BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN
*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
******

Số: 6577/TCHQ-KTTT
V/v: giá tính thuế xe ô tô NK

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2007

Kínhgửi: Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh

Qua xem xét báo cáo của Cục Hải quanTP. Hồ Chí Minh tại công văn số: 367/HQTP-TGTT ngày 02/10/2007 và hồ sơ gửi kèmtheo yêu cầu của Tổng cục Hải quan tại công văn số: 5307/TCHQ-KTTT ngày 17/9/2007về việc xác định trị giá tính thuế đối với 12 lô hàng xe ô tô nhập khẩu sau khitham vấn.

- Căn cứ nghị định số: 40/2007/NĐ-CPngày 16/3/2007 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn trình tự, nguyên tắc vàcác phương pháp xác định trị giá tính thuế có hiệu lực tại thời điểm mở tờ khai;

Căn cứ hồ sơ các lô hàng nhập khẩu doCục Hải quan Tp. Hồ Chí Minh sao gửi (bản photocopy) bao gồm: tờ khai nhập khẩu,tờ khai trị giá, hợp đồng ngoại thương, Invoice do doanh nghiệp khai báo và nộpcho cơ quan Hải quan khi làm thủ tục; biên bản tham vấn, thông báo kết quả xácđịnh trị giá của cơ quan Hải quan;

Trên cơ sở các thông tin dữ liệu cósẵn tại thời điểm xác định trị giá.

Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

1. Việc xác định trị giá tính thuế củaCục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đối với các lô hàng nhập khẩu tại báo cáo nêu trênlà chưa đúng chế độ quy định và các văn bản hướng dẫn về việc xác định trị giátính thuế, dẫn đến trị giá tính thuế của các lô hàng được xác định thấp hơn sovới trị giá tính thuế mặt hàng giống hệt, tương tự nhập khẩu cùng thời điểm ápdụng tại các địa phương khác và giá tính thuế được xác định tại Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh có xu hướng giảm dần. Cụ thể:

1.1/ Lấy giá chào bán trên mạng trừđi một tỷ lệ cố định (20%) để xác định trị giá tính thuế, trong khi có dữ liệu giámặt hàng giống hệt, tương tự trên hệ thống GTT22 đã được chấp nhận trị giá khaibáo hoặc điều chỉnh giá tính thuế sau tham vấn tại các địa phương khác và tạiCục Hải quan TP. Hồ Chí Minh nhưng không được sử dụng làm thông tin xác địnhtrị giá bao gồm:

- Tờ khai số: 40/NKDO /KV1 ngày25/6/2007;

- Tờ khai số: 16/NKDO /KV2 ngày25/6/2007;

- Tờ khai số: 444/NKDO /KV3-2 ngày09/8/2007;

- Tờ khai số: 58/NKDO /KV1 ngày13/8/2007;

- Tờ khai số: 284/NKDO /SB ngày30/7/2007;

1.2/ Việc khấu trừ khoản chiết khấu,giảm giá khi xác định trị giá không đúng theo quy định tại điểm 2.1 mục 2 phầnI phụ lục 1 Thông tư số: 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính cụthể: Khoản chiết khấu, giảm giá không được doanh nghiệp khai báo trên tờ khaitrị giá nhưng vẫn được Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh khấu trừ khi xác định trịgiá là không có cơ sở bao gồm:

- Tờ khai số: 486/NKDO /KV3-2 ngày13/8/2007;

- Tờ khai số: 444/NKDO /KV3-2 ngày09/8/2007;

2. Từ những sai sót nêu trên, yêu cầuCục Hải quan TP. Hồ Chí Minh:

2.1/ Chấn chỉnh lại công tác xác địnhtrị giá tính thuế trong toàn đơn vị, thực hiện theo đúng chế độ quy định, cácvăn bản hướng dẫn của Tổng cục Hải quan về giá tính thuế. Cụ thể:

- Việc xác định trị giá tính thuế phảituân thủ theo đúng trình tự, nguyên tắc, các phương pháp xác định trị giá tínhthuế quy định tại Nghị định số: 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ vàcác văn bản hướng dẫn xác định trị giá hiện hành trên cơ sở các thông tin, dữliệu có sẵn tại thời điểm xác định trị giá (thông tin về hàng hóa giống hệt, tươngtự đã được xác định trị giá trong phạm vi 60 ngày, 90 ngày, ngoài 90 ngày cósẵn trên Hệ thống thông tin dữ liệu, bao gồm: Giá khai báo được chấp nhận và giáđiều chỉnh sau khi tham vấn bác bỏ giá khai báo; các nguồn thông tin khác như:giá chào bán trên Internet, giá bán thị trường, …).

Lưu ý: Thông tin dữ liệu giácủa các lô hàng nhập khẩu nêu trên và các lô hàng tương tự chưa thực hiện đúng chếđộ quy định và các văn bản hướng dẫn về việc xác định trị giá tính thuế khôngđược sử dụng để làm thông tin, dữ liệu cho việc kiểm tra, xác định trị giá củacác lô hàng còn trong thời hạn tham vấn và các lô hàng mới phát sinh.

Đối với trường hợp xác định trị giátheo phương pháp 6, trước hết cần mở rộng phạm vi thời gian khi tra cứu các lô hànggiống hệt, tương tự trên hệ thống GTT22 để áp dụng tuần tự, linh hoạt phươngpháp 2, phương pháp 3. Trường hợp không có thông tin về hàng hóa giống hệt,tương tự khi tra cứu thì mở rộng khái niệm hàng hóa giống hệt, tương tự để tìmkiếm khi tra cứu (mở rộng về xuất xứ, về tính năng, công dụng, …) kết hợp vớithu thập, đánh giá và tổng hợp các nguồn thông tin khác như: thông tin từ giábán chào bán trên mạng Internet, thông tin từ giá bán thị trường … để đề xuấtmức giá phù hợp. Không dùng phương pháp lấy mức giá chào bán trên mạng trừ đimột tỷ lệ cố định (20%) để xác định trị giá vì phương pháp này vi phạm điểm 2điều 12 nghị định số: 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ.

- Việc khấu trừ các yếu tố chiết khấu,giảm giá phải thực hiện theo đúng quy định tại điểm 2.1 mục 2 phần I phụ lục 1Thông tư số: 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính trên cơ sở kiểmtra chi tiết khoản chiết khấu, giảm giá khai báo trên tờ khai nhập khẩu, tờkhai trị giá, hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán, các tài liệu có liên quanđến khoản giảm giá đồng thời phân tích tính hợp lý của các yếu tố chiết khấu,giảm giá của cùng mặt hàng, cùng xuất xứ, cấp độ thương mại, số lượng của doanhnghiệp trong các khoảng thời gian khác nhau hay của các doanh nghiệp trong cùngmột thời gian hay các khoảng thời gian khác nhau, tránh tình trạng doanh nghiệplợi dụng khoản giảm giá để khai báo thấp dần trị giá.

2.2. Đối với các lô hàng đã xác địnhtrị giá chưa đúng, yêu cầu Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh chỉ đạo phònggiá và các bộ phận có liên quan tự rà soát, chủ động khắc phục sai sót, lập hồsơ kèm theo các thông tin nghi vấn chuyển Chi cục kiểm tra sau thông quan đểthực hiện kiểm tra sau thông quan theo quy định; Các lô hàng mới phát sinh phảithực hiện theo đúng chế độ và các văn bản hướng dẫn trong quá trình tham vấn vàxác định trị giá; có biện pháp chỉ đạo về tổ chức và sắp xếp đội ngũ cán bộchuyên sâu làm công tác giá để tránh xảy ra sai sót về công tác xác định trị giátính thuế.

Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hảiquan TP. Hồ Chí Minh biết và thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, KTTT (3).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Đặng Thị Bình An