không. Nếucác thủ tục này không được tuân thủ, hoặc thiếu một trong những cam kết và đảmbảo nào đó nêu trên, Cơ quan quyền lực cho người yêu cầu một thời hạn là 45ngày để sửa chữa các thiếu sót đó;

b) Xem người yêu cầu có đủ tư cách theo tinh thần của Điều 4của phụ lục này không.

3. Tất cả các kế hoạch làm việc đã đề nghị đều được xem xéttheo thứ tự tiếp nhận. Các kế hoạch làm việc đã đề nghị phải phù hợp và tôntrọng các điều quy định tương ứng của Công ước cũng như các quy tắc, quy địnhvà thủ tục của Cơ quan quyền lực, kể cả các điều kiện liên quan đến các nghiệpvụ, những đóng góp tài chính và những cam kết về việc chuyển giao kỹ thuật. Cơ quanquyền lực chuẩn y những kế hoạch làm việc được đề nghị phù hợp với các điều quyđịnh này, với điều kiện là chúng cũng phù hợp với những điều kiện như nhau vàkhông phân biệt đối xử nói trong các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực, trừ khi:

a) Một phần hay toàn bộ vùng mà kế hoạch làm việc được đềnghị nhắm vào nằm trong một kế hoạch làm việc đã được chuẩn y hay trong một kế hoạchlàm việc đã được đề nghị trước mà Cơ quan quyền lực còn chưa có quyết định cuốicùng;

b) Việc khai thác một phần hay toàn bộ Vùng mà kế hoạch làmviệc được đề nghị nhắm vào đã bị Cơ quan quyền lực bác bỏ theo Điều 162, khoản2, điểm x; hay

i. Quốc gia đã được chuẩn y các kế hoạch làm việc liên quanđến việc thăm dò và khai thác các vỉa quặng khối đa kim trong những khu vực khôngđược dành riêng; khi diện tích của chúng, cộng thêm với diện tích của phần nàyhay phần khác của Vùng mà kế hoạch làm việc được đề nghị nhắm vào, sẽ vượt quá30% diện tích của một vùng hình tròn có diện tích 400.000 km2 được xác định từtâm của phần này hay một phần khác của vùng nói trong kế hoạch làm việc được đềnghị;

ii. Quốc gia đã được chuẩn y các kế hoạch làm việc liên quanđến việc thăm dò và khai thác các vỉa quặng khối đa kim trong các khu vực khôngđược dành riêng có diện tích toàn bộ bằng 2% tổng diện tích của Vùng chưa được dànhriêng và việc khai thác chưa bị loại trừ theo Điều 162, khoản 2, điểm x.

4. Để áp dụng quy tắc đã nêu ở khoản 3, điểm c, một kế hoạchlàm việc do một công ty hay một công – xoóc – om đề nghị phải được khấu theo tỷlệ vào các quốc gia thành viên bảo trợ cho công ty hay công – xoóc – om theođúng Điều 4 khoản 3 của phụ lục này. Cơ quan quyền lực có thể chuẩn y các kếhoạch làm việc do khoản 3, điểm c điều chỉnh, nếu Cơ quan quyền lực xác minh đượcrằng, việc chuẩn y này không cho phép một quốc gia thành viên hay các thực thẻhoặc quyền về các hoạt động trong Vùng hay cản trở các quốc gia thành viên kháctiến hành các hoạt động trong Vùng.

5. Mặc dù đã có khoản 3, điểm a, sau khi kết thúc giai đoạn quáđộ nói ở điều 151, khoản 3, Cơ quan quyền lực có thể dựa vào các quy tắc, quyđịnh và thủ tục để thông qua các thủ tục và tiêu chuẩn khác phù hợp với Công ước,để xác định trong số các người đệ trình các kế hoạch làm việc đối với một vùngnào đó, kế hoạch của ai sẽ được chuẩn y trong trường hợp cần có sự lựa chọn.Các thủ tục và tiêu chuẩn này phải đảm bảo cho việc chuẩn y các kế hoạch làmviệc trên một cơ sở công bằng và không phân biệt đối xử.

ĐIỀU 7. Sự lựa chọn giữa những người xin cấp giấy phép sảnxuất

1. Sáu tháng sau khi Công ước có hiệu lực, sau đó cứ 4 thángmột, Cơ quan quyền lực xem xét các đơn xin cấp giấy phép sản xuất đã gửi tớitrong thời kỳ trước đó. Nếu tất cả các đơn yêu cầu này có thể được chuẩn y màkhông làm cho các giới hạn sản lượng bị vượt quá và không làm cho Cơ quan quyềnlực vi phạm những nghĩa vụ mà mình phải bảo đảm theo một hiệp định, hay mộtthỏa thuận về sản phẩm mà Cơ quan quyền lực là thành viên, như đã trù định ởĐiều 151, thì Cơ quan quyền lực cấp các giấy phép đã được yêu cầu.

2. Khi một sự lựa chọn cần phải được tiến hành giữa nhữngngười xin cấp giấy phép sản xuất do vấn đề giới hạn sản lượng đươc trù định ởĐiều 151, các khoản từ 2 đến 7, hoặc do các nghĩa vụ thuộc bổn phận của Cơ quanquyền lực theo một hiệp định hay một thỏa thuận về sản phẩm, trong đó Cơ quanquyền lực là thành viên như đã được trù định ở Điều 151, khoản 1, thì Cơ quan quyềnlực tiến hành việc lựa chọn này dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn khách quan vàkhông phân biệt đối xử đã được ấn định trong các quy tắc quy định và thủ tụccủa mình.

3. Trong việc áp dụng khoản 2, Cơ quan quyền lực dành ưutiên cho những người yêu cầu:

a) Đưa ra những bảo đảm tốt nhất về hiệu quả theo khả năngtài chính kỹ thuật của họ, và theo cách thức mà họ thực hiện các kế hoạch làmviệc đã được chuẩn y trước, nếu như có các kế hoạch đó;

b) Cho cơ quan quyền lực thấy triển vọng có các khoản thutài chính nhanh hơn, tính theo thời hạn trù định để bắt đầu việc sản xuất hànghóa;

c) Đã đầu tư nhiều nhất về vốn liếng và công sức trong việckháp sát và thăm dò.

4. Những người yêu cầu nào không được lựa chọn trong mộtthời kỳ nào đó; thì được ưu tiên trong thời kỳ sau cho đến lúc được cấp mộtgiấy phép sản xuất.

5. Việc lựa chọn được tiến hành có tính đến sự cần thiếtphải tạo cho tất cả các quốc gia thành viên có được khả năng để tham gia tốtnhất vào các hoạt động trong Vùng và sự cần thiết tránh độc quyền hóa các hoạtđộng này không phụ thuộc vào chế độ kinh tế và xã hội của các quốc gia đó hayvị trí địa lý của họ nhằm đảm bảo không có sự phân biệt đối xử với bất cứ quốcgia hay chế độ nào.

6. Mỗi khi trong hiện tình khai thác, có khu vực được dànhriêng hơn khu vực không dành riêng, thì các đơn xin phép liên quan đến các khuvực dành riêng được ưu tiên.

7. Cơ quan quyền lực ra các quyết định nói ở điều này càngsớm, càng tốt, sau khi kết thúc mỗi thời kỳ.

ĐIỀU 8. Việc dành riêng các khu vực

Mỗi đơn yêu cầu, không phải là các đơn yêu cầu của các Xínghiệp hay của cả các thực thể hay cá nhân khác và về các khu vực dành riêng,cần phải bao gồm một khu vực, không nhất thiết phải liền một mạch, có tổng diệntích và một giá trị thương mại ước tính đủ để cho phép tiến hành hai hoạt độngkhai thác mỏ. Người yêu cầu chỉ rõ các tọa độ cho phép chia khu vực làm haiphần có giá trị thương mại ước tính bằng nhau và thông báo tất cả các số liệumà mình thu được đối với hai phần của khu vực. Không phương hại đến các quyềnhạn của Cơ quan quyền lực có liên quan đến các khối đa kim và các kim loạitrong khối đó. Trong vòng 45 ngày tiếp sau khi nhận được các số liệu này, Cơquan quyền lực sẽ tiến hành thông qua Xí nghiệp hay hợp tác với các quốc gaiđang phát triển. Sự chỉ định này có thể kéo dài thêm 45 ngày nữa, nếu Cơ quanquyền lực trao cho một chuyên gia độc lập xác định xem tất cả các số liệu mà điềunày đòi hỏi có được thông báo cho Cơ quan quyền lực không. Khu vực được chỉđịnh trở thành một khu vực được dành riêng ngay khi kế hoạch làm việc liên quanđến khu vực không được dành riêng được chuẩn y và hợp đồng được ký kết.

ĐIỀU 9. Các hoạt động được tiến hành trong khu vực được dànhriêng

1. Xí nghiệp được quyền quyết định có tự mình tiến hành cáchoạt động trong mỗi khu vực dành riêng hay không. Quyết định này có thể đượcđưa ra bất kỳ thời điểm nào, trừ khi Cơ quan quyền lực nhận được một thông báotheo đúng khoản 4, trong trường hợp này, xí nghiệp phải ra quyết định trong mộtthời hạn hợp lý. Xí nghiệp có thể quyết định tiến hành khai thác các khu vựcnày , với danh nghĩa của các xí nghiệp liên doanh với quốc gia hoặc thực thểhay cá nhân hữu quan.

2. Xí nghiệp có thể ký kết các hợp đồng để thi hành một phầncác hoạt động của mình theo đúng Điều 12 của Phụ lục IV. Để tiến hành các hoạtđộng này, xí nghiệp cũng có thể hợp tác trong các xí nghiệp liên doanh với bấtkỳ thực thể hay cá nhân nào có tư cách tiến hành các hoạt động trong Vùng theoĐiều 153, khoản 2, điểm b. Khi dự tính đến các xí nghiệp liên doanh thuộc loạinày, xí nghiệp tạo cho các quốc gia thành viên là những quốc gia đang pháttriển, cũng như các công dân của các quốc gia này có được khả năng tham giathực sự.

3. Trong các quy tắc, quy định và thủ tục của mình, cơ quanquyền lực có thể quy định các điều kiện về nội dung và về thủ tục điều chỉnhcác hợp đồng và xí nghiệp liên doanh kể trên.

4. Bất kỳ quốc gia thành viên nào là quốc gia đang pháttriển, hoặc bất kỳ tự nhiên nhân hay pháp nhân nào do quôc gia này bảo trợ vàdo quốc gia này hay một quốc gia đang phát triển khác kiểm soát thật sự, là mộtngười yêu cầu có tư cách, hoặc mọi nhóm của các loại nói trên, đều có thể thôngbáo cho cơ quan quyền lực ý muốn của mình đưa ra một kế hoạch làm việc đối vớikhu vực được dành riêng theo Điều 6 của Phụ lục này. Kế hoạch làm việc được xemxét, nếu xí nghiệp quyết định theo khoản 1, không tiến hành hoạt động trong khuvực này.

ĐIỀU 10. Ưu đãi và ưu tiên dành cho một số yêu cầu

Khi mà theo điều 3, khoản 4, điểm c của phụ lục này, một kếhoạch làm việc đã được chuẩn y chỉ để thăm dò, thì người đưa ra kế hoạch đó sẽđược ưu tiên ưu đãi hơn so nới các người yêu cầu khác, nếu người yêu cầu ấy đưara một kế hoạch làm việc về vấn đề khai thác cùng khu vực đó đối với cùng nhữngtài nguyên ấy. Tuy nhiên, quyền ưu tiên, ưu đãi thuộc loại này có thể bị rúttrong trường hợp mà người khai thác nói trên, đã không thực hiện tốt kế hoạchlàm việc.

ĐIỀU 11. Các thỏa thuận liên doanh

1. Các hợp đồng có thể trù định các thảo thuận liên doanhgiữa người ký kết và cơ quan quyền lực, hoạt động thông qua xí nghiệp, dưới hìnhthức xí nghiệp liên doanh hay chia sản lượng, cũng như mọi hình thức thỏa thuậnliên doanh khác: các thỏa thuận này cũng được hưởng sự bảo hộ về vấn đề sửađổi, đình chỉ hay hủy bỏ như các hợp đồng ký kết với cơ quan quyền lực.

2. Những người ký kết hợp đồng đã ký với xí nghiệp các thỏathuận liên doanh như vậy, có thể được hưởng những kích thích về tài chính đượctrù định trong Điều 13 của phụ lục này.

3. Các bên cùng hợp tác với xí nghiệp trong một xí nghiệpliên doanh phải đóng góp như đã quy định ở Điều 13 của phụ lục này theo prorata( tỷ lệ) tham gia của họ vào xí nghiệp liên doanh, có tính đến các kích thíchvề tài chính được trù định trong điều này.

ĐIỀU 12. Các hoạt động do xí nghiệp tiến hành

1. Các hoạt động do Xí nghiệp tiến hành trong vùng theo Điều153, khoản 2, điểm a do Phần XI, các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quanquyền lực điều chỉnh.

2. Mọi kế hoạch làm việc do xí nghiệp đề nghị cần phải có cáctài liệu chứng minh khả năng tài chính và kỷ luật của kế hoạch đó.

ĐIỀU 13. Các điều khoản tài chính của các hợp đồng

1. Khi thông qua các quy tắc, quy định và thủ tục liên quanđến các điều khoản tài chính của các hợp đồng giữa cơ quan quyền lực và cácthực thể hay cá nhân đã nêu ở Điều 153, khoản 2, điểm b và khi thương lượng cácđiều khoản tài chính của một hợp đồng như thế theo đúng Phần XI và các quy tắc,quy định và thủ tục đó, cơ quan quyền lực nhằm các mục tiêu sau đây:

a) Bảo đảm mức thu nhập tối đa tự việc sản xuất hàng hóa;

b) Bảo đảm sao cho các khoản vốn đầu tư và các kỹ thuậtthích hợp được dành cho việc thăm dò và khai thác các tài nguyên của vùng;

c) Bảo đảm sao cho các người ký kết được đối xử bình đẳng vềmặt tài chính và có những nghĩa vụ tài chính tương đương;

d) Cung cấp các kích thích trên cơ sở đồng đều và không phânbiệt đối xử để khuyến khích các người ký kết hợp đồng ký các thỏa thuận liêndoanh với xí nghiệp và các quốc gia đang phát triển hay các công dân của quốcgia này, động viên việc chuyển giao các kỹ thuật cho xí nghiệp, cho các quốcgia đang phát triển hay cho các công dân của quốc gia này và đào tạo nhân viêncủa cơ quan quyền lực và của các quốc gia đang phát triển;

e) Cho phép xí nghiệp tiến hành khai thác các tài nguyênđồng thời với các thực thể hay cá nhân nói ở điều 153, khoản 2, điểm b;

f) Tránh tình trạng do những kích thích tài chính dành chonhững người ký kết hợp đồng theo khoản 14 hay theo các điều khoản của hợp đồngđã được xét lại theo đúng Điều 19 của phụ lục này, hoặc còn theo Điều 11 củacùng phụ lục này liên quan đến các xí nghiệp liên doanh mà các người ký kết hợpđồng được trợ cấp đến mức họ có được lợi thế một cách giả tạo trong cuộc cạnhtranh với những người khai thác các vỉa quặng ở đất liền.

2. Thu một khoản lệ phí là 500.000 đô la Mỹ theo một đơn yêucầu để đảm bảo các khoản chi hành chính có liên quan đến việc nghiên cứu cácđơn yêu cầu chấp thuân các kế hoạch làm việc dưới hình thức hợp đồng. Số tiềncủa khoản lệ phí được hội đồng xét lại từng thời kỳ, để bảo đảm được các khoảnchi hành chính cần thiết. Nếu các khoản chi của cơ quan quyền lực để nghiên cứumột đơn yêu cầu thấp hơn số tiền đã ấn định, thì cơ quan quyền lực hoàn lạikhoản chênh lệch cho người yêu cầu.

3. Bên ký kết hợp đồng nộp một khoản thuế hằng năm cố định làm1.000.000 đô la Mỹ kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Nếu thời gian đã được chuẩny để bắt đầu việc sản xuất hàng hóa bị lùi lại do co sự chậm trễ trong việc cấpphát giấy phép sản xuất theo đúng Điều 151, thì bên ký kết được miễn một phầnkhoản thuế hằng năm cố định tương đương với thời hạn kéo dài. Ngay khi bắt đầusản xuất hàng hóa, người ký kết hợp đồng phải nộp hoặc khoản tiền thuế đánh trênsản lượng hoặc khoản thuế hàng năm cố định, nếu khoản thuế này cao hơn.

4. Trong thời hạn một năm kể từ khi bắt đầu việc sản xuấthàng hóa, theo đúng khoản 3, người ký kết hợp đồng lựa chọn các hành thức sauđây để đóng góp tài chính cho cơ quan quyền lực:

a) Hoặc chỉ nộp một khoản tiền thuế đánh trên sản lượng;

b) Hoặc chỉ nộp một khoản tiền thuế đánh trên sản lượng vànộp một phần các thu nhập thuần túy của mình.

5. a) Nếu bên ký kết lựa chọn viêc đóng góp tài chính của mìnhcho cơ quan quyền lực bằng cách chỉ nộp một khoản tiền thuế đánh trên sảnlượng, thì số tiền thuế này được tính bằng một tỉ lệ phần trăn giá trị hành hóacủa các kim loại tinh chế từ các khối đa kim được khai thác trong khu vực nóitrong hợp đồng, tỷ lệ phần trăm được quy định như sau:

i. 5% từ năm sản xuất hàng hóa thứ nhất đến năm thứ mười;

ii. 12% từ năm sản xuất thứ mười một đến khi kết thúc thờikỳ sản xuất hàng hóa.

b) Giá trị hàng hóa của các kim loại tinh chế được tính toánbằng cách nhân số lượng kim loại tinh chế từ các khối đa kim được khai tháctrong khu vực nói trong hợp đồng với giá trung bình của các kim loại này trongtài khóa được xem xét, được xác định theo đúng các khoản 7 và 8.

6. Nếu bên ký kết chọn việc đóng góp tài chính cho cơ quanquyền lực bằng cách nộp một khoản tiền thuế đánh trên sản lượng và nộp một phầnthu nhập thuần túy của mình, thì tổng số tiền của những khoản đóng góp này đượcxác định như sau:

i. 2% cho thời kỳ sản xuất hàng hóa đầu tiên. ii. 4% chothời kỳ sản xuất hàng hóa thứ hai.

Trong thời kỳ sản xuất hàng hóa thứ hai, như đã xác định ởđiểm d, nếu hiệu suất đầu tư trong một tài khóa nào đó, theo định nghĩa ghi ởđiểm m, dưới 15%, do phải nộp khoản tiền thuế đánh trên sản lượng với tỷ lệ 4%,thì tỷ lệ tiền thuế đánh trên sản lượng được ấn định là 2% trong tài khóa này;

b) Giá trị hàng hóa của các kim loại tinh chế được tính toánbằng cách nhân số lượng kim loại tinh chế từ các khối đa kim được khai tháctrong khu vực nói trong hợp đồng với giá trung bình của các kim loại này, đượcxác định trong tài khóa được xem xét, theo đúng các khoản 7 và 8;

c) i. Phần các thu nhập thuộc về cơ quan quyền lực đượctrích trong phần thu nhập thuần túy của người ký kết hợp đồng có thể khấu trừvào các hoạt động khai thác tài nguyên của khu vực theo hợp đồng; sau đây gọilà thu nhập thuần túy có thể khấu vào;

ii. Phần thu nhập thuần túy có thể khấu vào thuộc về cơ quanquyền lực được xác định theo barem lũy tiến sau:

Phần thu nhập thuần túy có thể khấu vào

Phần thu nhập thuần túy có thể khấu vào thuộc về Cơ quan quyền lực

Thời kì sản xuất hàn hóa thứ nhât

Thời kì sản xuất hàn hóa thứ hai

Phần trích trong trường hợp hiệu quả vốn đầu tư cao hơn 0% nhưng dưới 10%

35%

40%

Phần trích trong trường hợp hiệu quả vốn đầu tư bằng hoặc cao hơn 10% nhưng dưới 20%

42.5%

50%

Phần trích trong trường hợp hiệu quả vốn đầu tư bằng hoặc cao hơn 20%

50%

70%

d) i. Thời kì sản xuất hàng hóa đầu tiên nói ở các điểm a vàc bắt đầu vào tài khóa đầu tiên của thời kì sản xuất hàng hóa và kết thúc vàotài khóa khi mà các chi phí phục vụ khai thác (despeenses de mise en valeur)của người kí kết hợp đồng đã được điều chỉnh, có tính đến khoản tiền lãi thuộcphần chưa khấu hao của các khoản chi phí trước đây, được khấu hao hoàn toàn nhờvào số dư thực tế như được nói rõ sau đây: đối với tài khóa đầu tiên phát sinh racác khoản chi phí phục vụ khai thác, những khoản chi phí phục vụ khai tháckhông được khấu hao là những khoản chi phí phục vụ khai thác đã khấu trừ đi sốdư thực tế trong tài khóa được xem xét. Đối với mỗi tài khóa tiếp sau, cáckhoản chi phí phục vụ khai thác không được khấu hao, được tính bằng cách cộngthêm vào các khoản chi phí phục vụ khai thác không được khấu hao cuối tài khóatrước, cùng với một tài khoản lãi hàng năm là 10%, các khoản chi phí phục vụkhai thác trong tài khóa hiện hành và bằng cách lấy tổng số tiền này trừ đi sốdư thực tế của người kí kết hợp đồng cho tài khóa đó. Tài khóa mà các chi phíphục vụ khai thác cộng thêm tiền lãi thuộc phần không được khấu hao của cáckhoản chi phí này, được khấu hao hoàn toàn là tài khóa đầu tiên mà các chi phíphục vụ khai thác bằng không; số dư thực tế của người kí kết hợp đồng đối vớimọi tài khóa là tổng thu nhập của họ trừ đi các phí tổn về khai thác và cáckhoản phải nộp cho cơ quan quyền lực theo đúng điểm c.

ii. Thời kì sản xuất hàng hóa thứ hai bắt đầu vào tài khóađược tính từ khi kết thức thời kì thứ nhất và kéo dài cho đến khi kết thúc hợpđồng;

e) Thuật ngữ “thu nhập thuần túy có thể khấu vào” (recettesnettes imputables) nghĩa là các thu nhập thuần túy của người kí kết hợp đồngnhân với tỉ số giữa các khoản chi phí phục vụ khai thác gắn với việc khai thác khoángsản và tổng số các chi phí phục vụ khai thác của người kí kết hợp đồng. Khi màcác hoạt động của người kí kết hợp đồng nhằm vào việc khai thác và vận chuyểncác khối đa kim, cũng như vào việc sản xuất hàng hóa, chủ yếu là ba kim loạitinh chất như coban, đồng, kền, thì số tiền thu nhập thuần túy có thể khấu vàocủa người kí kết hợp đồng không thể dưới 25% thu nhập thuần túy của người đó. Vớiđiều kiện phải tuần thủ các thể thức đã nêu ở điểm n, trong tất cả các trườnghợp khác, kể cả trường hợp mà các hoạt động của người kí kết hợp đồng nhằm vàoviệc khai thác, vận chuyển các khối đa kim và vào việc sản xuất hàng hóa bốn kimloại tinh chế như coban, đồng, mangan và kền, cơ quan quyền lực có thể định ratrong các quy tắc, quy định và thủ tục của mình các tỉ lệ tối thiểu thích hợpbằng cách áp dụng cũng các công thức tỉ lệ như khi ấn định tỉ lệ tối thiểu 25%được quy định trong trường hợp của ba kim loại;

f) Thuật ngữ “các thu nhập thuần túy của người kí kết hợpđồng” là tổng thu nhập của người kí kết hợp đồng, đã trừ các phí tổn vềkhai thác và khoản dùng để khấu hao các chi phí phục vụ khai thác của người đótheo các thể thức đã được trù định ở điểm j;

g) i. Nếu các hoạt động của người kí kết hợp đồng nhằm vàoviệc khai thác, vận chuyển các khối đa kim và sản xuất hàng hóa các kim loạitinh thể, thuật ngữ “tổng thu nhập của người ký kết hợp đồng” là tổng sốtiền thu nhập bán các kim loại tinh chế và mọi khoản thu khác được coi như cóthể tính một cách hợp lý vào các nghiệp vụ đươc thực hiện theo hợp đồng, theođúng các quy tắc, quy định và thử tục tài chính của cơ quan quyền lực;

ii. Trong tất cả các trường hợp, ngoài những trường hợp đãnói rõ ở điểm g,i và điểm n,iii, thuật ngữ “tổng thu nhập của người kí kết hợpđồng” là tổng số tiền thu nhập của việc bán các kim loại sơ chế từ khối đa kimkhai thác trong khu vực nói trong hợp đồng và tất cả các khoản thu khác đượccoi như có thể tính một cách hợp lý vào các nghiệp vụ thực hiện theo hợp đồng,theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục tài chính của cơ quan quyền lực;

h) Thuật ngữ “chi phí phục vụ khai thác của người kí kếthợp đồng” nghĩa là:

i. Tất cả các khoản chi trước khi bắt đầu việc sản xuất hànghóa, trực tiếp gắn với sự phát triển khả năng sản xuất của khu vực nói tronghợp đồng và với các hoạt động có liên quan, dưới danh nghĩa các nghiệp vụ trùđịnh trong hợp đồng trong mọi trường hợp khác, ngoài những trường hợp được địnhrõ ở điểm n, theo đúng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung, bao gồm cảnhững chi phí về thiết bị, mua sắm công cụ, tàu thuyền, thiết bị chế biến, cácchi phí liên quan đến các công trình xây dựng, mua sắm nhà cửa, đất đai và tấtcả các chi phí liên quan đến việc xây dựng đường sá, thăm dò và khảo sát khuvực nói trong hợp đồng, đến việc nghiên cứu – phát triển, đến tiền lãi, tiềnthuê bất thường, các giấy phép, các khoản tiền thuế; và

ii. Các chi phí giống như chi phí đã nêu ở điểm n,i thựchiện sau khi bắt đầu việc sản xuất hàng hóa để có thể thực hiện kế hoạch làmviệc, không tính đến các khoản thuộc về phí tổn khai thác;

i) Các khoản thu từ việc chuyển nhượng các trang thiết bị vàgiá trị hàng hóa của các trang thiết bị không còn cần thiết nữa đối với cácnghiệp vụ được trù định trong hợp đồng mà không đem bán, được trù khỏi các chiphí phục vụ khai thác của người kí kết hợp đồng trong tài khóa được xem xét. Khicác khoản phải trừ này vượt quá số tiền chi phí phục vụ khai thác, thì số dưđược cộng thêm vào tổng thu nhập;

j) Các chi phí phục vụ khai thác của người kí kết hợp đồngtrước khi bắt đầu sản xuất hàng hóa nói ở điểm h,i. và điểm n,i. hàng năm đượckhấu trừ làm mười đợt bằng nhau kể từ ngày bắt đầu sản xuất hàng hóa. Các chiphí phục vụ khai thác của người kí kết hợp đồng nói ở điểm h,ii và điểm n,ivsau khi bắt đầu sản xuất hàng hóa, hàng năm được khấu trừ thành mười đợt bằngnhau hay bằng một số đợt bằng nhau hàng năm ít hơn, sao cho các chi phí nàyhoàn toàn được khấu trừ khi hợp đồng hết hạn;

k) Thuật ngữ “phí tổn khai thác của người kí kết hợp đồng”nghĩa là tất cả các khoản chi phí đã phát sinh sau khí bắt đầu việc sản xuấthàng hóa để khai thác khả năng sản xuất theo khu vực theo hợp đồng và chi chocác hoạt động có liên quan theo danh nghĩa các nghiệp vụ được trù định tronghợp đồng, theo đúng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung, nhất là kể cảkhoản tiền thuế đánh trên sản lượng hay khoản tiền thuế cố định hàng năm, nếukhoản tiền thuế này cao hơn, các chi phí liên quan đến tiền lương, tiền công vàcác khoản phụ cấp liên quan, các công cụ, dịch vụ, vận tải, chế biết và tiêuthụ, tiền lãi, công trình công cộng, việc giữ gìn môi trường biển, đến chi phíquản lý chung và chi phí hành chính trực tiếp gắn liền với các nghiệp vụ đượctrù định trong hợp đồng, cũng như bất kì thiếu hụt nào trong việc khai thácđược chuyển sổ theo một trong hai hướng sau đây: Sự thiếu hụt trong việc khaithác có thể được chuyển sổ hai lần liên tiếp, từ tài khóa này sang tài khóakhác, trừ hai năm cuối cùng của hợp đồng, thì có thể được chuyển trở lại vào haitài khóa trước đó;

l) Nếu người kí kết hợp đồng bảo đảm chủ yếu việc khai thác,vận chuyển các khối đa kim và sản xuất hàng hóa các kim loại đã tinh chế và sơchế thì thuật ngữ “chi phí phục vụ khai thác gắn với việc khai thác khoángsản” nghĩa là phần chi phí phục vụ khai thác của người kí kết hợp đồng trựctiếp gắn với việc khai thác các tài nguyên của khu vực nói trong hợp đồng, theođúng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung và các quy tắc quản lý tàichính, cũng như các quy tắc, quy định và thủ tục tài chính của cơ quan quyềnlực, kể cả số lệ phí phải nộp cho việc nghiên cứu đơn xin ký hợp đồng, số tiềnthuế cố định hàng năm và, nếu có, cả các chi phí đã phát sinh về khảo sát vàthăm dò khu vực nói trong hợp đồng, và một phần của các chi phí nghiên cứu –phát triển;

m) Thuật ngữ “hiệu suất vốn đầu tư” đối với một tàikhóa nào đó, là tỉ số giữa thu nhập thuần túy có thể khấu vào của tài khóa nàyvà các chi phí phục vụ khai thác gắn liền với việc khai thác khoáng sản. Trongviệc tính toán tỉ số này, các chi phí phục vụ khai thác gắn liền với việc khaithác khoáng sản là các chi phí được dùng để mua sắm công cụ mới hay để thay thếcông cụ được sử dụng vào các hoạt động khai thác khoáng sản, đã trừ đi giá banđầu của công cụ được thay thế;

n) Nếu người kí kết hợp đồng chỉ khai thác khoáng sản thì:

i. Thuật ngữ “thu nhập thuần túy có thể khấu vào” có nghĩalà tổng thu nhập thuần túy của người kí kết hợp đồng;

ii. Thuật ngữ “thu nhập thuần túy của người kí kết hợp đồng”có nghĩa như đã được ghi trong điểm f;

iii. Thuật ngữ “tổng thu nhập của người kí kết hợp đồng” cónghĩa là toàn bộ thu nhập bán các khối đa kim và tất cả các khoản thu khác đượccoi như có thể tính một cách hợp lý vào các nghiệp vụ được thực hiện theo danhnghĩa của hợp đồng, theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục tài chính của cơquan quyền lực;

iv. Thuật ngữ “chi phí phục vụ khai thác của người kí kếthợp đồng” có nghĩa là tất cả các chi phí đã phát sinh trước khi bắt đầu việcsản xuất hàng hóa như đã được chỉ rõ tại điểm h,i. và tất cả các chi phí đãphát sinh sau khi bắt đầu sản xuất hàng hóa như đã được chỉ rõ ở điểm h,ii.;những chi phí này trực tiếp gắn với việc khai thác các tài nguyên của khu vựcnói trong hợp đồng được tính toán theo đúng các quy tắc kế toán được chấp nhậnchung;

v. Thuật ngữ “phí tổn khai thác của người kí kết hợp đồng” cónghĩa là những tổn phí khai thác của người kí kết hợp đồng đã được nêu ở điểmk, trực tiếp gắn liền với việc khai thác các tài nguyên của khu vực nói tronghợp đồng được tính toán theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung;

vi. Thuật ngữ “hiệu suất vốn đầu tư” của một tài khóa nào đólà tỷ số giữa những khoản thu nhập thuần túy tài khóa này và những chi phí phụcvụ khai thác của người kí kết hợp đồng. Trong việc tính tỉ số này, các chi phíphục vụ khai thác là các chi phí đã phát sinh về mua sắm công vụ mới hay vềthay thế công cụ, đã trừ đi giá ban đầu của công cụ được thay thế;

o) Việc hoàn thành các chi phí liên quan đến việc chi trảlãi của người kí kết hợp đồng đã nói ở các điểm h, k, l và n được phép thựchiện trong phạm vi mà ở mọi trường hợp, Cơ quan quyền lực, theo đúng Điều 4,khoản 1 của Phụ lục này, thừa nhận rằng tỉ số giữa vốn công ty và nợ cũng nhưcác lãi suất là hợp lý, có tính đến các thủ tục thương mại hiện hành;

p) Các chi phí đã nói trong đoạn này không bao gồm các móntiền đã trả dưới danh nghĩa thuế đánh vào các công ty hay các lệ phí tương tự,do các quốc gia thu vào các nghiệp vụ của người kí hợp đồng.

7. a) Thuật ngữ “kim loại tinh chế” đã được dùng ở khoản 5và khoản 6 có nghĩa là những kim loại ở dưới dạng thông dụng nhất thường đượctrao đổi trên thị trường quốc tế cuối cùng. Để thực hiện điểm này, cơ quanquyền lực phải chỉ rõ trong các quy tắc, quy định và thủ tục tài chính các thịtrường quốc tế cuối cùng thích hợp. Đối với các kim loại không được trao đổitrên các thị trường quốc tế này, thì thuật ngữ “kim loại tinh chế” có nghĩa lànhững kim loại dưới dạng thông dụng nhất thường được trao đổi trong khuôn khổcác giao dịch thông thường phù hợp với các nguyên tắc kinh doanh độc lập.

b) Nếu Cơ quan quyền lực không thể xác định bằng một cáchnào khác số lượng kim loại tinh chế được sản xuất ra từ những khối đa kim khaithác trong khu vực theo hợp đồng nói ở khoản 5, điểm b và ở khoản 6, điểm b thìsố lượng này được xác định theo hàm lượng kim loại của các khối đó theo tỉ suấtthu hồi sau khi đã tinh chế và các yếu tố thích hợp khác, theo đúng các quytắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực và các nguyên tắc kế toán đượcthừa nhận chung.

8. Nếu một thị trường quốc tế cuối cùng đưa ra một cơ chếthích đáng để định giá các kim loại đã được tinh chế, các khối đa kim và cáckim loại sơ chế từ các khối quặng, thì Cơ quan quyền lực sử dụng giá trung bìnhở trên thị trường này. Trong tất cả các trường hợp khác, Cơ quan quyền lực, saukhi tham khảo ý kiến của người kí kết hợp đồng, định ra một giá công bằng cho nhữngsản phẩm này theo đúng khoản 9.

9. a) Tất cả mọi phí tổn, mọi khoản chi, khoản thu, cũng nhưmọi giá cả và giá trị nói ở điều này được tính theo các giao dịch phù hợp vớinhững nguyên tắc ở thị trường tự do hoặc kinh doanh độc lập. Nếu không như vậy,thì Cơ quan quyền lực sẽ xác định, sau khi đã tham khảo ý kiến của người kí kếthợp đồng, coi như trong các giao dịch phù hợp với các nguyên tắc của thị trườngtự do hoặc kinh doanh, có tính đến các giao dịch tương ứng ở trên các thịtrường khác;

b) Để bảo đảm việc áp dụng và tôn trọng khoản này, Cơ quanquyền lực dựa theo các nguyên tắc đã được thông quan và dựa vào việc giải thíchđối với các giao dịch phù hợp với nguyên tắc kinh doanh độc lập của Ủy bảnthuộc Liên hợp quốc về các xí nghiệp xuyên quốc gia (tranonationales) của nhómchuyên gia về các Công ước thuế khóa giữa các nước phát triển và các nước đangphát triển và của các tổ chức quốc tế khác, và Cơ quan quyền lực quy định trongcác quy tắc, quy định và các thủ tục khác các quy tắc và thủ tục kế toán thốngnhất, có thể chấp nhận được trong phạm vi quốc tế, cũng như các phương pháp mà ngườikí kết hợp đồng sẽ phải áp dụng để lựa chọn các chuyên gia kế toán độc lập đẻcó thể được Cơ quan quyền lực chấp nhân, để kiểm tra các tài khoản theo đúngcác nguyên tắc, quy định và thủ tục này.

10. Người kí kết hợp đồng cung cấp cho các chuyên gia kếtoán theo đúng các nguyên tắc, quy định và thủ tục tài chính của Cơ quan quyềnlực, những số liệu tài chính cần thiết cho phép xác minh rằng điều này đã đượctôn trọng.

11. Tất cả mọi phí tổn, mọi khoản chi, khoản thu cũng nhưmọi giá cả và giá trị đã được nêu ở điều này, được xác định theo đúng cácnguyên tắc kế toán được chấp nhận chung, các quy tắc, quy định, thủ tục tàichính của Cơ quan quyền lực.

12. Những số tiền phải nộp cho Cơ quan quyền lực theo cáckhoản 5 và 6 phải được thanh toán bằng đồng tiền có thể sử dụng tự do hay bằngcác đồng tiền được chuyển đổi tự do và đang được sử dụng trên những thị trườnghối đoái chính hay, theo sự lựa chọn của người kí kết hợp đồng, dưới hình thứctương đương bằng kim loại đã tinh chế, được tính trên cơ sở của giá trị hànghóa.

Giá trị hàng hóa được xác định theo đúng khoản 5, điểm b,những đồng tiến có thể sử dụng tự do và những đồng tiền mà người ta có thểchuyển đổi tự do và đang sử dụng trên các thị trường hối đoái chính được xácđịnh trong các quy tắc, quy định, thủ tục của Cơ quan quyền lực theo đúng cáctập quán tiền tệ quốc tế thông dụng.

13. Tất cả các nghĩa vụ tài chính của người kí kết hợp đồng đốivới Cơ quan quyền lực, cũng như tất cả các khoản tiền phải nộp, phí tổn, chiphí, thu nhập nói ở điều này được điều chỉnh bằng giá trị không đổi, lấy theomột năm quy chiếu.

14. Nhằm phục vụ các mục tiêu đã nêu ở khoản 1, dựa theo cáckiến nghị của Ủy ban kế hoạch hóa kinh tế và của Ủy ban Pháp lý và kĩ thuật, Cơquan quyền lực có thể thông qua các quy tắc, quy định và thủ tục trú định việcdành cho các bên kí kết hợp đồng những kích thích trên một cơ sở thống nhất vàkhông phân biệt đối xử.

15. Khi có tranh chấp giữa Cơ quan quyển lực và một bên kíkết hợp đồng có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các điều khoản tàichính cảu một hợp đồng, bên này hay bên kia có thể đưa vụ tranh chấp ra một trọngtài thương mại có quyền lực bắt buộc, trừ khi hai bên thỏa thuận giải quyếttranh chấp bằng các phương pháp khác, theo đúng Điều 188, khoản 2.

ĐIỀU 14. Việc thông báo các số liệu

Theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyềnlực và tùy theo các điều kiện, thể thức của kế hoạch làm việc, người khai thácthông báo cho cơ quan quyền lực, theo những khoảng thời gian do cơ quan quyềnlực quy định, tất cả các số liệu vừa cần thiết, vừa thích hợp, nhằm để cho cáccơ quan chính của cơ quan quyền lực thi hành có hiệu quả các quyền hạn và chứcnăng của họ có liên quan đến khu vực mà kế hoạch làm việc nhắm vào.

Các số liệu được thông báo về khu vực mà kế hoạch làm việcnhằm vào và được coi là sở hữu công nghiệp chỉ có thể được sử dụng vào các mụcđích nói trong điều này. Các số liệu cần thiết cho cơ quan quyền lực trong việcsoạn thảo các quy tắc, quy định và thủ tục liên quan đến việc bảo vệ môi trườngbiển và đến sự an toàn, ngoài các số liệu liên quan đến kiểu trang thiết bị,thì không được coi là sở hữu công nghiệp.

Cơ quan quyền lực không được thông báo cho xí nghiệp hay bấtkì ai ở bên ngoài cơ quan quyền lực các số liệu mà những người thăm dò, nhữngngười yêu cầu kí hợp đồng và những người kí kết hợp đồng cung cấp cho cơ quanquyền lực và được coi là sở hữu công nghiệp, nhưng những số liệu liên quan đếnkhu vực dành riền có thể được thông báo cho xí nghiệp. Xí nghiệp không đượcthông báo cho cơ quan quyền lực hay cho bất kì ai ở bên ngoài cơ quan quyền lựccác số liệu cùng loại đó đã được cung cấp cho xí nghiệp theo cách nói trên.

ĐIỀU 15. Các chương trình đào tạo

Người kí kết hợp đồng vạch ra các chương trình thực tiễn đàotạo nhân viên của cơ quan quyền lực và của các quốc gia đang phát triển, nhấtlà trù định sự tham gia của các nhân viên nói trên vào tất cả các hoạt độngtiến hành trong vùng thuộc đối tượng của hợp đồng, theo đúng Điều 144, khoản 2.

ĐIỀU 16. Độc quyền về thăm dò và khai thác

Cơ quan quyền lực, theo Phần XI và các quy tắc, quy định vàthủ tục của mình cho người khai thác đặc quyền thăm dò, khai thác một loại tài nguyênnhất định trong khu vực và kế hoạch làm việc nhằm vào và luôn luôn chú ý đểkhông cho một thực thể hay một cá nhân nào khác tiến hành trong cùng khu vựcnói trên, các hoạt động nhằm vào một loại tài nguyên khác, một cách có thể gâytrở ngại cho các hoạt động cho người khai thác. Người khai thác được bảo đảmdanh nghĩa theo đúng Điểm 153, khoản 6.

ĐIỀU 17. Quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực

1. Cơ quan quyền lực thông qua và áp dụng một cách thốngnhất các quy định, quy tắc và thủ tục theo Điều 160, khoản 2, điểm f,ii và Điều162, khoản 2, điểm o,ii để thi hành các chức trách của mình như đã được nêu ởphần XI, nhất là về các vấn đề sau:

a. Các thủ tục hành chánh liên quan đến việc khảo sát, thămdò và khai thác trong vùng;

b. Các nghiệp vụ;

i. Diện tích của khu vực;

ii. Thời hạn của các nghiệp vụ

iii. Các quy phạm hiệu lực, kế cả những bảo đảm đã được trùđịnh ở điều 4, khoản 6, điểm c của phụ lục này;

iv. Các loại tài nguyên;

v. Sự từ bỏ các khu vực;

vi. Các báo cáo về tiến trình của công việc;

vii. Thông báo các số liệu;

viii. Kiểm tra và kiểm soát các nghiệp vụ;

ix. Các biện pháp được thi hành để không làm cản trở đến cáchoạt động khác trong môi trường biển;

x. Việc một người kí kết hợp đồng chuyển nhượng các quyền vànghĩa vụ của mình;

xi. Các thủ tục liên quan đến việc chuyển giao các kĩ thuậtcho các quốc gia đang phát triển theo đúng Điều 144, cũng như đến việc tham giatrực tiếp của các quốc gia này;

xii. Quy phạm và tập quán khai thác khoáng sản, kể cả nhữngquy phạm và tập quán có quan hệ đến an toàn của các nghiệp vụ, đến việc bảo tồncác tài nguyên và việc bảo vệ môi trường biển;

xiii. Xác định việc sản xuất hàng hóa;

xiv. Các tiêu chuẩn về tư cách của các người yêu cầu.

c. Những vấn đề tài chính:

i. Soạn thảo các quy tắc thống nhất và không phân biệt đốixử về việc tính toán giá cả và về kế toán và biện pháp lực chọn các nhân viênkiểm tra;

ii. Phân chia các khoản thu được từ các nghiệp vụ;

iii. Các kích thích nêu ở điều 13 của khu vực này;

d. Thi hành các quyết định theo Điều 151, khoản 10 và Điều164, khoản 2, điểm d;

2. Các quy tắc, quy định và thủ tục liên quan đến những vấnđề sau đây cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn khách quan được nêu dưới đây:

a. Diện tích của khu vực:

Cơ quan quyền lực quy định diện tích của các khu vực thăm dòcó thể đến mức lớn gấp đôi diện tích các khu vực khai thác, để cho việc thăm dòcó hiệu suất hơn. Diện tích các khu vực khai thác được tính toán để đáp ứngđược các đòi hỏi của Điều 8 của phụ lục này, liên quan đến việc dành riêng cáckhu vực, cũng như đáp ứng các đòi hỏi về sản xuất đã được trù định; các đòi hỏinày phải phù hợp với điều 151 và các điều khoản của hợp đồng, có tính đến tìnhtrạng các kĩ thuật sẵn có trong lĩnh vực khai thác khoáng sản ở đáy biển và cácđặc điểm tự nhiên thích đáng của khu vực. Diện tích của các khu vực không thểnhỏ hơn hay lớn hơn diện tích cần thiết để đáp ứng mục tiêu này.

b. Thời gian của các nghiệp vụ:

i. Thời gian khảo sát là không giới hạn;

ii. Thời gian của giai đoạn thăm dò phải đủ để cho phép tiếnhành công tác nghiên cứu kĩ càng đối với khu vực được nhắm đến, công tác nghiêncứu và xây dựng phương tiện khai thác đối với khu vực này, việc lập các kếhoạch, việc xây dựng các nhà máy chế biến có công suất nhỏ và vừa để tiến hànhviệc thử các hệ thong khai thác và chế biến kim loại.

iii. Thời gian khai thác phải tùy thuộc vào thời gian hoạtđộng kinh tế của dự án khai thác mỏ, có tính đến các yếu tố như: vỉa quặng bịcạn, tuổi thọ của phương tiện khai thác, các thiết bị chế biến và khả năng đứngvững về thương mại. Thời gian của giai đoạn khai thác phải đủ để cho phép tiếnhành việc khai thác hàng hóa các khoáng sản của khu vực và cần phải bao gồm mộtthời hạn hợp lý để xây dựng các thiết bị khai thác mỏ và chế biến trên quy môthương mại, thời hạn mà trong đó chưa thể đòi hỏi bất cứ một sự sản xuất hànghóa nào. Tuy nhiên, toàn bộ thời gian khai thác cũng cần phải tương đối ngắn đểcho cơ quan quyền lực có thể sửa đổi các điều kiện và thể thức của kế hoạch làmviệc vào lúc mà cơ quan quyền lực nghiên cứu việc kí lại kế hoạch làm việc đó,theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục mà cơ quan quyền lực đã thông quasau khi đã chuẩn y kế hoạch làm việc;

c. Các quy phạm về hiệu lực:

Trong giai đoạn thăm dò, cơ quan quyền lực đòi hỏi ngườikhai thác phải tiến hành chỉ tiêu theo định kì tương ứng hợp lý với diện tíchkhu vực mà kế hoạch làm việc nhằm vào và với các khoản chi phí cần phải chi củamột người khai thác trung thực dự định tiến hành việc sản xuất hàng hóa ở khuvực đó, trong những thời hạn do cơ quan quyền lực ấn đinh. Không được ấn địnhnhững chi phí cần thiết trên đây ở mức độ gây nản lòng những người khai thác sửdụng những kĩ thuật rẻ tiền hơn các kĩ thuật thường dùng. Cơ quan quyền lực ấnđịnh một thời hạn tối đa để bắt đầu việc sản xuất hàng hóa, sau khi kết thúcgiai đoạn thăm dò và những hoạt động khai thác đầu tiên. Để xác định thời hạnnày, Cơ quan quyền lực cần tính đến tình hình là việc xây dựng các thiết bịkhai thác và chế biến quan trọng chỉ có thế được tiến hành khi giai đoạn thămdò đã kết thức và giai đoạn khai thác đã bắt đầu. Do đó, thời hạn được dành đểchuẩn bị bắt đầu sản xuất hàng hóa của một khu vực cần phải được ấn định cótính đến thời gian cần thiết để xây dựng các thiết bị này sau giai đoạn thămdò; hơn nữa, nên trù định các thời hạn hợp lý cho những chậm trễ không thểtránh được trong chương trình xây dựng. Một khi đã đạt tới gia đoạn sản xuấthàng hóa, cơ quan quyền lực yêu cầu người khai thác tiếp tục việc sản xuất hànghóa này trong suốt thời gian của kế hoạch làm việc mà vẫn ở trong phạm vi cácgiới hạn hợp lý và vẫn chú ý tới tất cả các yếu tố tương ứng.

d. Các loại tài nguyên

Để xác định các loại tài nguyên mà đối với chúng các kếhoạch làm việc có thể được chuẩn y, ngoài các yếu tố khác, cơ quan quyền lựcdựa vào các yếu tố sau đây:

i. Việc những tài nguyên khác nhau cần đến biện pháp khaithác giống nhau;

ii. Việc các tài nguyên khác nhau có thể được nhiều người khaithác đồng thời trong cùng một khu vực mà không gây quá nhiều trở ngại cho nhau;

Điều quy định này không cản trở cơ quan quyền lực chuẩn ymột kế hoạch làm việc đối với nhiều loại tài nguyên trong cùng khu vực;

e. Từ bỏ các khu vực:

Người khai thác vào bất kì lúc nào cũng có thể từ bỏ tất cảhay bộ phận các quyền của mình đối với khu vực do kế hoạch làm việc nhằm vào màkhông bị phạt;

f. Bảo vệ môi trường biển:

Các quy tắc, quy định và thủ tục được định ra nhằm bảo vệ cóhiệu quả môi trường biển, trước những tác hại trực tiếp nảy sinh từ các hoạtđộng tiến hành trong vùng, hay từ việc tinh chế các khoáng sản lấy được từ mộtđịa điểm khai thác trên một con tàu ở ngay trên địa điểm khai thác khoáng sảnđó, có tính đến mức độ trong đó các tác hại như thế có thể trực tiếp do các hoạtđộng khoan, nạo vét, khoan lấy lõi đất và đào, cũng như việc tháo đổ, nhận chìmvà vứt bỏ trong môi trường biển các chất cặn bã hay nước thải gây ra.

g. Sản xuất hàng hóa

Việc sản xuất hàng hóa được coi như đã bắt đầu khi một ngườikhai thác đã thực hiện các hoạt động khai thác liên tục và ở trên quy mô lớn,sản xuất được một số lượng vật phẩm quan trọng, đủ để chứng tỏ rõ rang mục tiêuchủ yếu của các hoạt động đó là một việc sản xuất trên quy mô lớn và không phảilà một việc sản xuất nhằm để thu thập thông tin, tiến hành các công việc phântích hay thử nghiệm các công cụ hay thiết bị

ĐIỀU 18. Phạt

Các quyền theo hợp đồng của người kí kết hợp đồng chỉ có thểbị đình chỉ hay chấm dứt trong các trường hợp sau:

Khi mà mặc dù đã có những lời cảnh cáo của cơ quan quyềnlực, người kí hợp đồng vẫn tiến hành các hoạt động của mình theo cách dẫn đếnnhững vi phạm nghiêm trọng, kéo dài và cố ý, đối với các điều khoản cơ bản củahợp đồng, đối với các quy tắc, quy định và thủ tục của cơ quan quyền lực và đốivới phần XI, hoặc

Khi người kí kết hợp đồng không tuân theo một quyết định dứtkhoát và bắt buộc do cơ quan giải quyết các tranh chấp đề ra cho mình.

Trong những trường hợp vi phạm các điều khoản của hợp đồngngoài các trường hợp nói ở khoản 1, điểm a, hoặc thay cho việc tuyên bố đình chỉhay hủy bỏ hợp đồng, trong các trường hợp nói ở khoản 1, điểm a. Cơ quan quyềnlực có thể bắt người kí hợp đồng chịu những khoản tiền phạt theo tỉ lệ về mức độnghiêm trọng của việc vi phạm.

Trừ trường hợp các mệnh lệnh được đưa ra trong tình hìnhkhẩn cấp theo Điều 162, khoản 2, điểm w, Cơ quan quyền lực chưa thể thi hànhmột quyết định liên quan đến các khoản tiền phạt hoặc đến việc đình chỉ hay hủybỏ hợp đồng, chừng nào người kí hợp đồng chưa có khả năng hợp lý để khai tháchết những căn cứ pháp lý mà mình có, theo đúng Mục 5 của Phần XI.

ĐIỀU 19. Xét lại hợp đồng

Theo ý kiến của một trong các bên, khi xảy ra hay có thể xảyra các hoàn cảnh có tác dụng làm cho một hợp đồng trở nên không công bằng, hoặcgây tổn hại, hoặc ngăn cản việc thực hiện các mục tiêu được đề ra trong hợpđồng, hay trong phần XI, các bên tiến hành các cuộc thương lượng nhằm xét lạihợp đồng theo hoàn cảnh mới

Một hợp đồng được kí kết theo đúng Điều 153, khoản 3, chỉ cóthể được xét lại với sự thỏa thuận của các bên kí kết.

ĐIỀU 20. Chuyền giao các quyền và nghĩa vụ

Các quyền và các nghĩa vụ nảy sinh từ một hợp đồng chỉ đượcchuyển giao với sự thỏa thuận của Cơ quan quyền lực và theo đúng các quy tắc,quy định, thủ tục của nó. Nếu không có lý do đầy đủ, Cơ quan quyền lực khôngđược từ chối việc chấp thuận sự chuyển giao, nếu xét về mọi phương diện, ngườicó thể được giao là một người yêu cầu có tư cách và bảo đảm tất cả các nghĩa vụcủa người giao, và nếu việc chuyển giao không giao cho người được giao một kếhoạch làm việc mà việc chuẩn y đã bị cấm theo Điều 6, khoản 3, điểm c của phụlục này.

ĐIỀU 21. Luật áp dụng

Hợp đồng thuộc sự điều chỉnh của các điều khoản của hợpđồng, các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực, Phần XI, cũng nhưcác quy tắc khác của pháp luật quốc tế không mâu thuẫn với Công ước.

Mọi quyết định cuối cùng do một tòa án có thẩm quyền theoCông ước đưa ra về quyền và các nghĩa vụ của Cơ quan quyền lực và của người kíhợp đồng có hiệu lực trên lãnh thổ của bất kì quốc gia thành viên nào.

Một quốc gia thành viên không thể bắt một người kí kết hợpđồng phải theo các điều kiện không phù hợp với Phần XI. Tuy nhiên, việc mộtquốc gia thành viên áp dụng đối với những người kí kết hợp đồng do mình bảo trợhay đối với các tàu mang cờ nước minh, các luật và quy định liên quan đến việcbảo vệ môi trường biển hay các luật và quy định khác chặt chẽ hơn các quy tắc,quy định, thủ tục do Cơ quan quyền lực đặt ra theo Điều 17, khoản 2, điểm f củaphụ lục này, không bị coi là không phù hợp với Phần XI.

ĐIỀU 22. Trách nhiệm

Người kí kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất domột hành động trái phép của họ trong khi tiến hành công việc gây ra, có tínhđến phần trách nhiệm có thể quy cho Cơ quan quyền lực do các hành động haythiếu sót của cơ quan này, Cơ quan quyền lực cũng phải chịu trách nhiệm vềnhững tổn thất do những hành động trái phép mà họ phạm phải trong khi thực hiệncác quyền hạn và chức năng của mình, kể cả các hành động vi phạm Điều 186,khoản 2, có tính đến phần trách nhiệm có thể quy cho người kí kết do những hànhđộng hay thiếu sót của họ. Trong mọi trường hợp, mức bồi thường phải tương ứngvới thiệt hại thực sự.

PHỤ LỤC IV

QUYCHẾ CỦA XÍ NGHIỆP

ĐIỀU 1. Các mục đích

1. Xí nghiệp là cơ quan của Cơ quan quyền lực trực tiếp tiếnhành các hoạt động trong Vùng theo Điều 153, khoản 2, điểm a, cũng như các hoạtđộng vận chuyển, chế biến và tiêu thụ các khoáng sản được khai thác từ Vùng.

2. Để thực hiện những mục đích và thi hành các chức năng củamình, Xí nghiệp hành động theo đúng Công ước, các quy tắc, quy định và thủ tụccủa Cơ quan quyền lực.

3. Để khai thác các tài nguyên của Vùng theo khoản 1, vớiđiều kiện phải tuân theo Công ước, Xí nghiệp tiến hành các hoạt động của mìnhtheo đúng các nguyên tắc quản lý thương mại đúng đắn.

ĐIỀU 2. Các quan hệ với cơ quan quyền lực

1. Theo Điều 170, Xí nghiệp hành động theo đúng chính sáchchung do Đại hội động quyết định và theo đúng các chỉ thị của Hội đồng.

2. Với điều kiện tuân thủ khoản 1, Xí nghiệp hành động theocách tự quản.

3. Không một điều quy định nào của Công ước làm cho Xínghiệp có trách nhiệm về những hành động hay nghĩa vụ của Cơ quan quyền lực, cũngkhông làm cho Cơ quan quyền lực chịu trách nhiệm về những hành động hay nghĩavụ của Xí nghiệp.

ĐIỀU 3. Giới hạn trách nhiệm

Không phương hại đến Điều 11, Khoản 3 của Phụ lục này, khôngmột uỷ viên nào của Cơ quan quyền lực phải chịu trách nhiệm về những hành độnghay nghĩa vụ của Xí nghiệp chỉ vì tư cách uỷ viên của mình.

ĐIỀU 4. Cơ cấu

Xí nghiệp có một Hội đồng quản trị, một Tổng giám đốc vànhân viên cần thiết để thực hiện các chức năng của mình.

ĐIỀU 5. Hội đồng quản trị

1. Hội đồng quản trị gồm có 15 uỷ viên được Đại hội đồng bầura theo đúng Điều 160, khoản 2, điểm c. Khi bầu các uỷ viên của Hội đồng quảntrị, phải tính đến các nguyên tắc phân chia công bằng về mặt địa lý. Trong khibầu cử các ứng cử viên vào Hội đồng, các uỷ viên của Cơ quan quyền lực cần tínhđến sự cần thiết phải chỉ định các ứng cử viên tinh thông nhất về nghiệp vụ vàcó các phẩm chất cần thiết trong các lĩnh vực thích hợp để bảo đảm khả năngđứng vững và thành công của Xí nghiệp.

2. Các uỷ viên của Hội đồng quản trị được bầu ra với mộtnhiệm kỳ 4 năm và có thể được bầu lại. Khi bầu và bầu lại các uỷ viên của Hộiđồng quản trị, phải tính đến các nguyên tắc luân phiên.

3. Các uỷ viên của Hội đồng quản trị làm nhiệm vụ cho đếnkhi bầu những người thay thế. Nếu khiếm khuyết một uỷ viên của Hội đồng quảntrị, thì theo Điều 160, khoản 2, điểm c, Đại hội đồng bầu một uỷ viên mới chokhoảng thời gian còn lại thuộc nhiệm kỳ của uỷ viên bị khuyết.

4. Các uỷ viên của Hội đồng quản trị hành động với tư cáchcá nhân. Trong khi thi hành chức trách của mình, họ không được xin, nhận cácchỉ thị của một chính phủ nào hay của một nguồn nào khác. Các uỷ viên của Cơquan quyền lực tôn trọng tính độc lập của các uỷ viên của Hội đồng quản trị vàtránh bất kỳ ý đồ nào gây ảnh hưởng đến các uỷ viên của Hội đồng quản trị trongviệc thi hành các chức trách của họ.

5. Mỗi uỷ viên của Hội đồng quản trị được nhận một khoảntiền thù lao tính vào các nguồn tài chính của Xí nghiệp. Số tiền thù lao nàyđược Đại hội đồng quy định, dựa theo kiến nghị của Hội đồng.

6. Bình thường, Hội đồng quản trị làm việc tại trụ sở cơ sởchính của Xí nghiệp và nhóm họp mỗi khi công việc của Xí nghiệp đòi hỏi.

7. Số đại biểu cần thiết (quorum) là hai phần ba số uỷ viên củaĐại hội đồng quản trị.

8. Mỗi uỷ viên của Hội đồng quản trị có một phiếu. Hội đồngquản trị quyết định về tất cả các vấn đề mà mình xem xét theo đa số các uỷ viêncủa mình. Nếu có vấn đề nào gây nên tranh chấp về quyền lợi đối với một uỷ viênthì uỷ viên này không tham gia bỏ phiếu về vấn đề này.

9. Bất kỳ uỷ viên nào của Cơ quan quyền lực cũng có thể yêucầu Hội đồng quản trị cung cấp các thông tin liên quan đến các hoạt động cóquan hệ đặc biệt đến mình. Hội đồng cố gắng cung cấp các thông tin này.

ĐIỀU 6. Các quyền hạn và chức năng của hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị điều hành Xí nghiệp. Với điều kiện chấphành Công ước, Hội đồng quản trị thi hành các quyền hạn cần thiết để thực hiệncác mục đích của Xí nghiệp, kể các các quyền:

a) Bầu một Chủ tịch trong số các uỷ viên của mình;

b) Thông qua quy chế nội bộ của mình;

c) Lập và gửi lên Hội đồng các kế hoạch làm việc theo đúngthể thức và bằng văn bản theo đúng Điều 153, khoản 3, và Điều 162, khoản 2,điểm j;

d) Soạn thảo các kế hoạch làm việc và các chương tình đểthực hiện các hoạt động nói trong Điều 170;

e) Thảo và trình lên Hội đồng những đơn xin cấp giấy phépsản xuất, theo đúng Điều 151, các khoản 2 đến 7;

f) Cho phép các cuộc thương lượng liên quan đến việc mua cáckỹ thuật, nhất là các cuộc thương lượng đã trù định ở Điều 5, khoản 3, điểm a, cvà d của Phụ lục III, và chuẩn y các kết quả của các cuộc thương lượng này.

g) Ấn định các điều kiện và thể thức cho phép các cuộcthương lượng liên quan đến các xí nghiệp liên doanh và các hình thức thoả thuậnvề liên doanh khác đã nói trong các Điều 9 và 11 của Phụ lục III và chuẩn y cáckết quả của các cuộc thương lượng này;

h) Làm các kiến nghị lên Đại hội đồng về phần thu nhập thuầntuý của xí nghiệp cần phải được dành ra để lập nên các dự trữ theo đúng Điều 16khoản 2, điểm f, và Điều 10 của Phụ lục này;

i) Chuẩn y ngân sách hàng năm của Xí nghiệp;

j) Cho phép mua tài sản và thuê dịch vụ theo đúng Điều 12,Khoản 3 của Phụ lục này;

k) Trình báo cáo hàng năm lên Hội đồng theo đúng Điều 9 củaPhụ lục này;

l) Trình lên Hội đồng để được Đại hội đồng chuẩn y các dựthảo quy tắc liên quan đến tổ chức, quản lý, bổ nhiệm và thải hồi nhân viên củaXí nghiệp, và thông qua các quy định đem lại hiệu lực cho các quy tắc này;

m) Vay vốn và cung cấp những bảo hành và bảo đảm khác màmình xác định theo đúng Điều 11, khoản 2 của Phụ lục này;

n) Quyết định việc kiện tụng, ký các hiệp định, thực hiệnnhững cuộc giao dịch và thi hành mọi biện pháp khác theo sự trù định trong Điều13 của Phụ lục này;

o) Uỷ nhiệm, với điều kiện được sự chuẩn y của Hội đồng, mọiquyền hạn không có tính chất tuỳ ý quyết định cho các uỷ ban hay Tổng giám đốccủa mình;

ĐIỀU 7. Tổng giám đốc và nhân viên

1. Dựa theo kiến nghị của Hội đồng, Đại hội đồng bầu ra trongsố các ứng cử viên do Hội đồng quản trị đề nghị, một Tổng giám đốc Xí nghiệp,người này không được là uỷ viên của Hội đồng quản trị. Tổng giám đốc được bầutrong một nhiệm kỳ nhất định không quá 5 năm và có thể được bầu lại cho nhữngnhiệm kỳ sau.

2. Tổng giám đốc là người đại diện hợp pháp của Xí nghiệp vàlà người đứng đầu Xí nghiệp về mặt hành chính, trực tiếp chịu trách nhiệm trướcHội đồng quản trị trong việc điều hành các hoạt động của Xí nghiệp. Tổng giámđốc chịu trách nhiệm về tổ chức, quản lý, bổ nhiệm và bãi miễn nhân viên, theođúng quy tắc và quy định nêu ở Điều 6, điểm 1 của Phụ lục này. Tổng giám đốctham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị, nhưng không có quyền bỏ phiếu; ôngta có thể tham gia các cuộc họp của Đại hội đồng và của Hội đồng khi các cơquan này xem xét những vấn đề liên quan đến Xí nghiệp, nhưng không có quyền bỏphiếu.

3. Căn cứ bao trùm trong việc tuyển mộ và quyết định các điềukiện sử dụng nhân viên là bảo đảm cho Xí nghiệp những người phục vụ có năng lựclàm việc cao nhất và tinh thông nghiệp vụ nhất. Ngoài ra, phải tính đến tầmquan trọng của việc tuyển mộ trên cơ sở công bằng về mặt địa lý.

4. Trong khi thi hành các chức trách của mình, Tổng giám đốcvà nhân viên của Xí nghiệp không được xin, nhận các chỉ thị của một chính phủnào hoặc của một nguồn nào khác, ngoài Xí nghiệp. Họ tránh bất kỳ hành vi nàokhông phù hợp với tư cách viên chức quốc tế của Xí nghiệp và chỉ chịu tráchnhiệm trước Xí nghiệp. Mỗi quốc gia thành viên cam kết tôn trọng tính chất quốctế thuần tuý của các chức trách Tổng giám đốc và nhân viên của Xí nghiệp vàkhông tìm các gây ảnh hưởng tới việc thi hành nhiệm vụ của họ.

5. Các nhân viên của Xí nghiệp cũng có những trách nhiệm nóiở Điều 168, khoản 2.

ĐIỀU 8. Địa điểm

Xí nghiệp có văn phòng chính đặt tại trụ sở của Cơ quanquyền lực;

Xí nghiệp có thể mở các văn phòng và các cơ sở khác ở trênlãnh thổ của bất kỳ quốc gia thành viên nào với sự thoả thuận của quốc gia này.

ĐIỀU 9. Các báo cáo và các bản quyết toán tài chính

1. Trong một thời hạn 3 tháng sau khi kết thúc mỗi tài khoá.Xí nghiệp phải gửi một báo cáo hàng năm, bao gồm một bản quyết toán tài chínhđã được thẩm tra lên cho Hội đồng xem xét, và trong những khoảng thời gianthích hợp gửi lên Hội đồng một bản quyết toán tài chính tổng hợp về tình hìnhtài chính của mình và một bản quyết toán các khoản lỗ, lãi, thể hiện kết quả khaithác của mình.

2. Xí nghiệp công bố báo cáo hàng năm của mình và tất cả cácbản quyết toán mà mình xét thấy cần thiết.

3. Tất cả các báo cáo và các bản quyết toán tài chính đã nêutrong điều này được gửi cho các uỷ viên của Cơ quan quyền lực.

ĐIỀU 10. Phân chia thu nhập thuần tuý

1. Với điều kiện tuân thủ khoản 3, Xí nghiệp nộp cho Cơ quanquyền lực các khoản tiền được trù định trong Điều 13 của Phụ lục III hoặc mộtthứ tương đương.

2. Dựa theo kiến nghị của Hội đồng quản trị, Đại hội đồngquy định phần thu nhập thuần tuý của Xí nghiệp cần phải được dành ra để lập nêncác quỹ dự trữ, số dư được chuyển cho Cơ quan quyền lực.

3. Trong thời kỳ ban đầu, cần thiết đối với Xí nghiệp để tựtúc cho chính mình với một thời gian tối đa là 10 năm, kể từ khi bắt đầu việcsản xuất hàng hoá, Đại hội đồng miễn cho Xí nghiệp những khoản nộp đã nêu ởkhoản 1 và đưa toàn bộ thu nhập thuần tuý của Xí nghiệp vào trong các quỹ dựtrữ của Xí nghiệp.

ĐIỀU 11. Tài chính

1. Các nguồn tài chính của Xí nghiệp gồm có:

a) Các khoản tiền nhận được của Cơ quan quyền lực phù hợp vớiĐiều 173, khoản 2, điểm b;

b) Những đóng góp tự nguyện của các quốc gia thành viên nhằmmục đích tài trợ cho các hoạt động của Xí nghiệp;

c) Tổng số tiền vay mượn của Xí nghiệp theo đúng các khoản 2và 3;

d) Thu nhập mà Xí nghiệp rút ra được từ các hoạt động củamình;

e) Các nguồn tài chính khác giao cho Xí nghiệp sử dụng đểcho phép Xí nghiệp bắt đầu công việc của mình càng sớm càng tốt và việc thihành các chức năng của mình.

2. a) Xí nghiệp có quyền đi vay và cung cấp một sự bảo hànhhay bảo đảm khác mà Xí nghiệp có thể xác định được. Trước khi tiến hành việccông khai bán các trái phiếu của mình trên thị trường tài chính hay bằng đồngtiền của một quốc gia thành viên, Xí nghiệp phải được sự đồng ý của quốc gianày. Tổng số tiền vay mượn phải được Hội đồng chuẩn y dựa theo ý kiến của Hộiđồng quản trị.

b) Các quốc gia thành viên cố gắng hết sức trong phạm vi hợplý ủng hộ các yêu cầu vay mượn của Xí nghiệp ở trên các thị trường tài chính vàvới các cơ quan tài chính quốc tế.

3. a) Xí nghiệp được cung cấp các nguồn tài chính cần thiếtđể thăm dò và khai thác một khu vực nhỏ, đẻ bảo đảm việc vận chuyển, chế biếnvà tiêu thụ các khoáng sản mà Xí nghiệp khai thác được ở đó và các kim loại nhưkền, đồng, cô-ban và măng-gan lấy ra từ các khoáng sản và để trang trải nhữngchi phí quản lý ban đầu của mình. Uỷ ban trù bị chỉ rõ trong dự thoả về các quytắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực, tổng số các nguồn tài chínhnày, cũng như các tiêu chuẩn và yếu tố để thực hiện các điều chỉnh cần thiết;

b) Tất cả các quốc gia thành viên cung cấp cho các Xí nghiệpmột số tiền tương đương với một nửa các nguồn tài chính đã nêu ở điểm a, dướihình thức cho vay dài hạn không lấy lãi, theo đúng ba-rem của các khoản đónggóp vào ngân sách thông thường của Liên hợp quốc hiện hàng, vào lúc nộp nhữngkhoản đóng góp này với những điều chỉnh, vì có các quốc gia không phải là thànhviên của Liên hợp quốc. Nửa khác của các nguồn tài chính của Xí nghiệp là cáckhoản do Xí nghiệp vay với sự bảo đảm của các quốc gia thành viên theo ba-remnói trên;

c) Nếu tổng số tiền đóng góp của các quốc gia thành viênthấp hơn tổng số tiền của các nguồn tài chính phải được cung cấp cho Xí nghiệptheo điểm a, Đại hội đồng xem xét ở khoá họp đầu tiên của mình chỗ thiếu hụt vàcó tính đến những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo các điểm a và b vàđến các kiến nghị của uỷ ban trù bị để thông qua bằng consensus (thoả thuận)các biện pháp về khoản thiếu hụt này;

d) i. Trong 60 ngày sau khi Công ước có hiệu lực hay trong30 ngày tiếp theo ngày gửi lưu chiểu các tài liệu phê chuẩn hay gia nhập, thờihạn nào dài nhất thì được sử dụng, mỗi quốc gia thành viên cần gửi tới Xínghiệp các kỳ phiếu không thể chuyển đổi, không thể chuyển dịch hay không cólãi tương đương với số tiền thuộc phần mình về các khoản tiền cho vay không cólãi nói ở điểm b;

ii. Càng sớm càng tốt, sau khi Công ước bắt đầu có hiệu lực,sau đó cứ hàng năm hay theo những khoảng thời gian thích hợp khác, Hội đồngquản trị của Xí nghiệp, cùng với sổ kỳ hạn (échéancier) cấp kinh phí cho cácchi tiêu hành chính của xí nghiệp và cho các hoạt động mà xí nghiệp tiến hànhtheo Điều 170 và Điều 12 của Phụ lục này;

iii. Qua trung gian của Cơ quan quyền lực, Xí nghiệp thôngbáo cho các quốc gian thành viên phần đóng góp của họ và các chi phí này, đượcxác định theo đúng điểm b; Xí nghiệp thu các kỳ phiếu tương đương với tổng sốtiền cần thiết để bảo đảm các khoản chi tiêu đã ghi trong sổ kỳ hạn cấp kinhphí, có tính đến những khoản vay không có lãi;

iv. Ngay khi nhận được thông báo, các quốc gia thành viêngiao cho Xí nghiệp sử dụng các phần bảo đảm của mình đối với các khoản vay nợ theođúng điểm b;

e) i. Nếu Xí nghiệp yêu cầu, các quốc gia thành viên có thểcung cấp các khoản bảo đảm nợ, thêm vào các khoản mà họ cung cấp theo ba-remnói ở điểm b;

ii. Thay thế cho một sự bảo đảm nợ, một quốc gia thành viêncó thể nộp cho Xí nghiệp một khoản đóng góp tự nguyện với một số tiền tươngđương với phần nợ mà quốc gia đó có thể đã hứa bảo đảm;

f) Việc trả nợ có lãi được ưu tiên hơn việc trả nợ khônglãi. Các món nợ không có lãi được hoàn trả theo một lịch được Đại hội đồng chấpnhận, dựa theo kiến nghị của Hội đồng và sau khi có ý kiến của Hội đồng quảntrị của Xí nghiệp. Hội đồng quản trị thi hành chức năng này theo đúng các điềukhoản tương ứng trong các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực.Các quy tắc, quy định và thủ tục này có tính đến sự cần thiết cơ bản là bảo đảmcho Xí nghiệp hoạt động tốt, và đặc biệt là, bảo đảm được tính độc lập về tàichính của Xí nghiệp ;

g) Các khoản tiền đóng góp cho Xí nghiệp là bằng những đồngtiền có thể sử dụng tự do hay bằng những đồng tiền được chuyển đổi tự do và đangđược sử dụng thực sự trên thị trường hối đoái chính. Những đồng tiền này được xácđịnh trong các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực theo đúng cáctập quán tiền tệ quốc tế thông dụng. Với điều kiện tuân thủ khoản 2, không mộtquốc gia thành viên nào áp dụng hay áp đặt những điều hạn chế có liên quan đếnkhả năng để cho Xí nghiệp giữ, sử dụng hay trao đổi các khoản tiền này.

h) Thuật ngữ "bảo đảm nợ", có nghĩa là mộtquốc gia thành viên hứa với các chủ nợ của Xí nghiệp, giữ trọn nghĩa vụ tàichính của Xí nghiệp được bảo đảm trong phạm vi được trù định trong ba-rem thíchhợp, sau khi các chủ nợ thông báo về việc Xí nghiệp không thực hiện các nghĩavụ nói trên. Các thủ tục thi hành các nghĩa vụ này phải phù hợp với các quytắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực.

4. Các nguồn tài chính, tài sản và chi phí của Xí nghiệpphải tách khỏi các nguồn tài chính, tài sản và chi phí của Cơ quan quyền lực.Tuy nhiên, Xí nghiệp có thể ký kết với Cơ quan quyền lực các thoả thuận về việchoàn lại các chi phí hành chính mà cơ quan này đã chi phí cho cơ quan kia.

5. Các tài liệu, sổ sách và tài khoản của Xí nghiệp, kể cảcác bản quyết toán hàng năm, được một uỷ viên kế toán độc lập do Hội đồng chỉđịnh kiểm tra hàng năm.

ĐIỀU 12. Các nghiệp vụ

1. Xí nghiệp đề xuất với Hội đồng các dự án liên quan đếncác hoạt động nói trong Điều 170. Những dự án này bao gồm một kế hoạch làm việcchính thức và bằng văn bản về các hoạt động tiến hành trong Vùng, theo đúngĐiều 153, khoản 3, cũng như tất cả những thông tin hay số liệu khác có thể cầnthiết cho việc uỷ ban pháp lý và kỹ thuật đánh giá các dự án đó và cho việc Hộiđồng chuẩn y các dự án này.

2. Một khi dự án đã được Hội đồng chuẩn y, Xí nghiệp thihành nó theo kế hoạch làm việc chính thức và bằng văn bản đã nêu ở khoản 1.

3. a) Nếu Xí nghiệp không sẵn có các tài sản và dịch vụ cầnthiết cho các hoạt động của mình, thì có thể tìm lấy của cải và dịch vụ đó. Vìmục đích đó, Xí nghiệp tiến hành gọi thầu và ký giao kèo với những người nhậnthầu nào lời nhất cả về chất lượng, giá cả lẫn thời gian giao hàng ;

b) Nếu nhiều đơn nhận thầu đáp ứng được các điều kiện này,thì giao kèo đấu thầu phải theo đúng:

i. Nguyên tắc không phân biệt đối xử dựa trên các lý do chínhtrị hoặc lý do khác không liên quan gì đến việc thi hành nhanh chóng và có hiệuquả các nghiệp vụ;

ii. Các chỉ thị do Hội đồng quyết định có liên quan đến việcdành ưu tiên cho các tài sản và dịch vụ do các quốc gia đang phát triển cungcấp, đặc biệt là, các nước không có biển hay ở vào hoàn cảnh địa lý bất lợitrong số các nước đó;

c) Hội đồng quản trị có thể thông qua các quy tắc xác địnhcác hoàn cảnh đặc biệt, mà trong đó, vì lợi ích của Xí nghiệp, nó có thể vi phạmnghĩa vụ phải tiến hành các cuộc đấu thầu.

4. Xí nghiệp có quyền sở hữu đối với tất cả các khoáng sản vàtất cả các chất được chế biến mà xí nghiệp sản xuất ra.

5. Xí nghiệp bán các sản phẩm của mình trên một cơ sở khôngphân biệt đối xử, và không chấp nhận việc giảm giá không có tính chất kinhdoanh.

6. Không phương hại đến các quyền hạn chung hoặc đặc biệtnào do các quy định khác của Công ước giao cho; Xí nghiệp sử dụng các quyền hạncần thiết để điều hành các hoạt động kinh doanh của mình.

7. Xí nghiệp không được can thiệp vào các hoạt động chínhtrị của các quốc gia thành viên và không để cho khuynh hướng chính trị của quốcgia mà mình có quan hệ gây ảnh hưởng đến các quyết định của mình. Các quyếtđịnh của Xí nghiệp chỉ dựa trên cơ sở các lý do thuộc về thương mại mà Xínghiệp xem xét một cách vô tư nhằm đạt đến các mục đích được xác định ở Điều 1của Phụ lục này.

ĐIỀU 13. Quy chế pháp lý, các quyền miễn trừ và đặc quyền

1. Để cho phép Xí nghiệp thi hành các chức năng của mình,quy chế pháp lý, các quyền miễn trừ và đặc quyền được xác định trong điều này đượcthừa nhận cho Xí nghiệp hưởng trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên. Để chonguyên tắc này có hiệu lực, Xí nghiệp và các quốc gia thành viên có thể ký kếtcác hiệp định đặc biệt mà họ thấy cần thiết.

2. Xí nghiệp có quyền về mặt pháp lý cần thiết để thi hànhcác chức năng và thực hiện các mục đích của mình, và đặc biệt có quyền:

a) Ký các hợp đồng và các thoả thuận liên doanh hay các thoảthuận khác, kể cả các hiệp định với các quốc gia hay các tổ chức quốc tế.

b) Mua sắm, thuê mướn, gìn giữ, và chuyển nhượng các độngsản và bất động sản;

c) Kiện tụng.

3. a) Xí nghiệp chỉ có thể bị kiện trước các toà án có thẩmquyền ở một quốc gia thành viên mà trên lãnh thổ nước đó, xí nghiệp:

i. Có một văn phòng, hay có các cơ sở ;

ii. Đã chỉ định một nhân viên để tiếp nhận việc truyền đạtcác bản tống đạt về tư pháp;

iii. Ký giao kèo về của cải hay dịch vụ;

iv. Phát hành các chứng khoán, hoặc

v. Thực hiện một hoạt động thương mại dưới bất kỳ hình thứcnào khác.

b) Các của cải và tài sản của xí nghiệp, dù ở đâu và ngườigiữ là ai, đều được miễn mọi hình thức cầm giữ hay mọi biện pháp tịch thu tàisản khác chừng nào mà một bản án cuối cùng đối với Xí nghiệp chưa được tuyênbố.

4. a) Của cải và tài sản của xí nghiệp, dù ở đâu và do aigiữ, cũng được miễn không bị trưng thu, tịch thu, tước đoạt hay phải chịu bấtkỳ hình thức sai áp nào khác do một biện pháp thuộc quyền hành pháp hay quyềnlập pháp.

b) Của cải, tài sản của Xí nghiệp, dù ở đâu và do ai giữ,cũng không phải chịu một dự kiểm soát, hạn chế, quy định hay lệnh tạm hoãn nàomang tính chất phân biệt đối xử, dù thuộc loại nào.

c) Xí nghiệp và nhân viên của Xí nghiệp tôn trọng các luậtvà quy định của bất kỳ quốc gia hay lãnh thổ nào mà ở đó, Xí nghiệp hay nhânviên tiến hành các hoạt động công nghiệp và thương mại hay các hoạt động khác.

d) Các quốc gia thành viên bảo đảm cho xí nghiệp được hưởngtất cả các quyền, quyền miễn trừ và đặc quyền mà họ đã đồng ý dành cho các thựcthể hoạt động thương mại ở trên lãnh thổ của mình. Các quyền, quyền miễn trừ vàđặc quyền này được dành cho các Xí nghiệp theo các thể thức không kém thuận lợihơn các quyền dành cho các thực thể hoạt động thương mại tương tự. Khi các quốcgia đồng ý cho các quốc gia đang phát triển hay các thực thể thương mại của họhưởng các quyền ưu tiên đặc biệt, thì Xí nghiệp cũng được hưởng các đặc quyềnnày trên một cơ sở ưu tiên tương tự;

e) Các quốc gia thành viên có thể đồng ý cho Xí nghiệp đượchưởng các kích thích, quyền, đặc quyền và quyền miễn trừ đặc biệt mà họ khôngbuộc phải dành cho các thực thể thương mại khác hưởng.

5. Xí nghiệp thương lượng với các quốc gia mà ở trên lãnhthổ các quốc gia đó, Xí nghiệp có các văn phòng và các cơ sở, để được miễn tấtcả mọi thứ thuế trực thu và gián thu.

6. Mỗi quốc gia thành viên thi hành các biện pháp cần thiếtđể đem lại hiệu lực trong pháp luật của mình cho những nguyên tắc đã được nêutrong Phụ lục này và thông váo cho Xí nghiệp biết những biện pháp cụ thể mà họđã định.

7. Xí nghiệp có thể từ bỏ bất kỳ đặc quyền hay quyền miễntrừ nào do điều này do các hiệp định đặc biệt nói ở khoản 1 dành cho mình, trongphạm vi và theo các điều kiện do mình quy định.

PHỤ LỤC V

VIỆCHOÀ GIẢI

MỤC 1. HOÀ GIẢI THEO ĐÚNG MỤC 1 CỦA PHẦN XV

ĐIỀU 1. Khởi đầu thủ tục

Nếu các bên trong một vụ tranh chấp thoả thuận đưa ra hoàgiải theo thủ tục được trù định ở mục này, theo đúng Điều 248, thì bất kỳ bêntranh chấp nào đều có đề xuất thủ tục bằng một thông báo viết gửi đến cho bênkhác hay các bên khác trong vụ tranh chấp.

ĐIỀU 2. Danh sách các hoà giải viên

1. Tổng thư ký Liên hợp quốc lập và giữ một bản danh sáchcác hoà giải viên. Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định bốn hoà giải viêncó tiếng là công minh nhất, có trình độ và vô tư nhất. Tên của các nhân vậtđược chỉ định như vậy được ghi trên bản danh sách.

2. Nếu vào một thời điểm nào đó, số lượng các hoà giải viêndo một quốc gia thành viên chỉ định và thể hiện ở trên bản danh sách dưới bốnngười, thì quốc gia này có thể tiến hành việc chỉ định bổ sung mà mình cóquyền.

3. Tên của một hoà giải viên được ghi trên bản danh sách chođến khi bị quốc gia thành viên chỉ định người đó rút đi, đương nhiên là hoàgiải viên này tiếp tục giữ chức ở bất kỳ uỷ ban hoà giải nào mà người này đãđược cử, cho đến khi thủ tục tiến hành trước khi uỷ ban này được hoàn thành.

ĐIỀU 3. Cơ cấu của uỷ ban hoà giải

Trừ khi các bên có thoả thuận khác, uỷ ban hoà giải được lậpra theo các cách sau đây:

a) Với điều kiện tuân thủ điểm g, uỷ ban hoà giải gồm có nămuỷ viên.

b) Bên đề xuất thủ tục chỉ định hai hoà giải viên được tuỳ ýlực chọn trên bản danh sách nói ở Điều 2 của Phụ lục này, và một trong hai hoàgiải viên đó có thể là công dân của mình, trừ khi các bên có thoả thuận khác.

Việc chỉ định này được ghi rõ trong thông báo được trù địnhở Điều 1 ;

c) Bên kia trong vụ tranh chấp, trong một thời hạn 21 ngày,kể từ khi nhận được thông báo nói ở Điều 1, chỉ định hai hoà giải viên theocách đã trù định ở điểm b. Nếu việc chỉ định này không được tiến hành trongthời hạn quy định, bên đề xuất thủ tục, trong tuần lễ tiếp sau khi hết thời hạnnày, có thể hoặc chấm dứt thủ tục bằng thông báo gửi cho bên kia, hoặc yêu cầuTổng thư ký Liên hợp quốc tiến hành những bổ nhiệm người này theo đúng điểm e;

d) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bổ nhiệm người hoà giảicuối cùng, bốn hoà giải viên chỉ định một người thứ năm, được lựa chọn trên danhsách nói ở Điều 2 của Phụ lục này, người thứ năm này sẽ là Chủ tịch. Nếu việcbổ nhiệm không được làm trong thời gian quy định, thì mỗi bên, trong tuần lễtiếp sau khi kết thúc thời hạn này, có thể yêu cầu Tổng thư ký Liên hợp quốctiến hành việc bổ nhiệm này theo đúng điểm e;

e) Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được một yêu cầulàm theo các điểm c hoặc điểm d. Tổng thư ký Liên hợp quốc tiến hành việc bổnhiệm cần thiết bằng cách lựa chọn, có tham khảo ý kiến với các bên trong vụtranh chấp, các nhân vật ghi ở bản danh sách nêu ở Điều 2 của Phụ lục này ;

f) Cần bổ sung bất kỳ ghế nào bị trông theo cách đã trù địnhcho việc bổ nhiệm ban đầu ;

g) Khi hai bên hay nhiều bên thoả thuận cũng đứng về mộtphía thì họ cùng nhau chỉ định hai hoà giải viên. Khi hai hay nhiều bên khôngcùng đứng về một phía hay không thể thoả thuận về điểm có đứng về một phía haykhông, thì họ chỉ định các hoà giải viên riêng lẻ;

h) Khi có quá hai bên không đứng về cùng một phía hay khôngthể thoả thuận về điểm có đứng về một phía hay không, thì các bên trong vụ tranhchấp áp dụng các điểm a đến f đến hết mức có thể.

ĐIỀU 4. Thủ tục

Trừ khi các bên hữu quan có thoả thuận khác, uỷ ban hoà giảitự quyết định thủ tục của mình. Với sự thoả thuận của các bên trong vụ tranhchấp, uỷ ban hoà giải có thể mời bất kỳ quốc gia thành viên nào trình bày vớimình những ý kiến của họ bằng lời hay bằng văn bản. Các quyết định về thủ tục,các kiến nghị và báo cáo của uỷ ban được thông qua theo đa số các uỷ viên củamình.

ĐIỀU 5. Giải pháp hoà giải

Uỷ ban có thể lưu ý các bên về mọi biện pháp có thể có đểlàm dễ dàng cho giải pháp hoà giải vụ tranh chấp.

ĐIỀU 6. Các chức năng của uỷ ban

Uỷ ban lắng nghe các bên, xem xét các đòi hỏi và ý kiến phảnđối của họ và nêu ra các đề nghị nhằm giúp họ đạt tới một giải pháp hoà giải vụtranh chấp.

ĐIỀU 7. Báo cáo

1. Uỷ ban làm báo cáo trong vòng 12 tháng sau khi được lậpra. Báo cáo của uỷ ban bao gồm bất kỳ thoả thuận nào đạt được và, nếu không cóthoả thuận, các kết luận của uỷ ban về tất cả các điểm về thực tế hay pháp lýcó quan hệ tới đối tượng của vụ tranh chấp, cũng như những khuyến nghị mà uỷban xét thấy thích hợp, nhằm đi tới một giải pháp hoà giải. Báo cáo được gửilên Tổng thư ký Liên hợp quốc và chuyển tới các bên tham gia vụ tranh chấp.

2. Báo cáo của uỷ ban, kể cả mọi kết luận hay khuyến nghịtrong đó, không ràng buộc các bên.

ĐIỀU 8. Việc kết thúc thủ tục

Thủ tục hoà giải kết thúc khi vụ tranh chấp đã được giảiquyết khi các bên đã chấp nhận hay một bên đã bác bỏ các khuyến nghị trong báocáo qua con đường thông báo bằng văn bản gửi lên cho Tổng thư ký Liên hợp quốc,hoặc là sau ba tháng kể từ ngày truyền đạt báo cáo cho các bên.

ĐIỀU 9. Tiền thù lao và lệ phí

Tiền thù lao và lệ phí của Uỷ ban do các bên tham gia tranhchấp chịu.

ĐIỀU 10. Quyền của các bên không theo thủ tục

Các bên tham gia tranh chấp, qua một thoả thuận áp dụng chỉcho vụ tranh chấp này, có thể thoả thuận bỏ qua bất kỳ quy định nào của Phụ lụcnày.

MỤC 2. BẮT BUỘC THEO THỦ TỤC HOÀ GIẢI THEO ĐÚNG MỤC 3 CỦAPHẦN XV

ĐIỀU 11. Việc khởi đầu thủ tục

1. Theo đúng mục 3 của phần XV, bất kỳ bên nào trong một vụtranh chấp có thể đưa ra hoà giải theo thủ tục đã trù định ở mục này, có thểbắt đầu thủ tục bằng một bản thông báo gửi cho bên kia hay các bên kia trong vụtranh chấp.

2. Bất kỳ bên nào trong vụ tranh chấp, khi đã nhận đượcthông báo đã được trù định ở khoản 1, thì bắt buộc phải chấp nhận thủ tục hoàgiải.

ĐIỀU 12. Không có trả lời hay từ chối chấp hành thủ tục

Việc một hay nhiều bên tham gia vào vụ tranh chấp không trảlời thông báo mở đầu một thủ tục hoà giải hay không chấp nhận một thủ tục như thế,không phải là một trở ngại cho thủ tục.

ĐIỀU 13. Thẩm quyền

Trong trường hợp có tranh cãi về điểm, liệu một uỷ ban hoàgiải được lập nên theo mục này có thẩm quyền không, thì uỷ ban này quyết định.

ĐIỀU 14. Áp dụng mục 1

Các Điều 2 đến 10 của mục 1 của Phụ lục này được áp dụng vớiđiều kiện tuân thủ các quy định của mục này.

PHỤ LỤC VI

QUYCHẾ CỦA TOÀ ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN

ĐIỀU 1. Các quy định chung

1. Toà án quốc tế về luật biển được thành lập và hoạt độngtheo đúng các quy định của Công ước và quy chế này.

2. Toà án đặt trụ sở tại thành phố tự do và buôn bánHăm-buốc thuộc nước Cộng hoà liên bang Đức.

3. Tuy nhiên, toà án có thể đặt trụ sở và thi hành các chứcnăng ở nơi khác, nếu xét thấy tiện lợi hơn.

4. Việc đưa một vụ tranh chấp ra toà phải do các phần XI và XVđiều chỉnh.

MỤC 1. TỔ CHỨC CỦA TOÀ ÁN

ĐIỀU 2. Thành phần

1. Toà án là một tập thể gồm 21 thành viên độc lập, đượctuyển chọn trong số các nhân vật nổi tiếng nhất về công bằng và liêm khiết, cónăng lực rõ ràng trong lĩnh vực luật biển.

2. Thành phần của Toà án phải đảm bảo có sự đại điện của cáchệ thống pháp luật chủ yếu của thế giới và một sự phân chia công bằng về mặtđịa lý.

ĐIỀU 3. Các thành viên của Toà án

1. Toà án không thể có quá một công dân của cùng quốc gia.Về phương diện này, một nhân vật có thể bị coi là công dân của quá một quốc giasẽ được coi như là công dân của quốc gia mà nhân vật đó thường thi hành cácquyền dân sự và chính trị của mình.

2. Mỗi nhóm theo địa lý do Đại hội đồng Liên hợp quốc xácđịnh phải có ít nhất là 3 thành viên ở trong Toà án.

ĐIỀU 4. Các việc ứng cử và bầu cứ

1. Mỗi quốc gia thành viên có thể chỉ định nhiều nhất là haingười có đủ các điều kiện được trù định ở Điều 2 của Phụ lục này. Các thànhviên của Toà án được tuyển lựa trên bản danh sách những người đã được chỉ địnhnhư thế.

2. Ít nhất là ba tháng trước ngày bầu cử Tổng thư ký Liênhợp quốc, nếu là cuộc bầu cử đầu tiên, hay thư ký của Toà án, nếu là cuộc bầucử sau, gửi giấy mời các quốc gia thành viên, trong một thời hạn là hai tháng,thông báo danh sách các ứng cử viên của họ. Tổng thư ký hay thư ký của Toà ánlập ra một bản danh sách theo thứ tự a, b c tất cả những ứng cử viên được chỉđịnh như vậy, có ghi rõ các quốc gia thành viên chỉ định họ, và thông bao danh sáchnày cho các quốc gia thành viên trước ngày thứ bảy của tháng cuối cùng trướcngày bầu cử.

3. Cuộc bầu cử đầu tiên diễn ra chậm nhất là sáu tháng saungày Công ước có hiệu lực.

4. Các thành viên của Toà án được bầu bằng cách bỏ phiếukín. Các cuộc bầu cử được tiến hành trong một hội nghị các quốc gia thành viêndo Tổng thư ký Liên hợp quốc triệu tập đối với trường hợp bầu cử đầu tiên, vàtheo thủ tục do các quốc gia thành viên quy định trong trường hợp các cuộc bầu cửtiếp sau. Ở mỗi hội nghị này, số đại biểu cần thiết (quorum) của hội nghị gồmhai phần ba số quốc gia thành viên. Các thành viên của Toà án được bầu là nhữngứng cử viên đạt được số phiếu bầu cao nhất và phải được hai phần ba số quốc giathành viên có mặt và bỏ phiếu, đương nhiên là đa số này phải gồm đa số các quốcgia thành viên.

ĐIỀU 5. Nhiệm kỳ

1. Các thành viên của Toà án được bầu với nhiệm kỳ là chínnăm và có thể được tái cử; tuy nhiên, đối với các thành viên được bầu ở cuộcbầu cử đầu tiên, bảy người sẽ mãn nhiện kỳ sau ba năm và bảy người khác sẽ mãnnhiệm kỳ sau sáu năm.

2. Các thành viên của Toà án mãn nhiệm kỳ theo các thời hạnban đầu là ba năm và sáu năm nói ở trên sẽ được chỉ định qua rút thăm do Tổngthư ký Liên hợp quốc thực hiện ngay sau cuộc bầu cử đầu tiên.

3. Các thành viên của Toà án giữ chức vụ cho tới khi cóngười thay thế. Mỗi khi bị thay thế, họ tiếp tục xét xử các vụ mà họ đang xéttrước đó.

4. Nếu một số thành viên của Toà án từ chức, đơn xin từ chứcđược gửi lên cho Chánh án Toà án. Ghế của thành viên trở nên bị trống vào thờigian nhận được đơn xin từ chức.

ĐIỀU 6. Các ghế bị trống

1. Các ghế bị trống phải được bổ sung theo phương pháp đãdùng cho cuộc bầu cử đầu tiên, với điều kiện phải theo quy định sau đây: thư kýcủa Toà án tiến hành trong tháng tiếp theo ngày có ghế bị trống việc mời theoquy định của Điều 4 của Phụ lục này và Chánh án Toà án quy định thời gian bầucử sau khi tham khảo ý kiến của các quốc gia thành viên.

2. Thành viên của Toà án được bầu thay cho một thành viênchưa hết nhiệm kỳ hoàn thành nốt nhiệm vụ của người mình thay thế.

ĐIỀU 7. Sự không thể kiêm nhiệm

1. Một thành viên của Toà án không thể đảm nhiệm bất kỳ mộtchức vụ chính trị hay hành chính nào, cũng như không được chủ động tham gia haycó liên quan về tài chính trong một hoạt động nào của một xí nghiệp đang tiếnhành thăm dò hoặc khai thác các tài nguyên ở biển hay ở dưới đáy biển hoặc mộtviệc sử dụng biển hay đáy biển vào mục đích thương mại khác.

2. Một thành viên của Toà án không được làm những nhiệm vụđại diện, cố vấn hay luật sư trong bất cứ vụ kiện nào.

3. Trong trường hợp có nghi vấn về các điểm này, Toà ánquyết định theo đa số các thành viên khác có mặt.

ĐIỀU 8. Các điều kiện liên quan đến việc tham gia của cácthành viên vào việc giải quyết một vụ kiện nhất định

1. Một thành viên của Toà án không thể tham gia vào việcgiải quyết một vụ kiện nào mà trước đây ông ta đã tham dự với tư cách đại diện,cố vấn hay luật sư của một trong các bên, hay với tư cách thành viên của mộtToà án quốc gia hay quốc tế hay với bất cứ danh nghĩa nào khác.

2. Nếu vì một lý do đặc biệt, một thành viên của Toà án thấykhông nên dự vào việc giải quyết một vụ kiện nhất định, thì ông ta báo choChánh án.

3. Nếu Chánh án thấy một thành viên của Toà án, vì một lý dođặc biệt, không được ngồi xử trong một vụ kiện nhất định, thì báo cho thànhviên đó.

4. Trong trường hợp có nghi vấn về các điểm này, Toà ánquyết định theo đa số các thành viên khác có mặt.

ĐIỀU 9. Hậu quả do một thành viên của Toà án không đáp ứngcác điều kiện cần thiết

Nếu theo ý kiến nhất trí của các thành viên khác, một thànhviên của Toà án đã không đáp ứng các điều kiện cần thiết, thì Chánh án Toà ántuyên bố ghế của thành viên này trống.

ĐIỀU 10. Các đặc quyền và quyền miễn trừ

Trong khi thi hành các chức trách của mình, các thành viên củaToà án được hưởng các đặc quyền và các quyền miễn trừ ngoại giao.

ĐIỀU 11. Cam kết long trọng

Trước khi đảm nhận chức trách, bất kỳ thành viên nào của Toàán cũng cần công khai cam kết long trọng thi hành các quyền hạn của mình hoàntoàn vô tư và hết sức trung thực.

ĐIỀU 12. Chánh án, phó chánh án và thư ký toà án

1. Toà án bầu ra Chánh án và phó chánh án với nhiệm kỳ 3năm, các vị này có thể được bầu lại.

2. Toà án bổ nhiệm thư ký của Toà án và có thể bổ nhiệmnhững viên chức khác như thế, nếu thấy cần thiết.

3. Chánh án và thư ký của Toà án làm việc tại trụ sở của Toàán.

ĐIỀU 13. Số đại biểu cần thiết (quorum)

1. Tất cả các thành viên có mặt của Toà án ngồi xử án, phảiđủ 11 thành viên được bầu mới được lập Toà án.

2. Toà án quyết định những thành viên nào có thể được sửdụng để xét một vụ tranh chấp nhất định nào đó, có tính đến Điều 17 của Phụ lụcnày và sự cần thiết bảo đảm hoạt động tốt của các Viện nói ở các Điều 14 và 15của Phụ lục này.

3. Toà án quyết định về tất cả các tranh chấp và về tất cảcác đơn đã trình lên mình, trừ khi Điều 14 của Phụ lục này được áp dụng hoặctrừ khi các bên yêu cầu áp dụng Điều 15 của cùng Phụ lục này.

ĐIỀU 14. Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáybiển

Một Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biểnđược thành lập theo đúng Mục 4 của Phụ lục này. Thẩm quyền, các quyền hạn vàcác chức năng của Viện được xác định trong Mục 5 của Phần XI.

ĐIỀU 15. Các viện đặc biệt

1. Nếu thấy cần thiết, Toà án có thể lập ra các viện, gồm ítnhất là ba thành viên được bầu để xét xử các loại vụ kiện nhất định.

2. Toà án lập ra một viện để xét xử một vụ tranh chấp nhấtđịnh được đệ trình lên Toà, nếu các bên yêu cầu. Thành phần của viện này đượcToà án quy định với sự thoả thuận của các bên.

3. Nhằm giải quyết nhanh các vụ kiện, mỗi năm Toà án lập ra mộtviện gồm năm thành viên được bầu để xét xử theo thủ tục rút gọn. Ngoài ra cóthêm hai thành viên được chỉ định để thay thế những thành viên không có khảnăng tham dự vào một vụ kiện nhất định.

4. Các Viện được trù định ở điều này tiến hành xét xử, nếu cácbên có quyền yêu cầu.

5. Bất kỳ phán quyết nào của một trong số các viện đã đượctrù định ở điều này và Điều 14 của Phụ lục này đều được coi như phán quyết củaToà án.

ĐIỀU 16. Quy chế của Toà án

Toà án xác định qua một quy chế, cách thức thi hành các chứcnăng của mình. Đặc biệt là Toà án quy định thủ tục của mình.

ĐIỀU 17. Các thành viên có quốc tịch của các bên

1. Thành viên có quốc tịch của một bên nào đó trong số cácbên của một vụ tranh chấp có quyền ngồi xử.

2. Khi xét xử một vụ tranh chấp, nếu Toà án có một thànhviên thuộc quốc tịch của một trong các bên, thì bất kỳ bên nào khác trong vụtranh chấp có thể chỉ định một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia xétxử với tư cách thành viên của Toà án.

3. Khi xét xử một vụ tranh chấp, nếu Toà án không có mộtthành viên nào thuộc quốc tịch của các bên, thì mỗi bên trong các bên này cóthể chỉ định một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia xét xử với tư cáchthành viên của Toà án.

4. Điều này được áp dụng cho các viện nói trong các Điều 14và 15 của Phụ lục này. Trong trường hợp như vậy, Chánh án Toà án sau khi traođổi với các bên, yêu cầu một số thành viên đúng số lượng cần thiết nhường chỗcho các thành viên của Toà án thuộc quốc tịch của các bên hữu quan và nếu khôngcó hoặc trong trong trường hợp trở ngại, thì nhường chỗ cho các thành viên đượccác bên này chỉ định một cách đặc biệt.

5. Khi nhiều bên cùng đứng về một phía trong việc áp dụngcác điều quy định nói trên, họ chỉ được coi như một bên. Trong trường hợp nghivấn, Toà án sẽ quyết định.

6. Các thành viên được chỉ định theo đúng các khoản 2, 3 và4 cần phải đáp ứng những điều kiện trong các Điều 2, 8 và 11 của Phụ lục này.Họ tham gia vào việc quyết định trong những điều kiện hoàn toàn bình đẳng vớiđồng nghiệp của họ.

ĐIỀU 18. Thù lao

1. Mỗi thành viên của Toà án nhận một khoản tiền lương hàngnăm, cũng như một khoản trợ cấp đặc biệt cho mỗi ngày mà họ làm nhiệm vụ củamình, miễn là tổng số tiền trợ cấp đặc biệt mỗi năm không được vượt quá tổng sốtiền lương hàng năm.

2. Chánh án được một khoản trợ cấp đặc biệt hàng năm.

3. Phó chánh án nhận một khoản trợ cấp đặc biệt cho mỗi ngàymà ông ta làm nhiệm vụ của chánh án.

4. Các thành viên được chỉ định theo Điều 17 của Phụ lụcnày, ngoài các thành viên được bầu của Toà án, được phụ cấp cho mỗi ngày mà họ thihành các chức trách của họ.

5. Các khoản tiền lương, trợ cấp và phụ cấp này được quy địnhlại theo từng thời gian, trong các cuộc họp của các quốc gia thành viên, cótính đến khối lượng công việc của Toà án. Các khoản này không thể bị giảm bớttrong suốt thời gian thi hành chức vụ.

6. Lương của thư ký Toà án được quy định trong các cuộc họpcủa các quốc gia thành viên dựa trên đề nghị của Toà án.

7. Các quy định được thông qua trong các cuộc hội nghị củacác quốc gia thành viên ấn định các điều kiện, trong đó các khoản tiền hưu đượctrợ cấp cho các thành viên của Toà án và cho thư ký Toà án cũng như các điềukiện thanh toán các chi phí đi lại của họ.

8. Lương, trợ cấp và phụ cấp được miễn mọi thứ thuế.

ĐIỀU 19. Các kinh phí của Toà án

1. Các kinh phí của Toà án do các quốc gia thành viên và Cơquan quyền lực đảm nhận trong các điều kiện và theo cách thức được quyết địnhtrong các cuộc hội nghị của các quốc gia thành viên.

2. Khi một thực thể không phải là một quốc gia thành viênhay Cơ quan quyền lực, là một bên trong một vụ tranh chấp đưa ra Toà án xét xử,thì Toà án quyết định phần đóng góp của bên này vào các kinh phí của Toà án.

MỤC 2. THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN

ĐIỀU 20. Quyền được đưa vấn đề ra Toà án

1. Toà án được để ngỏ cho các quốc gia thành viên.

2. Toà án được để ngỏ cho các thực thể không phải là cácquốc gia thành viên trong tất cả các trường hợp đã được quy định rõ trong phầnXI hay cho mọi tranh chấp được đưa ra theo mọi thoả thuận khác, giao cho Toà ánmột thoả quyền được tất cả các bên trong vụ tranh chấp thoả thuận.

ĐIỀU 21. Thẩm quyền

Toà án có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và tấtcả các yêu cầu được đưa ra Toà theo đúng Công ước, và đối với tất cả các trườnghợp được trù định rõ trong mọi thoả thuận khác, giao thẩm quyền cho Toà án.

ĐIỀU 22. Việc đưa ra Toà án các vụ tranh chấp liên quan đếncác thoả thuận khác

Nếu được sự thoả thuận của tất cả các bên trong một hiệp ướchay một Công ước đã có hiệu lực có quan hệ đến một vấn đề do Công ước đề cập, thìbất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng hiệp ước hoặcCông ước đó có thể được đưa ra Toà án theo đúng như điều đã thoả thuận.

ĐIỀU 23. Luật áp dụng

Toà án phán quyết về mọi tranh chấp và về mọi đơn từ theođúng Điều 293.

MỤC 3. THỦ TỤC

ĐIỀU 24. Việc khởi tố

1. Tuỳ theo trường hợp, các vụ tranh chấp có thể được đưa raToà án hoặc thông qua về một thoả hiệp dựa vào trọng tài hoặc qua đơn thỉnh cầugửi cho thư ký Toà án. Trong cả hai trường hợp, nội dung của vụ tranh chấp vàcác bên cần được ghi rõ.

2. Thư ký Toà án thông báo ngay thoả hiệp dựa vào trọng tàihay đơn thỉnh cầu cho các bên hữu quan.

3. Thư ký Toà án cũng thông báo về thoả thiệp dựa vào trọngtài hay đơn thỉnh cầu nói trên cho các quốc gia thành viên.

ĐIỀU 25. Biện pháp đảm bảo

1. Theo đúng Điều 290, Toà án và Viện giải quyết các tranhchấp liên quan đến đáy biển có quyền quyết định các biện pháp bảo đảm.

2. Nếu Toà án không mở phiên xử, hoặc nếu số uỷ viên có mặtthấp hơn số thẩm phán cần thiếu thì các biện pháp bảo đảm sẽ do Viện thủ tụcrút gọn được lập ra theo đúng Điều 15, khoản 3 của Phụ lục này quyết định. Mặc dùcó Điều 15, khoản 4 của chính Phụ lục này, các biện pháp bảo đảm này có thểđược quy định theo yêu cầu của bất kỳ bên nào trong vụ tranh chấp. Các biệnpháp này phải phục tùng sự đánh giá và xem xét lại của Toà án.

ĐIỀU 26. Phiên toà

1. Các phiên toà phải do chính Chánh án Toà án chủ tọa, haynếu Chánh án bận, thì do phó chánh án chủ toạ; trong trường hợp cả hai ngườibận, thì phiên toà do thẩm phán lâu năm nhất trong số các thẩm phán của Toà cómặt chủ toạ.

2. Phiên toà phải mở công khai, trừ khi Toà án có quyết địnhkhác, hoặc trừ khi các bên yêu cầu xử kín.

ĐIỀU 27. Điều hành vụ kiện

Toà án ra các quyết định về việc điều hành vụ kiện và xácđịnh các hình thức và thời hạn mà trong đó mỗi bên cuối cùng phải trình bày cácchứng cứ của mình; Toà án thi hành mọi biện pháp cần thiết cho việc quản lý cácchứng cứ.

ĐIỀU 28. Vắng mặt

Khi một trong các bên không ra Toà án hay không trình bàycác lý lẽ của mình, thì bên kia có thể yêu cầu Toà án tiếp tục trình tự tố tụngvà ra quyết định. Việc một bên vắng mặt hay việc một bên không trình bày các lýlẽ của mình không cản trở trình tự tố tụng. Trước khi ra quyết định, Toà ánphải biết chắc chắn rằng không những Toà án có thẩm quyền xét xử, vụ tranh chấpmà còn bảo đảm rằng đơn kiện có cơ sở về mặt thực tế và pháp lý.

ĐIỀU 29. Đa số cần thiết để ra quyết định

1. Toà án ra các quyết định theo đa số các thành viên cómặt.

2. Trong trường hợp số phiếu ngang nhau, phiếu của Chánh án haycủa người thay thế Chánh án là lá phiếu quyết định.

ĐIỀU 30. Bản án

1. Bản án phải nêu rõ căn cứ

2. Cần ghi tên các thành viên của Toà án đã tham gia vào bảnán.

3. Nếu bản án không thể hiện hoàn toàn hay từng phần ý kiếnnhất trí của các thành viên Toà án, thì bất kỳ thành viên nào cũng có thể đínhtheo bản trình bày ý kiến riêng hay bất đồng của mình.

4. Bản án phải được Chánh án và thư ký Toà án ký. Bản ánđược đọc trong một phiên công khai, các bên tham gia tranh chấp phải được báotrước.

ĐIỀU 31. Việc yêu cầu được tham gia

1. Trong một vụ tranh chấp, khi một quốc gia thành viên cho rằngmột quyền lợi có tính chất pháp lý của mình bị đụng chạm, thì có thể gửi lêncho Toà án một đơn thỉnh cầu để yêu cầu xin tham gia.

2. Toà án phát biểu ý kiến về đơn thỉnh cầu này.

3. Nếu Toà án chấp nhận đơn thỉnh cầu, thì quyết định liênquan đến vụ tranh chấp có tính chất bắt buộc đối với quốc gia xin tham giatrong phạm vi mà quyết định này có quan hệ đến các điểm là nội dung của việctham gia.

ĐIỀU 32. Quyền can thiệp và những vấn đề giải thích hay ápdụng

1. Khi một vấn đề về giải thích hay áp dụng Công ước đượcđặt ra, thư ký Toà án lập tức thông báo cho tất cả các quốc gia thành viên.

2. Trong khuôn khổ của các Điều 21 và 22 của Phụ lục này,khi việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế được đặt ra, thư ký Toà ánthông báo điều đó cho tất cả các bên tham gia vào điều ước đó.

3. Mỗi bên nói ở các khoản 1 và 2 có quyền tham dự vào vụkiện, và nếu bên đó thi hành quyền hạn này, thì nội dung giải thích trong bảnán cũng có tính chất bắt buộc đối với bên đó.

ĐIỀU 33. Tính chất quyết định về hiệu lực bắt buộc của cácphán quyết

1. Phán quyết của Toà án có tính chất tối hậu và tất cả cácbên trong vụ tranh chấp đều phải tuân theo.

2. Phán quyết của Toà án chỉ có tính chất bắt buộc đối vớicác bên tranh chấp và đối với trường hợp đã được quyết định.

3.Trong trường hợp có sự tranh cãi về ý nghĩa và phạm vi củaphán quyết, thì Toà án có trách nhiệm giải thích theo yêu cầu của bất kỳ bênnào.

ĐIỀU 34. Án phí

Nếu Toà án không có quyết định khác, thì mỗi bên phải đảmnhận phần án phí của mình.

MỤC 4. VIỆN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁY BIỂN

ĐIỀU 35. Thành phần

1. Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển nóitrong Điều 14 của Phụ lục này gồm có 11 thành viên do Toà án lựa chọn trong cácthành viên đã được bầu của Toà án, theo đa số các thành viên đó.

2. Trong việc lựa chọn các thành viên của Viện, sự đại diện chocác hệ thống pháp luật chủ yếu của thế giới và việc phân chia công bằng về địalý phải được bảo đảm. Đại hội đồng của Cơ quan quyền lực có thể định ra cácquyết nghị có tính chất chung về sự đại diện và phân bố nói trên.

3. Các thành viên của Viện được lựa chọn ba năm một lần vàchỉ có thể được lựa chọn thêm một nhiệm kỳ.

4. Viện bầu ra chủ tịch trong số các thành viên của mình.Chỉ tịch đảm nhận chức trách trong nhiệm kỳ của Viện.

5. Nếu các vụ kiện đang giải quyết chưa xong vào cuối nhiệmkỳ ba năm của Viện, thì viện phải hoàn thành việc xét xử với thành phần ban đầucủa mình.

6. Khi một ghế của Viện bị trống, Toà án chọn trong số cácthành viên đã được bầu của mình một người kế tục để hoàn thành nhiệm kỳ củangười tiền nhiệm của người ấy.

7. Để lập ra Viện, phải có một số lượng cần thết là bảy ngườido Toà án lựa chọn trong các thành viên của mình.

ĐIỀU 36. Các viện ad-hoc (đặc biệt)

1. Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biểnlập ra một viện ad-hoc (đặc biệt), gồm có ba thành viên trong số thành viên củamình, để xét xử một vụ tranh chấp nhất định mà viện có trách nhiệm theo đúngĐiều 188, khoản 1, điểm b. Thành phần của Viện này do Viện giải quyết các vụ tranhchấp liên quan đến đáy biển quyết định, với sự đồng ý của các bên hữu quan.

2. Nếu các bên không thoả thuận về thành phần của việnad-hoc (đặc biệt) đã nêu ở khoản 1, thì mỗi bên trong vụ tranh chấp, chỉ địnhmột thành viên và thành viên thứ 3 được chỉ định qua thoả thuận, hoặc nếu mộtbên không chỉ định thành viên, thì Chủ tịch của Viện giải quyết các vụ tranhchấp liên quan đến đáy biển phải tiến hành ngay việc chỉ định thành viên nàyhoặc các thành viên này, lựa chọn trong số các thành viên của Viện, sau khi đãtham khảo ý kiến của các bên.

3. Các thành viên của viện ad-hoc (đặc biệt) không được làmviệc cho một bên tranh chấp nào, cũng không được là công dân của một quốc gia nàotrong số các quốc gia tranh chấp.

ĐIỀU 37. Quyền đưa vấn đề ra Viện

Viện để ngỏ cho các quốc gia thành viên, cho Cơ quan quyềnlực và các thực thể hay cá nhân nói ở Mục 5 của phần XI.

ĐIỀU 38. Luật áp dụng

Ngoài các quy định của Điều 293, Viện áp dụng:

a) Các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực đãđược thông qua theo đúng Công ước; và

b) Các điều khoản của bất kỳ hợp đồng nào liên quan đến cáchoạt động tiến hành trong vùng, về tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng nóitrên.

ĐIỀU 39. Việc thi hành các quyết định của Viện

Các quyết định của Viện có hiệu lực ở trên lãnh thổ của cácquốc gia thành viên như các quyết định hay lệnh của cơ quan pháp luật cao nhấtcủa quốc gia thành viên trên lãnh thổ mà ở đó phải thi hành các quyết định nóitrên.

ĐIỀU 40. Việc áp dụng các mục khác của Phụ lục này

1. Các quy định của các mục khác trong Phụ lục này không mâuthuẫn với mục này được áp dụng cho Viện.

2. Trong việc thi hành các quyền hạn về tư vấn của mình.Viện dựa theo các quy định của Phụ lục này liên quan đến thủ tục tiến hành trướcToà án, trong phạm vi mà Viện thấy rằng các quy định này có thể áp dụng được.

MỤC 5. CÁC ĐIỀU SỬA ĐỔI

ĐIỀU 41. Các điều sửa đổi

1. Các điều sửa đổi đối với Phụ lục này, ngoài các điều sửađổi liên quan đến Mục 4, chỉ có thể được thông qua theo đúng Điều 313 hoặc bằngconsensus (thoả thuận) tại một hội nghị được triệu tập theo đúng Công ước.

2. Các điều sửa đổi đối với Mục 4 chỉ có thể được thông qua theođúng Điều 314.

3. Toà án có thể qua trao đổi bằng văn bản đưa ra cho cácquốc gia thành viên xét các đề nghị sửa đổi đối với Phụ lục này mà Toà án thấycần thiết theo đúng khoản 1 và 2.

PHỤ LỤC VII

TRỌNGTÀI

ĐIỀU 1. Việc khởi tố

Với điều kiện phải tuân thủ Phần XV, bất kỳ bên nào trongmột vụ tranh chấp đều có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục trọngtài đã trù định trong Phụ lục này bằng một thông báo viết gửi tới bên kia hoặchoặc các bên kia trong vụ tranh chấp. Thông báo có kèm theo bản trình bày cácyêu sách và các lý do làm căn cứ cho các yêu sách đó.

ĐIỀU 2. Danh sách các trọng tài

1. Tổng thư ký Liên hợp quốc lập ra và giữ một bản danh sáchcác trọng tài. Mỗi quốc gia thành viên có thể chỉ định bốn trọng tài có kinhnghiệm về những vấn đề biển và nổi tiếng nhất về sự công bằng, về năng lực vàliêm khiết. Tên của những người được chỉ định như vậy được ghi rõ trên một bảndanh sách.

2. Vào một thời điểm nào đó, nếu số lượng trọng tài được mộtquốc gia thành viên chỉ định và có trong bản danh sách dưới bốn người thì quốcgia này có quyền tiến hành việc chỉ định bổ sung mà mình có quyền.

3. Tên của một trọng tài được ghi ở trên bản danh sách chođến khi quốc gia thành viên đã chỉ định người trọng tài này rút người đó khỏidanh sách; dĩ nhiên, người trọng tài này phải tiếp tục làm nhiệm vụ trong mọi Toàtrọng tài mà họ được cử cho đến khi thủ tục tiến hành trước toà này kết thúc.

ĐIỀU 3. Thành lập Toà trọng tài

Theo thủ tục được trù định trong Phụ lục này, trừ khi cácbên liên quan có thoả thuận khác, Toà trọng tài được lập ra, như sau:

a) Với điều kiện tuân thủ điểm g, Toà trọng tài gồm có nămthành viên;

b) Bên nguyên cử một thành viên mà mình tuỳ ý lựa chọn ởtrên bản danh sách nói ở Điều 2 của Phụ lục này và người đó có thể là công dâncủa mình. Tên của người đó được ghi trong bản thông báo nói trong Điều 1 củaPhụ lục này;

c) Bên bị trong vụ tranh chấp cử trong thời hạn 30 ngày,tính từ khi nhận được thông báo nói ở Điều 1 của Phụ lục này một thành viên màmình tuỳ ý lựa chọn trên bản danh sách, và người đó có thể là công dân củamình. Nếu họ không cử người trong thời hạn nói trên, thì bên nguyên có thể yêucầu tiến hành việc cử thành viên đó theo đúng điểm c trong hai tuần lễ sau khihết thời hạn này;

d) Ba thành viên khác được các bên thoả thuận cử ra. Họ đượccác bên tuỳ ý chọn trên bản danh sách và là công dân của các quốc gia thứ ba, trừkhi các bên có thoả thuận khác. Các bên cử Chánh toà của Toà trọng tài trong sốba thành viên đó. Nêu trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nóiở Điều 1 của Phụ lục này, các bên hữu quan không thể thoả thuận về việc chỉđịnh một hay nhiều thành viên của Toà mà họ phải cử theo thoả thuận chung haylà về việc cử Chánh toà, thì theo yêu cầu của bất kỳ bên nào trong vụ tranhchấp, cần tiến hành cử 1 người hay những người đó theo đúng điểm e Yêu cầu đóphải được đưa lên trong hai tuần sau khi hết hạn 60 ngày này;

e) Trừ khi các bên hữu quan thoả thuận giao cho một ngườihoặc cho một quốc gia thứ ba do họ lựa chọn tiến hành các việc cử người cầnthiết theo điểm c và d, Chánh án của Toà án quốc tế về luật biển cần tiến hànhviệc hành. Nếu Chánh án bận hoặc là công dân của một trong các bên trong vụ tranhchấp, thì việc cử người giao cho thành viên thâm niên nhất của Toà án quốc tếvề luật biển sẵn sàng làm việc này và không phải là công dân của một trong cácbên hữu quan. Việc cử người tiến hành bằng cách lựa chọn trên bản danh cách nóiở Điều 2 của Phụ lục này trong một thời hạn là 30 ngày kể từ ngày nhận được đơnyêu cầu và có tham kháo ý kiến của các bên. Các thành viên được cử như thế cần phảithuộc các quốc tịch khác nhau, không được làm việc cho một bên nào trong vụtranh chấp; họ không trú ngụ thường xuyên ở trên lãnh thổ của một trong các bênhữu quan đó và không phải là công dân của một bên nào;

f) Mọi ghế bị trống đều được cử người thay thế theo các quyđịnh cho lần bổ nhiệm đầu tiên ;

g) Các bên cùng một phía cùng nhau cử một thành viên của Toàqua thoả thuận chung. Khi có nhiều bên đối lập nhau hay trong trường hợp khôngthống nhất về điểm liệu các bên có đứng vào cùng một phía không, thì mỗi bêntrong số họ cử một thành viên của Toà. Số lượng thành viên của Toà do các bêncử riêng rẽ bao giờ cũng phải ít hơn một người so với số lượng các thành viêncủa Toà được các bên hữu quan cùng cử ;

h) Các điểm a đến f được áp dụng đến hết mức có thể vào cácvụ tranh chấp xảy ra có quá hai bên hữu quan trở lên.

ĐIỀU 4. Các chức năng của Toà trọng tài

Một toà trọng tài được thành lập theo Điều 3 của Phụ lục nàythi hành các chức năng của mình theo đúng Phụ lục này và quy định khác của Côngước.

ĐIỀU 5. Thủ tục

Trừ khi các bên có thoả thuận khác, Toà trọng tài tự quyđịnh thủ tục của mình bằng cách cho mỗi bên có khả năng bảo vệ các quyền củamình và trình bày căn cứ của mình.

ĐIỀU 6. Những nghĩa vụ của các bên

Các bên tham gia tranh chấp tạo điều kiện dễ dàng cho Toàtrọng tài thực hiện nhiệm vụ của mình và, đặc biệt là, theo đúng pháp luật củamình và bằng tất cả các phương tiện thuộc quyền sử dụng của mình, cần phải:

a) Cung cấp cho Toà mọi tài liệu, các điều kiện dễ dàng vàcác thông tin thích hợp; và b) Cho Toà, khi điều đó là cần thiết, có khả năng dẫnra và nghe người làm chứng hoặc các chuyên gia và đến tại chỗ.

ĐIỀU 7. Lệ phí

Trừ khi Toà trọng tài có quyết định khác vì có những hoàncảnh đặc biệt của vụ việc, lệ phí của Toà, kể ca thù lao cho các thành viên củaToà, phải do các bên trong vụ tranh chấp chịu ngang nhau.

ĐIỀU 8. Đa số cần thiết phải thông qua các bản án

Các quyết định của Toà trọng tài được thông qua theo đa sốcác thành viên của Toà. Sự vắng mặt hoặc bỏ phiếu trắng của dưới một nửa sốthành viên không cản trở Toà ra quyết định. Trong trường hợp số phiếu ngangnhau, lá phiếu của Chánh toà là lá phiếu quyết định.

ĐIỀU 9. Vắng mặt

Khi một trong số các bên trong vụ tranh chấp không ra Toà hoặckhông trình bày các lý lẽ của mình, thì bên kia có thể yêu cầu Toà tiếp tụctrình tự tố tụng và phán quyết. Việc một bên vắng mặt hay việc một bên không trìnhbày các lý lẽ của mình không cản trở cho trình tự tố tụng. Trước khi ra phánquyết, Toà trọng tài cần phải biết chắc chắn rằng không những Toà có thẩm quyềnxét xử vụ tranh chấp mà còn chắc chắn rằng đơn kiện có cơ sở về mặt thực tếpháp lý.

ĐIỀU 10. Bản án

Bản án của Toà trọng tài được giới hạn ở nội dung của vụtranh chấp và phải nêu căn cứ. Bản án nêu tên của các thành viên của Toà trọngtài đã tham gia xét xử và thời gian ra bản án. Bất kỳ thành viên nào của Toàcũng có thể đính thêm vào bản án trình bày ý kiến riêng hoặc bất đồng của mình.

ĐIỀU 11. Tính chất tối hậu của bản án

Bản án có tính chất tối hậu và không được kháng cáo, trừ khicác bên trong vụ tranh chấp phải tuân theo bản án này.

ĐIỀU 12. Giải thích hoặc thi hành bản án

1. Bất kỳ tranh cãi nào có thể xảy ra giữa các bên trong vụtranh chấp liên quan đến việc giải thích hay cách thi hành bản án, đều có thểđược bên này hoặc bên kia đưa ra để Toà trọng tài đã tuyên án quyết định. Vìmục đích ấy, các ghế bị trống đều được cử người thay theo phương pháp được trùđịnh cho việc bổ nhiệm ban đầu các thành viên của Toà.

2. Nếu tất cả các bên trong vụ tranh chấp thoả thuận, thìbất kỳ tranh cãi nào thuộc loại này đều có thể được đệ trình lên một Toà kháctheo đúng Điều 287.

ĐIỀU 13. Áp dụng đối với các thực thể không phải là các quốcgia thành viên

Phụ lục này được áp dụng mutatis mutandis (với những thayđổi cần thiết về chi tiết) cho mọi vụ tranh chấp nào liên quan đến các thực thểkhông phải là quốc gia thành viên.

PHỤ LỤC VIII

TRỌNGTÀI ĐẶC BIỆT

ĐIỀU 1. Việc khởi tố

Với điều kiện tuân thủ phần XV, mọi bên tham gia vào một vụtranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các điều khoản của Côngước liên quan đến: 1- Việc đánh bắt hải sản, 2- Việc bảo vệ và gìn giữ môitrường biển, 3- Việc nghiên cứu khoa học biển, hoặc 4- Hàng hải, kể cả nạn ônhiễm do các tàu thuyền hay do nhận chìm, có thể đưa vụ tranh chấp ra giảiquyết theo thủ tục trọng tài đặc biệt được trù định trong Phụ lục này bằngthông báo viết gửi tới bên kia hoặc các bên kia trong vụ tranh chấp; thông báocó kèm theo bản trình bày các yêu sách và các căn cứ của các yêu sách đó.

ĐIỀU 2. Danh sách các chuyên viên

1. Một danh sách chuyên viên được lập ra và được duy trì chomỗi lĩnh vực sau đây: 1- Việc đánh bắt hải sản, 2- Việc bảo vệ và gìn giữ môitrường biển, 3- Việc nghiên cứu khoa học biển, 4- Hàng hải, kể cả nạn ô nhiễmdo tàu thuyền hay do nhận chìm gây ra.

2. Về mặt đánh bắt hải sản, danh sách chuyên viên do Tổ chứclương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc lập ra và duy trì; về mặt bảo vệ vàphòng giữ môi trường biển, do Chương trình của Liên hợp quốc về môi trường; vềmặt hàng hải, kể cả nạn ô nhiễm do tàu thuyền hay do nhận chìm gây ra, thì doTổ chức hàng hải quốc tế hoặc, tuỳ theo mỗi một trường hợp, do cơ quan phụ trợthích hợp mà Tổ chức, Chương trình hoặc Uỷ ban nói trên đã uỷ quyền thực hiệnchức năng này.

3. Mỗi quốc gia thành viên có thể chỉ định trong một lĩnh vựcđó hai chuyên viên có năng lực được xác minh và thừa nhận chung về pháp lý,khoa học hay kỹ thuật trong lĩnh vực nói trên và là những người nổi tiếng công minh,liêm khiết nhất. Trong mỗi lĩnh vực, bản danh sách có tên những người được chỉđịnh đó.

4. Ở vào một thời điểm nào đó, nếu số lượng chuyên viên domột quốc gia thành viên chỉ định và thể hiện trên một bản danh sách dưới haingười, thì quốc gia thành viên này có thể tiến hành việc chỉ định bổ sung và họcó quyền.

5. Tên của một chuyên viên được ghi trên bản danh sách chođến khi bị bên đã chỉ định chuyên viên đó rút đi, dĩ nhiên là chuyên viên nàyphải tiếp tục thi hành nhiệm vụ của mình trong mọi Toà trọng tài đặc biệt chođến lúc thủ tục tố tụng trước Toà này đã kết thúc.

ĐIỀU 3. Cơ cấu của Toà trọng tài đặc biệt

Theo thủ tục được trù định trong Phụ lục này, trừ khi cácbên có thoả thuận khác, Toà trọng tài đặc biệt được cấu thành như sau:

a. Với điều kiện tuân thủ điểm g, Toà trọng tài đặc biệt gồmcó năm thành viên;

b. Bên nguyên cử hai thành viên được lựa chọn tuỳ ý ở bảndanh sách hay các bản danh sách nói ở Điều 2 của Phụ lục này liên quan đến nộidung của vụ tranh chấp, một trong hai người này có thể là công dân của nước đó.Tên của các thành viên được cử như vậy, được ghi trong thông báo nói ở Điều 1của Phụ lục này;

c. Bên bị trong vụ tranh chấp, trong thời hạn 30 ngày tínhtừ ngày nhận được thông báo nói ở Điều 1 của Phụ lục này, cử hai thành viên dohọ tuỳ ý chọn trên danh sách hay các danh sách liên quan đến nội dung của vụ tranhchấp, và trong hai người đó, một người có thể là công dân của nước ấy. Nếu bênbị không cử người trong thời hạn này, thì bên nguyên có thể trong hai tuần saukhi hết hạn, yêu cầu tiến hành việc cử người theo đúng điểm e;

d. Các bên thoả thuận cử Chánh toà trọng tài đặc biệt đượclựa chọn tuỳ ý trên danh sách thích hợp và là công dân của một nước thứ ba, trừkhi các bên có thoả thuận khác. Trong một thời hạn là 30 ngày kể từ ngày nhậnđược thông báo nói ở Điều 1 của Phụ lục này, nếu các bên không thể thoả thuậnviệc cử Chánh toà, thì việc cử này được tiến hành theo đúng điểm e theo yêu cầucủa bất kỳ bên nào trong vụ tranh chấp. Yêu cầu đó được gửi đến trong vòng haituần sau khi hết thời hạn kể trên;

e. Trừ khi các bên thoả thuận giao phó cho một người hay mộtquốc gia thứ ba do họ lựa chọn, tiến hành việc cử người, Tổng thư ký Liên hợp quốctiến hành việc cử các uỷ viên cần thiết này trong thời hạn 30 ngày kể từ khinhận được yêu cầu theo các điểm c hay d. Việc của người này được tiến hành bằngcách lựa chọn ở trên bản danh sách hay các bản danh sách chuyên viên thích hợpnói ở Điều 2 của Phụ lục này, có trao đổi với các bên tranh chấp và với tổ chứcquốc tế thích hợp. Các uỷ viên được cử như vậy phải thuộc quốc tịch khác nhau, khôngđược làm việc cho một bên nào trong vụ tranh chấp; họ không được trú ngụ thườngxuyên ở trên lãnh thổ của một trong số các bên trong vụ tranh chấp và khôngphải là công dân của một trong các bên này;

f. Mọi ghế bị trống đều được cử người thay theo cách thứcđược trù định cho lần cử đầu tiên;

g. Các bên cùng đứng về một phía cũng nhau thoả thuận cử haithành viên của Toà. Khi có nhiều bên đối lập nhau, hay trong trường hợp khôngthống nhất về điểm liệu các bên có cùng một phía hay không, thì mỗi bên trongsố họ cử một thành viên của Toà;

h. Các điểm a đến f được áp dụng để hết mức có thể đối vớicác vụ tranh chấp có quá hai bên hữu quan trở lên.

ĐIỀU 4. Các quy định chung

Các Điều 4 đến 13 của Phụ lục VII được áp dụng mutatis mutadis(với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) vào thủ tục trọng tài đặc biệt nói ởtrong Phụ lục này.

ĐIỀU 5. Việc xác lập các sự kiện

1. Các bên của một vụ tranh chấp liên quan đến việc giảithích hay áp dụng các quy định của Công ước về: 1- Việc đánh bắt hải sản, 2-Việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, 3- Hàng hải, kể cả nạn ô nhiễm môitrường do tàu hay do nhận chìm gây ra, có thể, vào bất cứ lúc nào, thoả thuậnyêu cầu một Toà trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Điều 3 của Phụ lụcnày tiến hành một cuộc điều tra và xác lập các sự kiện từ nguồn gốc của vụtranh chấp.

2. Trừ khi các bên có thoả thuận khác, những sự kiện do Toàtrọng tài đặc biệt xác nhận theo khoản 1 được coi là những chứng cứ đã được xácminh giữa các bên hữu quan.

3. Nếu tất cả các bên trong vụ tranh chấp yêu cầu thì Toàtrọng tài đặc biệt có thể thảo ra các khuyến nghị; những khuyến nghị này khôngcó giá trị quyết định mà chỉ là cơ sở để các bên tiến hành xem xét lại nhữngvấn đề làm phát sinh ra tranh chấp.

4. Với điều kiện tuân thủ khoản 2, Toà trọng tài đặc biệtcần tuân thủ Phụ lục này, trừ khi các bên có thoả thuận khác.

PHỤ LỤC IX

SỰTHAM GIA CỦA CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ

ĐIỀU 1. Việc sử dụng thuật ngữ "tổ chức quốc tế"

Trong Điều 305 và Phụ lục này, thuật ngữ "các tổ chứcquốc tế" được hiểu là một tổ chức liên chính phủ được các quốc gia lậpnên, các quốc gia này trao cho tổ chức đó thẩm quyền về các vấn đề mà Công ướcđề cập, kể cả thẩm quyền ký kết các hiệp ước về vấn đề này.

ĐIỀU 2. Việc ký kết

Một tổ chức quốc tế có thể ký Công ước, nếu đa số các quốcgia hội viên của tổ chức này là những bên ký kết Công ước, một tổ chức quốc tếra một tuyên bố nói rõ các vấn đề thuộc phạm vi Công ước mà các quốc gia hộiviên ký Công ước đã trao thẩm quyền cho tổ chức quốc tế này, cũng như tính chấtvà phạm vi của thẩm quyền này.

ĐIỀU 3. Việc xác nhận chính thức và việc gia nhập

1. Một tổ chức quốc tế có thể gửi lưu chiểu một văn bản xácnhận chính thức hay gia nhập, nếu đa số các quốc gia hội viên của nó gửi hoặcđã gửi lưu chiểu các văn bản phê chuẩn hay gia nhập của mình.

2. Văn bản của tổ chức quốc tế gửi lưu chiểu lên cần phải cócác cam kết và tuyên bố đã quy đinh ở Điều 4 và 5 của Phụ lục này.

ĐIỀU 4. Phạm vi tham gia, các quyền và nghĩa vụ

1. Đối với các vấn đề mà các quốc gia hội viên và là thànhviên của Công ước đã giao thẩm quyền cho tổ chức quốc tế thì văn bản xác nhậnchính thức hoặc gia nhập do tổ chức quốc tế đó gửi lưu chiểu cần có lời cam kếtchấp nhận các quyền và nghĩa vụ đã được trù định trong Công ước đối với cácquốc gia.

2. Một tổ chức quốc tế là thành viên của Công ước trong phạmvi các giới hạn thẩm quyền được xác định trong các tuyên bố, thông tin hoặcthông báo nói ở Điều 5 của Phụ lục này.

3. Đối với các vấn đề đã được các quốc gia hội viên là thànhviên của Công ước trao thẩm quyền cho thì một tổ chức quốc tế sẽ sử dụng cácquyền và làm tròn nghĩa vụ, mà lẽ ra theo Công ước là những quyền và nghĩa vụcủa các quốc gia này. Các quốc gia hội viên của một tổ chức quốc tế không sử dụngthẩm quyền của mình mà trao cho tổ chức này.

4. Không thể có trường hợp nào mà sự tham gia của một tổchức quốc tế lại dẫn đến một sự đại diện cao hơn sự đại diện mà các quốc giahội viên là thành viên của Công ước có thể đòi hỏi. Quy định này đã được ápdụng, đặc biệt là đối với các quyền ra các quyết định.

5. Việc tham gia của một tổ chức quốc tế không đem lại chocác quốc gia hội viên của tố chức đó không phải là thành viên của Công ước mộtquyền nào do Công ước trù định.

6. Trong trường hợp có tranh chấp giữa những nghĩa vụ thuộcbổn phận của một tổ chức quốc tế theo Công ước và những nghĩa vụ thuộc bổn phậncủa tổ chức này theo điều ước đã thành lập ra nó hoặc theo mọi văn bản có liênquan, thì các nghĩa vụ do Công ước quy định có giá trị cao hơn.

ĐIỀU 5. Các tuyên bố, thông báo và thông tin

1. Tài liệu xác nhận chính thức hoặc gia nhập của một tổchức quốc tế cần có một tuyên bố xác định rõ các vấn đề thuộc phạm vi Công ướcmà các quốc gia hội viên là thành viên của Công ước đã trao thẩm quyền cho tổ chứcquốc tế này.

2. Một quốc gia hội viên của một tổ chức quốc tế, khi phêchuẩn hay gia nhập Công ước, hoặc khi tổ chức quốc tế gửi lưu chiểu văn kiệnxác nhận chính thức hay gia nhập, phải làm một tuyên bố xác định các vấn đề đềcập trong Công ước mà tổ chức đã được trao thẩm quyền, vào ngày muộn nhất tronghai thời điểm nói trên.

3. Các quốc gia thành viên là hội viên của một tổ chức quốctế, thành viên của Công ước được coi như có thẩm quyền về tất cả các vấn đềthuộc phạm vi của Công ước mà các quốc gia nói trên đã không ghi một cách rõràng rằng, họ đã trao thẩm quyền cho tổ chức bằng một tuyên bố, thông tin hoặcthông báo làm theo đúng điều này.

4. Tổ chức quốc tế và các quốc gia hội viên là thành viêncủa Công ước thông báo ngay cho người lưu chiểu bất kỳ sự sửa đổi nào về việcphân chia các thẩm quyền được ghi rõ trong các tuyên bố nói ở khoản 1 và 2, kểcả những việc chuyển giao thẩm quyền mới.

5. Bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể yêu cầu một tổchức quốc tế và các quốc gia hội viên của tổ chức này là thành viên của Côngước, chỉ rõ ai trong tổ chức hay trong các quốc gia hội viên này có thẩm quyềnđối với một vấn đề nhất định được đặt ra. Tổ chức này và các quốc gia hội viênhữu quan thông báo tình hình này, trong một thời hạn hợp lý. Họ cũng có thể tựmình chủ động thông báo một tình hình đó.

6. Tính chất và vi phạm của những thẩm quyền được chuyểngiao cần phải được xác định rõ trong các tuyên bố, thông tin và thông báo làmtheo điều này.

ĐIỀU 6. Trách nhiệm

1. Các bên có thẩm quyền theo Điều 5 của Phụ lục này cótrách nhiệm về mọi thiếu sót đối với những nghĩa vụ nảy sinh từ Công ước và đốivới tất cả các vi phạm khác đối với Công ước.

2. Bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể yêu cầu một tổchức quốc tế hoặc các quốc gia hội viên của tổ chức đó là thành viên của Côngước chỉ rõ người có trách nhiệm trong một trường hợp riêng biệt. Tổ chức và cácquốc gia hội viên hữu quan cần phải thông báo tình hình này. Nếu không thựchiện điều này trong một thời gian hợp lý, hoặc nếu họ thông báo các thông tin tráingược nhau, thì họ phải cùng nhau và liên đới chịu trách nhiệm.

ĐIỀU 7. Giải quyết các vụ tranh chấp

1. Khi gửi lưu chiểu văn kiện xác nhận chính thức hay gianhập của mình, hoặc vào bất kỳ thời điểm nào tiếp sau, một tổ chức quốc tế cóquyền tự do lựa chọn, qua tuyên bố bằng văn bản, một hoặc nhiều phương pháp đãnêu ở Điều 287, khoản 1 điểm a, c, và để giải quyết các tranh chấp liên quan đếnviệc giải thích hoặc áp dụng Công ước.

2. Phần XV được áp dụng mutatis mutadis (với những thay đổicần thiết về chi tiết) cho bất kỳ vụ tranh chấp nào giữa các thành viên củaCông ước mà một hoặc nhiều thành viên đó là các tổ chức quốc tế.

3. Khi một tổ chức quốc tế và một hoặc nhiều quốc gia hộiviên của tổ chức này đứng về một phía, thì coi như tổ chức đã chấp nhận các thủtục giải quyết tranh chấp như các quốc gia này; trong trường hợp mà một trongsố các quốc gia này chỉ chọn Toà án quốc tế theo Điều 287, thì tổ chức và quốcgia hội viên này coi như đã chấp nhận trọng tài theo thủ tục trù định ở Phụ lụcVII, trừ khi các bên tham gia vào vụ tranh chấp thoả thuận lựa chọn một phươngpháp khác.

ĐIỀU 8. Áp dụng Phần XVII

Phần XVII được áp dụng mutatis mutadis (với những thay đổicần thiết về chi tiết) cho các tổ chức quốc tế, với điều kiện tuân thủ các quyđịnh sau đây

a. Văn kiện xác nhận chính thức hoặc gia nhập của một tổchức quốc tế không được tính đến trong việc áp dụng Điều 303, khoản 1;

b. i. Một tổ chức quốc tế có quyền đặc biệt để hành độngtheo các Điều 312 đến 315, nếu tổ chức này có thẩm quyền theo Điều 5 của Phụlục này đối với toàn bộ vấn đề nói trong điều sửa đổi;

ii. Khi một tổ chức quốc tế có thẩm quyền theo Điều 5 củaPhụ lục này đối với toàn bộ vấn đề trong điều sửa đổi, thì văn kiện xác nhậnchính thức hoặc gia nhập của tổ chức này liên quan đến điều sửa đổi nói trênđược coi như văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập của từng quốc gia hội viên làthành viên của Công ước trong việc áp dụng Điều 316, các khoản 1, 2 và 3;

iii. Trong tất cả các trường hợp khác, văn kiện xác nhậnchính thức hoặc gia nhập của một tổ chức quốc tế không được tính đến trong việcáp dụng Điều 316, khoản 1 và 2;

c. i. Trong Điều 317, một tổ chức quốc tế mà trong số cáchội viên của nó có một quốc gia thành viên của Công ước và tổ chức quốc tế đóvẫn tiếp tục thoả mãn các điều kiện đã được trù định trong Điều 1 của Phụ lụcnày, thì tổ chức quốc tế này không thể từ bỏ Công ước;

ii. Một tổ chức quốc tế phải từ bỏ Công ước, nếu trong số hội viên của nó không còn một quốc gia nào là thành viên của Công ước hoặc nếutổ chức này đã thôi không thoả mãn các điều kiện đã được trù định trong Điều 1của Phụ lục này. Sự từ bỏ đó có hiệu lực ngay lập tức.