BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ

-----

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------

Số: 1923/TCT-CS
V/v: thuế GTGT quặng sắt

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008

Kínhgửi: Bộ Công thương

Tổng cục Thuế nhận được công văn củamột số Cục thuế địa phương vướng mắc về việc xác định thuế suất thuế GTGT đốivới quặng sắt xuất khẩu; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm 1.27, mục II, Phần A Thôngtư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị địnhsố 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004và Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2007 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGThướng dẫn: sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thácchưa chếbiến thành sản phẩm khác, cụ thể dưới đây: … d. quặng măng-gan, quặng thiếc,quặng sắt, quặng cờ-rôm-mít, quặng êmênhít, quặng a-pa-tít, không thuộcđối tượng chịu thuế GTGT.

Theo phản ánh của Cục thuế địa phươngcó một số doanh nghiệp hoạt động khai thác sản phẩm quặng sắt đã qua công đoạnchế biến (đập, nghiền, tuyển từ, loại bỏ tạp chất) để được quặng Magnetit chứahàm lượng sắt 60-68% Fe tương đương hàm lượng trên 75% Fe2O3nhưng chưa xác định được quặng này có phải là quặng sắt qua chế biến thành sảnphẩm khác hay không?

Để việc thực hiện quản lý thu thuếcủa ngành thuế có hiệu quả, đề nghị quý cơ quan cho biết: Tiêu chuẩn để phânbiệt quặng sắt đã qua chế biến và chưa qua chế biến? quặng Magnetit chứahàm lượng sắt 60-68% Fe tương đương hàm lượng trên 75% Fe2O3có phải là quặng sắt chưa qua chế biến hay không?

Tổng cục Thuế rất mong có sự phốihợp, hợp tác trong công tác quản lý thuế của quý cơ quan. Ý kiến xin gửi vềTổng cục Thuế (123 – Lò đúc – Hai Bà Trưng – Hà Nội) trước ngày 29/5/2008.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục thuế TP Hải Phòng;
Lưu: VT, CS (2b)

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương