BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 101/BNN-KH
V/v báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn và công tác điều phối phát triển các vùng Kinh tế trọng điểm giai đoạn 2006- 2010; phương hướng, nhiệm vụ năm 2012, giai đoạn 2011-2015

Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 2012

Kínhgửi: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Theo yêu cầu tại công văn số 8969/VPCP-ĐPngày 16/12/2011 của Văn phòng Chính phủ về việc chuẩn bị tổ chức Hội nghị BanChỉ đạo Điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn đã hoàn thành Báo cáo đánh giá lĩnh vực/ngành quản lý theonội dung hướng dẫn tại văn bản nói trên.

Bộ Nông nghiệp và PTNT xin gửi Bộ Kếhoạch và Đầu tư Báo cáo của ngành (bản kèm theo) để tổng hợp Báo cáo chung theoyêu cầu của Văn phòng Chính phủ./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Chính phủ;
- Lưu VT, KH.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Thị Xuân Thu

BÁO CÁO

ĐÁNHGIÁ TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
(Kèm theo công văn số 101/BNN-KH ngày 12/01/2012 của Bộ NN&PTNT)

Phần thứ nhất.

TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CÁC VÙNGKINH TẾ TRỌNG ĐIỂM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRONG NĂM 2012VÀ GIAI ĐOẠN 2011- 2015

A. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆPVÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

I. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍABẮC

1. Những kết quả chính

1.1. Về sản xuất nông nghiệp(nông, lâm, thủy sản), giai đoạn 2006 – 2010, giá trị sản xuất nông lâm thủysản vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc (KTTĐPB - bao gồm cả Hà Nam, Ninh Bình vàNam Định) đạt tốc độ tăng bình quân gần 4%/năm; năm 2010 đạt trên 34 ngàn tỷ đồng.

- Trồng trọt: Năm 2010, sảnlượng lương thực có hạt toàn vùng KTTĐPB đạt 7,24 triệu tấn (thóc: 6,8 triệu tấn,ngô: 440 ngàn tấn); sản lượng thịt hơi các loại 1.277 ngàn tấn; sữa tươi 22,2ngàn tấn; sản lượng thủy sản trên 600 ngàn tấn. Kết quả này đảm bảo an ninhlương thực trong vùng và góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốcgia.

+ Cây lúa: Mặc dù diện tích lúa giảmso với năm 2005, nhưng nhờ tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canhnên năng suất lúa cả vùng năm 2010 đạt xấp xỉ 59 tạ/ha, tăng gần 5 tạ/ha so vớinăm 2005; sản lượng tăng 6,3%.

+ Cây ngô được trồng chủ yếu trêndiện tích đất lúa 2 vụ trong vụ đông. So với năm 2005, diện tích ngô toàn vùngnăm 2010 tăng gần 10 ngàn ha; năng suất tăng 5 tạ/ha; sản lượng tăng xấp xỉ 84ngàn tấn, ước đạt 440 ngàn tấn.

+ Diện tích rau đậu toàn vùng tươngđối ổn định ở mức 170 ngàn ha. Các tỉnh trong vùng đã quy hoạch, đầu tư xây dựngvùng sản xuất rau an toàn quy mô gần 10 ngàn ha. Riêng TP. Hà Nội, có trên 30 tổchức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn, 9 cơsở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sơ chế. Sản xuất rau theo công nghệ thủycanh tuần hoàn và trên hệ thống giá thể hữu cơ đã được ứng dụng trên địa bàn HàNội.

+ Diện tích cây công nghiệp hàngnăm năm 2010 tăng 15 ngàn ha so với năm 2005, chủ yếu là mở rộng diện tích câyđậu tương vụ đông.

+ Cây ăn quả các loại toàn vùng hiệncó khoảng 100 ngàn ha, tăng gần 17 ngàn ha so với năm 2005. Nhãn, vải, chuối lànhững loại cây ăn quả chính, chiếm gần 50% diện tích cây ăn quả toàn vùng.

- Chăn nuôi, nhất là chănnuôi lợn đã phát triển về cả quy mô đàn và chất lượng vật nuôi. Đàn lợn thịt vớiphương thức chăn nuôi hộ hiện đã đạt mức bình quân 20 con/hộ; chăn nuôi trangtrại mức bình quân 100 con/trang trại; chăn nuôi công nghiệp bình quân 215con/cơ sở. Trọng lượng thịt hơi xuất chuồng chăn nuôi trang trại và công nghiệpđạt từ 90-100 kg/con;

Năm 2010 toàn vùng có 170 ngàn contrâu, gần 700 ngàn con bò, 7,3 triệu con lợn và trên 76 triệu con gia cầm; sảnphẩm thịt hơi các loại ước đạt 1.277 ngàn tấn, tăng 388 ngàn tấn so với năm2005; sản lượng sữa tươi đạt trên 22 ngàn tấn, tăng 57%. Trong vòng 5 năm qua,đàn bò sữa tăng từ 12,4 ngàn con lên gần 50 ngàn con.

- Thủy sản: Diện tích và sảnlượng nuôi trồng thủy sản vùng KTTĐPB liên tục tăng trong giai đoạn 2006-2010.Năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đạt 126,7 ngàn ha, tăng 19ngàn ha so với năm 2005; sản lượng thủy sản nuôi trồng các loại đạt trên 400ngàn tấn, tăng 70%.

+ Chương trình xây dựng khu neo đậutránh trú bão đã đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng tại Cát Bà, TP. HảiPhòng với tổng mức đầu tư 113 tỷ đồng. Ngân sách trung ương hỗ trợ tỉnh QuảngNinh 20 tỷ đồng đầu tư xây dựng 02 khu neo đậu tránh trú bão cấp tỉnh tại huyệnHải Hà và Vân Đồn; hỗ trợ đầu tư 49 tỷ đồng xây dựng 4 khu neo đậu tránh trúbão cấp tỉnh tại TP. Hải Phòng (Ngọc Hải, Quán Chiên, Đông Xuân, Vạn Úc). TỉnhNinh Bình được hỗ trợ đầu tư 65 tỷ đồng đầu tư xây dựng khu neo đậu tránh trúbão cửa sông Đáy. Tỉnh Nam Định đang triển khai xây dựng khu neo đậu tránh trúbão cửa sông Ninh Cơ với tổng mức đầu tư 30 tỷ đồng. Tỉnh Thái Bình đang triểnkhai xây dựng khu neo đậu tránh trú bão Cửa Lân với tổng mức đầu tư 15 tỷ đồng.

+ Chương trình phát triển giống thủysản đã đầu tư 125 tỷ đồng xây dựng 02 Trung tâm giống thủy hải sản cấp vùng tạiHải Dương và TP. Hải Phòng. Ngoài ra, các tỉnh trong vùng được ngân sách trungương hỗ trợ đầu tư 648,5 tỷ đồng xây dựng các trung tâm giống thủy, hải sản cấptỉnh.

- Lâm nghiệp: Tính đến cuốinăm 2010, diện tích đất có rừng toàn vùng KTTĐPB đạt gần 434,8 ngàn ha, tăng31,5 ngàn ha so với năm 2005; độ che phủ của rừng đạt trên 20%, tăng 1,5%. Giaiđoạn 2006-2010, các tỉnh trong vùng đã trồng mới 94 ngàn ha rừng tập trung(trong đó có 36,7 ngàn ha rừng phòng hộ, 57,3 ngàn ha rừng sản xuất); khoanhnuôi tái sinh và trồng dặm rừng 190 ngàn ha; chăm sóc rừng trên 100 ngàn ha;khoán bảo vệ rừng trên 700 ngàn ha; trồng gần 15 triệu cây phân tán. Tính theogiá cố định năm 1994, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2010 ước đạt 375 tỷđồng, tăng 13% so với năm 2005.

1.2. Về quản lý và thực hiện quyhoạch thủy lợi, đê sông, đê biển

Giai đoạn 2006-2010, bằng các nguồnvốn khác nhau (vốn ODA, vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ), BộNông nghiệp và PTNT đã đầu tư tập trung theo các nhiệm vụ chủ yếu như: cải tạo,nâng cấp, từng bước hiện đại hóa các hệ thống thủy lợi hiện có, nhất là các hệthống lớn như Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, sông Nhuệ, đảm bảo tiêu nước cho Thủ đôHà Nội và các vùng bị ngập úng khác bằng các chương trình tu bổ, cải tạo nâng cấphệ thống đê sông, hệ thống đê biển bảo đảm chống lũ, bão theo tiêu chuẩn thiếtkế. Ngoài ra đã tiến hành sửa chữa bảo đảm an toàn các hồ chứa nước, an toàncác công trình. Xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sảnxuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các mục tiêu tổng hợp khác. Xây dựngcác công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Một số công trình được đầu tư hoànthành như Dự án phát triển thủy lợi lưu vực sông Hồng giai đoạn 2 (ADB2), gồm:Hệ thống thủy nông Gia Thuận (Hà Nội, Bắc Ninh), Dự án phòng lũ sông Đuống,Nâng cấp hệ thống kè sông Đuống (Bắc Ninh), Sửa chữa nâng cấp trạm bơm Vân Đình,Trạm bơm Hạ Dục 2 (Hà Nội), Trạm bơm tiêu Bình Hàn - Cầu Xộp, Trạm bơm Mai Xá B(Hưng Yên), Nâng cấp hệ thống thủy nông Nam Sông Mới, Nạo vét kênh Hòn Ngọc (HảiPhòng), Nâng cấp kênh tiêu Bến Tre (Vĩnh Phúc); Cống Tắc Giang - Phủ Lý (HàNam); các công trình vốn trái phiếu Chính phủ như cụm công trình đầu mối HátMôn - Đập Đáy (Hà Nội), Hồ chứa nước Đầm Hà Động (Quảng Ninh); các công trình vốnđầu tư phát triển như Hồ Thanh Lanh (Vĩnh Phúc), Cống Hà Đông (Hà Nội)…

Được sự quan tâm đầu tư của Chínhphủ, cùng với nguồn ngân sách của Thành phố Hà Nội, 100% các tuyến đê sông Hồngtrên địa bàn thành phố Hà Nội đã được kiên cố hóa; những vị trí sạt lở hai bênbờ sông Hồng đã được đầu tư kè bảo vệ; nhiều trọng điểm xung yếu bờ sông Hồngqua thành phố Hà Nội đã được đầu tư xử lý. Đối với các tỉnh khác thuộc vùngKTTĐPB việc cứng hóa mặt đê đã được quan tâm đầu tư và thực hiện trong thờigian qua.

Các công trình thủy lợi được đầu tưđã đảm bảo nguồn nước phục vụ cho 883 ngàn ha đất nông nghiệp; cấp nước cho khoảng70% diện tích nuôi trồng thủy sản; tạo đủ nguồn nước cấp cho các ngành côngnghiệp, xây dựng, đô thị, du lịch dịch vụ; đảm bảo năng lực tiêu úng (kể cả độnglực và tự chảy) cho 1.182 ngàn ha; chống lũ cho vùng đồng bằng sông Hồng vàsông Thái Bình với tần suất 0,4% vào năm 2010 và tần suất 0,2% vào năm 2020 (tạiHà Nội); củng cố, nâng cấp gần 150 km đê; 100% các tuyến đê sông Hồng trên địabàn TP. Hà Nội đã được cứng hóa. Chương trình nước sạch và VSMTNT giai đoạn2006-2010 đã đầu tư 4.611,4 tỷ đồng xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt;đến năm 2010, có 2,8 triệu hộ dân nông thôn trong vùng được sử dụng nước sạchsinh hoạt, đạt tỷ lệ 85% và tăng 19% so với năm 2005.

1.3. Chương trình xây dựng nôngthôn mới

Thực hiện Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 các tỉnh đã triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm,thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới. Ngoài 02 xã điểm tạiHà Nội và Nam Định thuộc 11 xã điểm do Trung ương chỉ đạo, các tỉnh đã chọn 207xã để triển khai thí điểm Chương trình xây dựng nông thôn mới. Bộ Nông nghiệpvà PTNT đã phân công các đơn vị trực thuộc lồng ghép các chương trình, dự án đầutư, hỗ trợ khoa học kỹ thuật… giúp các xã điểm do Trung ương chỉ đạo xây dựngmô hình nông thôn mới.

Năm 2011, ngân sách Trung ương hỗ trợcác tỉnh trong vùng 186,5 tỷ đồng để triển khai Chương trình nông thôn mới.Trong đó có 73,6 tỷ đồng vốn đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và112,9 tỷ đồng vốn sự nghiệp thực hiện quy hoạch các xã, đào tạo, tuyên truyềnvà phát triển sản xuất. Năm 2011 hầu hết các tỉnh trong vùng hoàn thành côngtác quy hoạch cấp xã.

2. Tồn tại và thách thức

- Sản xuất nông nghiệp phổ biếntrong tình trạng quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là hình thức kinh tế hộ gia đình, nhấtlà trong ngành chăn nuôi làm cho khả năng ứng phó với dịch bệnh rất khó khăn.Cơ cấu sản xuất chuyển dịch chậm, tỷ suất hàng hóa chưa cao nên thu nhập củanông dân còn thấp, thiếu động lực gắn người dân với đồng ruộng. Nông dân có xuhướng bỏ ruộng đi làm thuê cho các ngành kinh tế khác có thu nhập cao hơn.

- Vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễmmôi trường nông thôn đang là những vấn đề bức xúc ở hầu hết các địa phươngtrong vùng.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôntuy được tăng cường nhưng chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển sản xuất và kinhtế - xã hội trong vùng, đặc biệt trước nguy cơ của biến đổi khí hậu, nước biểndâng. Những công trình đầu mối được xây dựng từ lâu đã xuống cấp; hệ thống kênhmương bị bồi lấp, hệ thống đê điều vẫn còn tiềm ẩn những hiểm họa…

II. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀNTRUNG

1. Những kết quả chính.

1.1. Về sản xuất nông nghiệp(nông, lâm, thủy sản): Từ năm 2006 đến năm 2010, giá trị sản xuất nông, lâmnghiệp và thủy sản các tỉnh vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐMT) từ9.486 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994) tăng lên 11.822 tỷ đồng, tăng bình quân4,5%/năm.

- Trồng trọt: Sản xuất lươngthực toàn vùng tiếp tục tăng cả diện tích, năng suất và sản lượng. So với năm2005, diện tích cây lương thực có hạt toàn vùng năm 2010 tăng 6,4 ngàn ha (hiệnở mức 365,8 ngàn ha), sản lượng lương thực có hạt tăng 2,8%/năm (cả nước 2,0%),năm 2010 đạt khoảng 1,92 triệu tấn; bình quân đầu người 312 kg; tăng 40 kg so vớinăm 2015 (cả nước tăng 33 kg). Mặc dù là khu vực có tốc độ đô thị hóa cao, nhucầu chuyển đổi đất sang mục đích phát triển công nghiệp, đô thị, du lịch lớnnhưng đất sản xuất nông nghiệp cơ bản giữ được mức ổn định.

+ Cây lúa, trước năm 2005 các địaphương thực hiện chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, những diện tích đất lúa hiệuquả thấp đã được chuyển sang trồng cây có giá trị hơn hoặc nuôi trồng thủy sản.Diện tích lúa toàn vùng từ 2000 đến 2004 giảm 2,3%/năm. Từ năm 2005, nhờ áp dụngbiện pháp cải tạo đất nên đến năm 2010 diện tích lúa tăng 3,3 ngàn ha, đạt mức332,2 ngàn ha; sản lượng tăng 225 ngàn tấn, đạt 1,76 triệu tấn.

+ Ngô: Diện tích gieo trồng ổn địnhkhoảng 33 ngàn ha, nhưng do năng suất tăng 3,4 tạ/ha so với năm 2005 nên sản lượngtăng 25 ngàn tấn, đạt mức 158,3 ngàn tấn.

+ Các cây công nghiệp ngắn ngày chủyếu của vùng là lạc và mía. Diện tích lạc tương đối ổn định, đạt khoảng 28 ngànha, năng suất bình quân tăng 4%/năm. Diện tích mía năm 2010 khoảng 9,2 ngàn ha,năng suất 480 tạ/ha, đạt sản lượng 441,5 ngàn tấn. Đã có nhiều giống lạc, mía mớiđược đưa vào trồng, kỹ thuật trồng lạc dùng tấm phủ ni lon được áp dụng nhiềunơi cho kết quả tốt.

+ Cây công nghiệp lâu năm có ưu thếcủa vùng là điều, dừa và cao su với tổng diện tích gần 50 ngàn ha. Cao su đangđược tiếp tục phát triển ở phía tây Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam; diện tíchtăng bình quân 7,7%/năm (năm 2010 đạt mức 15 ngàn ha). Cây ăn quả của vùng đangcó sự thay đổi mạnh về cơ cấu. Các loại cây cung cấp nguyên liệu cho chế biếncông nghiệp và cây đặc sản có giá trị được tập trung phát triển. Năm 2010, tổngdiện tích cây ăn quả của vùng khoảng 20 ngàn ha, tăng 2 ngàn ha so với 2005.

- Chăn nuôi: Những năm qua,đàn trâu, bò, lợn phát triển khá. Tổng đàn trâu, bò đạt gần 1,0 triệu con. Cácđịa phương đã tập trung cải tạo chất lượng đàn giống thông qua các chương trìnhSind hóa đàn bò, áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi bò trong hộ gia đình phù hợp.Đến nay tỷ lệ đàn bò lai chiếm khoảng 28%. Đàn lợn khoảng 2,0 triệu con, trongđó lợn thịt chiếm 85%. Đàn gia cầm 15,3 triệu con, tăng bình quân 4,2%/năm.

- Thủy sản: Năm 2010, toànvùng KTTĐMT có trên 7 ngàn tàu khai thác hải sản xa bờ (chiếm 48% số tàu cảvùng Bắc, Nam Trung Bộ và chiếm 28% số tàu cả nước) với tổng công suất 557 ngànCV. So với năm 2005, số tàu tăng thêm 425 chiếc (6,5%) và công suất tăng 166ngàn CV (tăng 42,4%). Từ năm 2005 đến nay sản lượng khai thác hải sản vẫn duytrì tốc độ tăng trưởng bình quân 4%/năm, năm 2010 đạt 371 ngàn tấn, chiếm 15,3%sản lượng khai thác cả nước.

Nuôi trồng thủy sản đã được quy hoạch,phát huy lợi thế của vùng. Năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 19,3ngàn ha, tăng 1,2 ngàn ha so với năm 2005; sản lượng nuôi trồng đạt 40,3 ngàn tấn,tăng bình quân 16%/năm. Nhiều trung tâm nghiên cứu, phát triển giống thủy sảnđược đầu tư, tạo được nhiều loại giống thủy sản chất lượng cao không chỉ đáp ứngnhu cầu giống cho vùng mà còn cho cả các địa phương khác.

Trong giai đoạn 2005-2010, tổng sảnlượng thủy sản trong vùng tăng bình quân 4,9%/năm, năm 2010 đạt 411 ngàn tấn,chiếm 37% sản lượng thủy sản cả vùng Bắc, Nam Trung bộ. Năm 2010, giá trị sảnxuất thủy sản đạt trên 4 ngàn tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng bình quân6,4%/năm.

- Lâm nghiệp: Các tỉnh vùngKTTĐMT đã hoàn thành rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng; hiện đang lập quy hoạch,kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng các địa phươngtăng cường chỉ đạo công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng nên tình trạng chặtphá rừng để lấy đất làm nương rẫy và nạn khai thác rừng bừa bãi đã được hạn chếđáng kể. Giai đoạn 2006-2010, diện tích rừng trồng mới tập trung toàn vùng đạthơn 100 ngàn ha, trung bình trồng thêm khoảng 17 ngàn ha/năm. Độ che phủ rừngcuối năm 2010 đạt 43,7%.

1.2. Quản lý và thực hiện quy hoạchthủy lợi, đê sông, đê biển

Các công trình thủy lợi lớn đã vàđang được xây dựng trên cơ sở các quy hoạch như Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảovệ nguồn nước lưu vực sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế (Tả Trạch), Quy hoạch thủylợi lưu vực sông Trà Khúc (Nước Trong), Quy hoạch thủy lợi vùng trọng điểm kinhtế Miền Trung; Quy hoạch thủy lợi tổng thể khu vực miền Trung trong điều kiệnbiến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Tổng vốn đầu tư do Bộ Nông nghiệpvà PTNT quản lý đầu tư các dự án thủy lợi trên địa bàn vùng giai đoạn 2005-2010là 3.839 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nước 462 tỷ đồng, vốn trái phiếuChính phủ 3.377 tỷ đồng.

Kết thúc năm 2010, hàng chục côngtrình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, bao gồm các dự án trọng điểm của vùngnhư: Đập Thảo Long, cụm CTTL A Lưới (TT-Huế); Kè Sông Hàn (Đà Nẵng); Hồ TràCân, Vĩnh Trinh (Quảng Nam); Công trình đầu mối hồ Định Bình (Bình Định)… Cáccông trình được xây dựng đã phát huy tốt phục vụ cấp nước sản xuất, sinh hoạt,công nghiệp, du lịch, phòng chống lũ, cải tạo môi trường, góp phần ổn định dâncư, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trong vùng dự án.

Các công trình cấp nước sạch chodân cư nông thôn đã được đầu tư tập trung thông qua Chương trình nước sạch vàVSMT nông thôn được lồng ghép với các chương trình dự án khác nhau trên từng địabàn. Tỷ lệ dân số nông thôn vùng KTTĐMT được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinhnăm 2010 đạt 84% (cả nước 80%); tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh 68%(cả nước 57%).

1.3. Chương trình xây dựng nôngthôn mới

Đến hết tháng 9/2011, các địaphương trong vùng đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng NTM do Chủ tịch UBND tỉnh,thành phố làm trưởng ban. Ban quản lý cấp tỉnh đã hoàn thành việc đánh giá thựctrạng nông thôn mới theo 19 tiêu chí làm cơ sở cho quy hoạch và xây dựng đề ánxây dựng nông thôn mới của các xã. Công tác quy hoạch đang được khẩn trương triểnkhai. Khoảng 2% số xã đã trong giai đoạn hoàn thiện quy hoạch chung và một sốquy hoạch chi tiết cần thiết (khu dân cư và trung tâm xã, khu sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp).

Ngoài các xã được Trung ương lựa chọnđiểm để xây dựng, rút kinh nghiệm thì ngay trong năm 2010, các tỉnh trong vùngđã lựa chọn một số xã để triển khai công tác xây dựng nông thôn mới, rút kinhnghiệm trước khi nhân ra diện rộng nhằm đảm bảo mục tiêu hoàn thành cơ bản quyhoạch nông thôn mới vào năm 2011 ở các xã triển khai xây dựng nông thôn mới.

3. Tồn tại, thách thức

- Cơ cấu nông nghiệp và kinh tếnông thôn chuyển dịch chậm. Trong nông nghiệp vẫn nặng về trồng trọt, từ 2006 đến2010 giá trị trồng trọt trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp không giảm, vẫnchiếm tỷ trọng cao (70,2%); chăn nuôi mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (29,8%) vàphát triển còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu định hướng của vùng. Vùng KTTĐMTcó lợi thế về khai thác thủy sản, tuy nhiên giá trị sản xuất khai thác mới chỉđạt 66% tổng giá trị thủy sản của vùng. Việc chuyển đổi từ khai thác gần bờ rakhai thác xa bờ còn gặp nhiều khó khăn và chưa đồng bộ. Chế biến thủy sản chưatạo ra nhiều sản phẩm giá trị gia tăng cao. Công tác quản lý chất lượng, antoàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu.

- Công tác quy hoạch và tổ chức hướngdẫn triển khai thực hiện chưa theo sát biến động của thị trường. Việc chuyển dịchcơ cấu vẫn còn mang tính tự phát, dẫn đến hiệu quả thấp và ảnh hưởng tiêu cực đếnmôi trường sinh thái. Việc đầu tư các cơ sở công nghiệp chế biến không theo sátquy hoạch và gắn với đầu tư vùng nguyên liệu đã xảy ra tình trạng thừa hoặc thiếunguyên liệu ảnh hưởng nhiều đến sản xuất, thu nhập và đời sống nông dân vàdoanh nghiệp.

- Việc nghiên cứu chuyển giao khoahọc công nghệ còn chậm, thiếu tính hệ thống nên năng suất, chất lượng hiệu quảsản xuất còn thấp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp không cao.

- Đầu tư cơ sở hạ tầng chưa đáp ứngđược yêu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn, nhất là ở các khu vực miền núi.Thủy lợi được đầu tư khá nhưng hiệu quả sử dụng còn thấp. Một số công trình đượcđầu tư dung tích dành cho phát điện còn chiếm ưu thế, ảnh hưởng đến dung tíchphòng lũ, cấp nước mùa kiệt… Do nguồn kinh phí đầu tư hạn chế nhiều hệ thốngcông trình chưa đầu tư đồng bộ (chủ yếu là công trình đầu mối, thiếu hệ thốngkênh mương, thiết bị vận hành) dẫn đến bất cập trong vận hành và phát huy hiệuquả sử dụng công trình.

- Công tác giải phóng mặt bằng ởcác địa phương còn gặp nhiều vướng mắc do cơ chế, chính sách và khó khăn về vốn.Tiến độ xây dựng các công trình do địa phương đầu tư còn chậm do nguồn vốn cânđối của địa phương hạn chế, thi công kéo dài, hiệu quả thấp.

III. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂMPHÍA NAM

1. Những kết quả chính

1.1. Về sản xuất nông, lâm, thủysản, từ năm 2005 đến năm 2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảncác tỉnh vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) đạt tốc độ tăng trưởng bìnhquân đạt 5,2%/năm.

- Trồng trọt: Giai đoạn 2006- 2010 diện tích đất nông lâm nghiệp các tỉnh vùng KTTĐPN giảm 77 ngàn ha,riêng vùng Đông Nam Bộ giảm 18,8 ngàn ha, chủ yếu do quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa và phát triển cơ sở hạ tầng. Trong cơ cấu đất nông nghiệp, đất lâmnghiệp giảm 185,2 ngàn ha, riêng vùng Đông Nam Bộ giảm 154,5 ngàn ha; đất sảnxuất nông nghiệp tăng 108,2 ngàn ha, chủ yếu tăng ở vùng Đông Nam Bộ 101,7 ngànha. Việc tăng đất sản xuất nông nghiệp và giảm đất lâm nghiệp chủ yếu là dochuyển đổi đất lâm nghiệp sang trồng các loại cây lâu năm như cao su, cà phê,cây ăn quả…

Tuy không phải là vùng có nhiều lợithế về sản xuất lương thực, nhưng năm 2010 so với năm 2005 diện tích gieo trồngcây lương thực có hạt tăng 18 ngàn ha, riêng Đông Nam Bộ giảm 19,4 ngàn ha; sảnlượng cây lương thực có hạt tăng 794 ngàn tấn (tăng 17,2%), riêng vùng Đông NamBộ tăng 171 ngàn tấn.

+ Sản xuất lúa: Năm 2010 so với năm2006 diện tích gieo trồng tăng 25,4 ngàn ha (tăng 2,5%); sản lượng lúa tăng782,5 ngàn tấn (tăng 18,8%), riêng vùng Đông Nam Bộ tăng 173,7 ngàn tấn. Sản lượnglúa gạo tăng khá, chủ yếu do sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất, gópphần tích cực vào đảm bảo an ninh lương thực cho vùng và tạo tiền đề thúc đẩychuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển mạnh các cây công nghiệp lâu năm, câyăn quả.

+ Diện tích rau toàn vùng năm 2010đạt 111 ngàn ha. Sản xuất rau an toàn đang được đầu tư phát triển trên địa bànTP Hồ Chí Minh. Năm 2010, thành phố có gần 9 ngàn ha sản xuất rau an toàn; hiệnđang đầu tư xây dựng khu Nông nghiệp công nghệ cao sản xuất rau an toàn trên100 ha tại Củ Chi…

+ Các cây công nghiệp lâu năm nhưcao su, cà phê, hồ tiêu, điều tăng khá mạnh. Năm 2010 diện tích cao su đạt 440ngàn ha, sản lượng đạt 553 ngàn tấn, tăng 223,6% so với năm 2005; điều đạt256.765 ha, tăng 165,9%, sản lượng đạt 238 ngàn tấn hạt, tăng 387,3%; hồ tiêu gần28 ngàn ha, tăng 132,8%; cây ăn quả đạt 122,5 ngàn ha, tăng 148,3%.

- Chăn nuôi: Năm 2010 đàn lợntoàn vùng đạt 3,3 triệu con, gia cầm trên 24 triệu con, đàn bò 594 ngàn con; sovới năm 2005 đàn lợn tăng 2,4%, đàn gia cầm: 21%, đàn bò: 16,3%.

Riêng đàn bò sữa tăng từ 70 ngàncon năm 2005 lên 92 ngàn con năm 2010, chiếm 15,5% tổng đàn bò của cả vùng. Đâylà vùng có quy mô chăn nuôi bò sữa tập trung lớn nhất cả nước. Sản lượng sữatươi tăng từ 64 nghìn tấn năm 2005 lên 306 nghìn tấn năm 2010, chiếm gần 80% tổngsản lượng sữa cả nước. Lợi thế lớn nhất của ngành chăn nuôi đại gia súc vùngKTTĐPN là nhu cầu thị trường tiêu thụ lớn và tăng nhanh.

- Thủy sản: Tốc độ tăng trưởngbình quân hàng năm của giá trị sản xuất ngành thủy sản trong giai đoạn 2006-2010là 6,1%/năm, trong đó giá trị sản xuất ngành nuôi trồng thủy sản bình quân là6,9%/năm, khai thác thủy sản bình quân tăng 5,4%/năm. Sản lượng thủy sản vùngKTTĐPN năm 2010 đạt 616,7 ngàn tấn, so với năm 2005 tổng sản lượng thủy sảntăng gần 113 ngàn tấn (tăng 22,4%). Trong nội bộ ngành thủy sản, cơ cấu sản xuấtchuyển dịch từ khai thác sang nuôi trồng.

Về quy mô diện tích, diện tích nuôitrồng trong 5 năm qua đã giảm 3,2 nghìn ha, chủ yếu là diện tích quảng canh kémhiệu quả, phát triển mang tính phong trào, thiếu đầu tư về kỹ thuật, khoa họccông nghệ. Việc nuôi trồng thủy sản trong vùng đang có xu hướng chuyển mạnhsang sản xuất đầu tư thâm canh, nâng cao hiệu quả. Nhờ đó mặc dù diện tích giảmsong sản lượng nuôi trồng đã tăng từ 178,5 ngàn tấn năm 2006 lên 245 ngàn tấnnăm 2010 (tăng 37%).

Giai đoạn 2006-2010 số lượng tàuthuyền khai thác xa bờ của vùng tiếp tục gia tăng, bình quân tăng 2%/năm. Năm2010, đội tàu khai thác hải sản xa bờ của vùng chiếm 15,8% về số lượng và 19,4%về tổng công suất đội tàu khai thác xa bờ của cả nước. Sản lượng khai thác đạt371,65 ngàn tấn năm 2010, tăng 46,4 ngàn tấn so với năm 2006 (tăng 14,2%). Tuynhiên, trang thiết bị chưa được đầu tư đồng bộ, chưa hiện đại làm ảnh hưởng đếnquy mô, thời gian khai thác ở các vùng biển xa. Ngoài ra, việc giá nhiên liệuthường xuyên tăng cao nên đã khiến hiệu quả khai thác chưa tương xứng với đầutư.

- Lâm nghiệp: Theo số liệuthống kê, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp vùng KTTĐPN năm 2010 ước gần đạt749 tỷ đồng, tăng 10,3% so với năm 2005. Giai đoạn 2006-2010, các tỉnh trongvùng trồng mới rừng tập trung bình quân 4 ngàn ha/năm; giao khoán quản lý bảo vệ,khoanh nuôi tái sinh 7 ngàn ha/năm; chăm sóc rừng đạt trên 22 ngàn ha/năm. Bêncạnh trồng rừng tập trung, hàng năm các địa phương còn trồng khoảng 50-60 triệucây cây lâm nghiệp phân tán. Tuy có nhiều khó khăn nhưng các tỉnh trong vùng đãthực hiện được mục tiêu đề ra tại Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 và Nghịquyết số 73/2006/QH11 ngày 29/11/2006 về diện tích trồng mới và khoanh nuôi xúctiến tái sinh rừng.

Thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTgngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, các tỉnh trong vùng hoàn thành việc ràsoát, quy hoạch lại 3 loại rừng, với diện tích đất lâm nghiệp của toàn vùng là510.613 ha, trong đó:

+ Diện tích đất rừng đặc dụng:172,5 ngàn ha;

+ Diện tích đất rừng phòng hộ:176,2 ngàn ha;

+ Diện tích đất rừng sản xuất: 162ngàn ha.

1.2. Quản lý và thực hiện quy hoạchthủy lợi, đê sông, đê biển

Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phối hợpvới các tỉnh trong vùng lập sơ đồ khai thác hệ thống sông Đồng Nai, Sông LaNgà, Sông Bé, sông Sài Gòn và phát triển thủy lợi, thủy điện lớn. Nhiều côngtrình trên dòng chính đã thực hiện có hiệu quả trong cấp nước, kiểm soát lũ, bảovệ môi trường và các hoạt động dân sinh kinh tế. Một số công trình đã và đangđược xây dựng như: Hồ Trị An, Hồ Thác Mơ, Hệ thống công trình thủy lợi Dầu Tiếng,Công trình thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi, Công trình thủy điện Cần Đơn…

Hệ thống ngăn mặn Ông Kèo bảo vệ sảnxuất cho 5,4 ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai; hệ thống thủylợi Hóc Môn- Bắc Bình Chánh vừa cấp nước tưới, vừa ngăn ngập lũ-triều, tiêu úngvà ngăn mặn để đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp 12 ngàn ha của TP. Hồ Chí Minh;các hệ thống thủy lợi Rạch Chanh-Tri Yên, Mồng Gà-Đôi Ma cấp nước ngọt và kiểmsoát mặn để bảo vệ sản xuất nông nghiệp cho trên 17 ngàn ha của tỉnh Long An.

Năm năm qua, 30 dự án do Bộ Nôngnghiệp và PTNT quản lý đã được đầu tư với tổng vốn ban đầu khoảng 5.330 tỷ đồng.Cùng với đầu tư các công trình thủy lợi, các công trình cấp nước sinh hoạt và vệsinh môi trường nông thôn đã được quan tâm đầu tư. Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệsố dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh trong vùng đạt 92%, so với 83% củacả nước.

1.3. Chương trình xây dựng nôngthôn mới

Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTgngày 4/6/2010, đến nay các tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh. Trong đó, 2tỉnh thành lập Văn phòng điều phối và Tổ công tác giúp việc là TP. Hồ Chí Minhvà tỉnh Bình Phước; 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Phước và TP. Hồ Chí Minh đã hoànthành việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện; Các xã đang tiến hành thành lập Banquản lý xã. Về chọn xã điểm, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh mỗi huyệnchọn 1 xã, các tỉnh còn lại đều chọn ít nhất là 02 xã/1 huyện như: Tây Ninh chọn19 xã điểm/8 huyện; Bình Phước chọn 20 xã điểm/10 điểm; Bình Dương chọn 29 xã điểm/7huyện. Đến nay các tỉnh đều đã hoàn thành việc đánh giá thực trạng nông thôn mớitheo 19 tiêu chí làm cơ sở triển khai những bước tiếp theo.

Năm 2010, hầu hết các tỉnh đã chỉ đạovà hỗ trợ kinh phí để các xã điểm triển khai công tác quy hoạch nông thôn mới,làm cơ sở để mở rộng trước khi nhân ra diện rộng. Do vậy, đến nay các điểm đãhoàn thành công tác quy hoạch nông thôn mới làm cơ sở để tỉnh bố trí kế hoạch vốngắn với nguồn vốn của xã có thể huy động để triển khai thực hiện chương trình.

2. Những tồn tại và thách thức

- Sản xuất nông nghiệp nhìn chungcòn thiếu bền vững; tính tự phát, sản xuất không theo quy hoạch xảy ra khá phổbiến; thiếu sự gắn kết giữa nhà nông với nhà doanh nghiệp; trình độ lao độngtrong nông nghiệp còn thấp, đa số là lao động chưa qua đào tạo. Vấn đề vệ sinhan toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nông thôn đang đặt ra bứcxúc.

- Đời sống của người dân trong vùngtuy đã được cải thiện một bước nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Khoảngcách giàu nghèo giữa nhóm hộ thu nhập cao và nhóm hộ thu nhập thấp ngày càngdoãng ra.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôntuy được tăng cường nhưng chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển sản xuất, đặc biệttrước nguy cơ của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

IV. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM ĐỒNGBẰNG SÔNG CỬU LONG

1. Những kết quả chính

1.1. Về sản xuất nông nghiệp(nông, lâm, thủy sản), giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệpvà thủy sản (giá so sánh năm 1994) đạt tốc độ tăng bình quân 6,5%/năm, từ25.145 tỷ đồng năm 2005 lên 37.160 tỷ đồng năm 2010.

- Trồng trọt: Lúa là cây trồnglợi thế của vùng. Diện tích trồng lúa duy trì ở mức 1,3 triệu ha/năm. Tuynhiên, nhờ tăng hiệu quả trong thâm canh nên sản lượng lúa tăng từ 6,2 triệu tấnnăm 2006 lên 7,5 triệu tấn năm 2010, tốc độ tăng bình quân 2,7%/năm. Mức bìnhquân lương thực đầu người của vùng đạt gần 1.430 kg/người, cao hơn 2,5 lần so vớibình quân của cả nước.

+ Rau đậu các loại, nhất là rauxanh có xu hướng tăng mạnh do thị trường tiêu thụ tốt, hiệu quả trồng khá caonên diện tích trồng rau bình quân tăng 7%/năm.

+ Cây ăn quả chủ yếu là xoài, cam,bưởi, quýt, nhãn… Trong giai đoạn 2006-2010 diện tích và sản lượng xoài tăngkhá cao, các cây khác mức tăng giảm không ổn định.

- Chăn nuôi:

+ Chăn nuôi bò những năm qua khá ổnđịnh; tốc độ tăng quy mô đàn bình quân 1,4%/năm trong giai đoạn 2006-2010. Xuhướng chung gần đây người dân chuyển sang chủ yếu nuôi bò thịt và bò sữa. Năm 2010tổng đàn bò khoảng 94 ngàn con, trong đó bò sữa là 586 con, bò kéo gần 14 ngàncon.

+ Chăn nuôi lợn chiếm một vị tríquan trọng trong chăn nuôi của vùng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của một số yếu tốnhư giá cả, dịch bệnh, quy mô đàn lợn có nhiều năm giảm. Giai đoạn 2006-2010đàn lợn giảm 3,2%/năm, dẫn đến sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng giảm từ 90ngàn tấn xuống còn 88 ngàn tấn.

+ Chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là vịtlà một ưu thế của vùng. Năm 2010 đàn gia cầm cả vùng khoảng 13 triệu con, tăngbình quân 12%/năm.

- Thủy sản:

Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuấtngành thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng 7,7%/năm. Cơ cấu sản xuất thủy sản chuyểndịch theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng và giảm tỷ trọng khai thác.

Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh,thành một nghề sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinhtế ở vùng, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo. Diện tích nuôi trồngthủy sản tăng nhanh, từ 386 ngàn ha năm 2006 lên 427 ngàn ha vào năm 2010; sảnlượng tăng từ 497 ngàn tấn lên 785 ngàn tấn, bình quân tăng 12,7%/năm. Các sảnphẩm trong vùng khá đa dạng, trong đó sản phẩm chính là cá tra và tôm sú.

Khai thác thủy sản đạt tốc độ tăngsản lượng bình quân 2%/năm; năm 2010 đạt 550 nghìn tấn, chiếm 10,7% tổng sản lượngkhai thác thủy sản của cả nước. Tổng số tàu khai thác thủy sản của vùng năm2010 là 17.187 chiếc, tổng công suất 1.745 nghìn CV. Trong đó số tàu thuyềnkhai thác xa bờ năm 2010 là 3.631 chiếc, tổng công suất 1.182 nghìn CV. Giai đoạn2006-2010 lượng tàu gia tăng bình quân 2%/năm.

- Lâm nghiệp: Năm 2010 tỷ trọnglâm nghiệp trong cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm thủy sản của vùng chỉ chiếm0,9%. Diện tích rừng giảm liên tục trong giai đoạn 2006-2010 do đất lâm nghiệpbị khai thác chuyển đổi cho các mục đích sử dụng khác trong đó đặc biệt chonuôi trồng thủy sản. Đến thời điểm hiện nay diện tích đất lâm nghiệp của vùng khoảng211 nghìn ha, chiếm 64% đất lâm nghiệp toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Tổng diện tích trồng rừng tập trung2006-2010 là 5 ngàn ha, trồng cây phân tán đạt 10 triệu cây, chăm sóc, bảo vệ,khoanh nuôi phục hồi rừng 15 ngàn ha/năm.

1.2. Quản lý và thực hiện quy hoạchthủy lợi, đê sông, đê biển

Trên cơ sở quy hoạch được duyệt nhiềudự án thủy lợi đã được đầu tư. Hệ thống kè chống sạt lở được sửa chữa, nâng cấphoặc xây dựng lại, như hệ thống kè ở Tân Châu (An Giang), thành phố Cần Thơ,thành phố Rạch Giá. Tuyến đê biển dài 118 km từ Hà Tiên đến giáp Cà Mau, tuyếnđê biển Tây thuộc địa bàn tỉnh Cà Mau dài 92,7 km đã được đầu tư và hoàn thành.

Về cấp nước sinh hoạt và VSMTNT, bằngnhiều nguồn vốn đầu tư các công trình cấp nước đã được xây dựng và đưa vào sử dụng.Tỷ lệ người dùng nước hợp vệ sinh tăng 20% so với năm 2006, nâng tỷ lệ ngườidân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh vào cuối năm 2010 lên 87%.

Cùng với hệ thống hạ tầng thủy lợivà cấp nước sinh hoạt, hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cũngđược đầu tư với những dự án lớn như Dự án Khu neo đậu tránh trú bão Rạch Gốc tỉnhCà Mau, Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đảo Hòn Tre tỉnh Kiên Giang, Cảngcá Tắc Cậu tỉnh Kiên Giang…

1.3. Chương trình xây dựng nôngthôn mới

Thực hiện Quyết định số800/2010/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương trongvùng đang khẩn trương lập Đề án xây dựng xã NMT giai đoạn 2011-2015 và định hướngđến năm 2020. Hầu hết các tỉnh, thành phố đều đề ra các tiêu chí, phấn đấu đếnnăm 2015 có tối thiểu 20% số xã đạt chuẩn NTM và đến năm 2020 có tối thiểu 50%số xã đạt chuẩn NTM.

2. Những tồn tại và thách thức

- Sản xuất nông nghiệp thiếu bền vững.Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường nông nghiệp nôngthôn đang trở thành một vấn đề bức xúc. Sản xuất không theo quy hoạch, thiếu sựgắn kết giữa nhà nông với nhà doanh nghiệp; hình thức sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậunhất là trong ngành chăn nuôi làm cho khả năng ứng phó với dịch bệnh rất khókhăn.

- Đời sống của người dân trong vùngtuy đã được cải thiện một bước nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của vùng vàcó nguy cơ tụt hậu. (Giai đoạn 1999 - 2002 thu nhập bình quân đầu người tháng củavùng ĐBSCL cao hơn mức bình quân cả nước. Từ 2004 trở lại đây thu nhập bìnhquân đầu người của vùng ĐBSCL dần thấp hơn mức bình quân chung cả nước (Năm2004 bằng 97,3%, năm 2008 tiếp tục xuống thấp hơn chỉ còn bằng 94,5%). Khoảngcách giàu nghèo giữa nhóm hộ thu nhập cao và nhóm hộ thu nhập thấp trên 7 lần.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng tuy đượctăng cường nhưng chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển sản xuất, đặc biệt trướcnguy cơ của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nhìn chung, việc cung cấp nước sạchcho nông thôn trong những năm gần đây đã có những bước tiến đáng kể, nhưng cũngcòn nhiều khó khăn do thiếu vốn và nguồn nước sạch, đặc biệt là các vùng ven biển,vùng bị nhiễm mặn và nhiễm phèn và các vùng biên giới. Chất lượng nước và chấtlượng các công trình cấp nước còn thấp chưa đạt các yêu cầu. Một số công trìnhcấp nước tập trung ở cụm, tuyến dân cư vượt lũ không phát huy hiệu quả.

B. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRONGNĂM 2012 VÀ GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

I. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍABẮC

1. Định hướng phát triển sản xuất

Về nông nghiệp: Phát triểnvùng lúa hàng hóa, rau, hoa chất lượng cao, đẩy mạnh canh tác vụ đông, phát triểnvà xây dựng thương hiệu cho vùng cây ăn quả đặc sản; phát triển chăn nuôi lợn,gia cầm theo hướng công nghiệp, tập trung gắn với cơ sở giết mổ, chế biến đảm bảovệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Duy trì, bảo vệ diện tích đấtlúa, đặc biệt là đất lúa 2 vụ đã được đầu tư thủy lợi theo tinh thần Nghị quyếtsố 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực quốcgia. Theo phương án quy hoạch Bộ Nông nghiệp và PTNT trình Thủ tướng Chính phủ;giai đoạn từ nay đến năm 2020, tầm nhìn 2030, vùng Đồng bằng sông Hồng (trongđó có VKTTĐPB) cần duy trì bảo vệ 575.310 ha đất lúa, trong đó 538.590 ha đấtchuyên lúa.

Về thủy sản: Chuyển nuôi trồngthủy sản nước ngọt từ ao hồ nhỏ, ruộng trũng sang nuôi trồng thủy sản tập trungtrong các trang trại; phát triển nuôi lợ, nuôi biển, nuôi trồng sinh vật cảnh.Đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ; tổ chức lại nghề khai thác thủy sản ven bờ vàtrong nội địa gắn với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Một số dự án thuộcChương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999-2010 chưa hoàn thành sẽchuyển tiếp thực hiện trong giai đoạn 2011-2020 theo Đề án phát triển nuôi trồngthủy sản đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 332/QĐ-TTg ngày 3/3/2011.

Về lâm nghiệp: Bảo vệ cáckhu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển thế giới, phát triển rừng phònghộ ven biển. Phát triển trồng cây xanh trong các khu dân cư, khu đô thị, khucông nghiệp, trồng cây phân tán ở nông thôn để tạo môi trường sống xanh, sạch,đẹp.

2. Phát triển nông thôn

- Duy trì, phát triển bền vững cáclàng nghề hiện có trong vùng (số làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 43% sốlàng nghề toàn quốc); tổ chức thực hiện tốt Chương trình đào tạo nghề cho lao độngnông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủtướng Chính phủ.

- Đẩy mạnh cuộc vận động, tuyêntruyền và tổ chức triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới theo tinh thầnnội dung Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Đếnnăm 2020, phấn đấu 70% số xã trong vùng đạt xã nông thôn mới (cả nước đạt 50%).Hình thành các khu dân cư và thị trấn, thị tứ ở nông thôn; phục vụ lao động vàdịch vụ cho hoạt động công nghiệp và kinh tế đô thị lớn của vùng. Thực hiện lynông bất ly hương, tăng thu nhập và tạo việc làm cho phần lớn dân cư nông thôntừ hoạt động phi nông nghiệp.

3. Một số giải pháp chính

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học côngnghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ cao sản xuất theo quy trình VietGap; pháttriển chế biến để nâng cao chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng chotiêu dùng và nâng cao thu nhập/đơn vị diện tích.

- Củng cố, hoàn thiện các tổ chức dịchvụ công phục vụ sản xuất (Khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y) nhằm ngăn ngừa dịchbệnh, bảo vệ sản xuất, nâng cao hiệu quả/đơn vị diện tích đất; triển khai Quyếtđịnh số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thíđiểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013.

- Cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóacác hệ thống thủy lợi và bổ sung các công trình cấp nước, tiêu thoát nước chocác vùng: Bắc Hưng Hải, sông Nhuệ, sông Tích, sông Đáy, An Kim Hải, Bắc Đuống,Bắc Nam Hà… đảm bảo tưới tiêu ổn định và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Củng cố,nâng cấp hệ thống đê biển (Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 của Thủtướng Chính phủ); các tuyến đê sông Hồng - sông Thái Bình đảm bảo an toàn chốnglũ cho Thủ đô Hà Nội và vùng Đồng bằng sông Hồng (Quyết định 2068/QĐ-TTg ngày09/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ). Xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các côngtrình đầu mối, hệ thống đê sông Đáy, nạo vét lòng dẫn sông Đáy để chủ động đưanước sông Hồng vào sông Đáy. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án phát triểnnuôi trồng thủy sản theo Quyết định số 332/QĐ-TTg ngày 3/3/2011 của Thủ tướngChính phủ; Tiếp tục đầu tư hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bãotheo phương án quy hoạch được duyệt; Quy hoạch và thúc đẩy hình thành Trung tâmnghề cá lớn gắn với ngư trường Vịnh Bắc Bộ, hình thành hai trung tâm dịch vụ hậucần nghề cá ở Hải Phòng là Cát Bà và đảo Bạch Long Vỹ.

Bộ Nông nghiệp và PTNT hiện đang tiếptục đầu tư các dự án thủy lợi sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ gồm 18 dựán thủy lợi với tổng mức đầu tư 2.882 tỷ đồng, trong đó có một số dự án tậptrung tại các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như cải tạo hệ thống thủylợi An Kim Hải (Hải Phòng, Hải Dương)… Các dự án dự kiến sẽ được đầu tư hoànthành vào năm 2012, 2013. Chương trình đầu tư hệ thống đê biển, đê sông… vẫn tiếptục được triển khai trong thời gian tới.

- Hoàn thành và thực hiện 4 dự ánquy hoạch hệ thống các cơ sở nghiên cứu, sản xuất và cung ứng giống (cây nôngnghiệp, cây lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản) theo Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện đầu tư cơ sở vậtchất, kỹ thuật cho các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống theo phương án quy hoạchđược duyệt trên phạm vi cả nước nói chung và vùng Đồng bằng sông Hồng nóiriêng.

- Hoàn thiện hệ thống tổ chức quảnlý chất lượng sản phẩm, đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị quản lý chất lượngsản phẩm trên địa bàn, tạo điều kiện tổ chức thực hiện tốt Luật An toàn thực phẩmsố 55/2010/QH12 .

II. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀNTRUNG

1. Định hướng phát triển sản xuất

- Chuyển đổi cơ cấu gắn với xây dựngmột nền nông nghiệp hiện đại. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, tập trungnâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Phát triển các khu nôngnghiệp công nghệ cao, vùng sản xuất tập trung quy mô lớn như lạc, mía, điều… gắnvới chế biến công nghiệp và thị trường. Phát triển rau và mở rộng diện tích câyăn quả có lợi thế như cam, nho, thanh long… Phát triển nhanh chăn nuôi theo hướngchăn nuôi trang trại, nuôi nhốt có kiểm soát, từng bước chuyển lên chăn nuôicông nghiệp; chú trọng các biện pháp phòng dịch, chống rét cho đàn vật nuôi;trong thủy sản đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng kỹ thuật để nuôi thâm canh.

- Tập trung phát triển thủy sản trởthành ngành kinh tế mũi nhọn của vùng. Phát triển nuôi trồng thủy sản, bảo đảmphát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái. Tập trung đầu tư phát triểnkhai thác hải sản xa bờ kết hợp với bảo vệ an ninh trên biển.

- Tăng cường công tác bảo vệ rừng tựnhiên, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, rừng phòng hộ, chế biến lâmsản, nhất là hàng lâm sản xuất khẩu. Tiếp tục triển khai một số dự án ODA trênđịa bàn (nhất là dự án trồng rừng phòng hộ ven biển) để hạn chế thấp nhất tác độngtiêu cực của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

2. Phát triển nông thôn

- Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn cácđịa phương bám sát tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7(Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các quyết định của Thủ tướngChính phủ và hướng dẫn của các Bộ về xây dựng nông thôn mới để có giải pháp cụthể thực hiện tốt chủ trương xây dựng nông thôn mới.

- Tổ chức tốt việc bố trí, sắp xếp,ổn định dân cư các xã vùng bãi ngang, vùng có nguy cơ sạt lở do lũ ống, lũquét…; bảo đảm ổn định sản xuất và đời sống nhân dân, hạn chế di dân tự do đếncác vùng khác.

- Có chính sách khuyến khích, hỗ trợngư dân tổ chức lại sản xuất, đầu tư trang thiết bị phát triển khai thác hải sảnxa bờ.

- Thúc đẩy việc giao đất, giao rừnggắn với định canh, định cư; giải quyết đất ở, đất sản xuất ổn định lâu dài; chấmdứt tình trạng phá rừng làm rẫy; thực hiện tốt việc gắn phát triển nương cố địnhvới định canh, định cư và giải quyết nước sinh hoạt cho nhân dân.

- Tập trung đầu tư bảo đảm cung cấpđủ nước sinh hoạt cho dân cư, có giải pháp thiết thực giải quyết vấn đề thiếunước vùng nước lợ ven biển, vùng cao.

3. Một số giải pháp chính

- Phát triển công nghiệp chế biếnnông, lâm, thủy sản. Quy hoạch và thu hút mạnh đầu tư hệ thống các cơ sở côngnghệ sau thu hoạch.

- Phát triển cơ sở hạ tầng nôngthôn đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa. Đặc biệt quan tâm và tăng đầu tư xây dựnghệ thống các cơ sở trạm, trại nông nghiệp ở cấp huyện và cấp xã, hệ thống đườnggiao thông nông thôn, đường lâm nghiệp, các công trình phòng chống cháy rừng,các cơ sở vườn ươm cây con.

Tiếp tục đầu tư các công trình thủylợi với trọng tâm là: (1) Nâng cấp, tu bổ các công trình đang bị xuống cấp, đẩynhanh việc kiên cố hóa kênh mương và công trình thủy lợi hiện có; xây dựng cáchồ chứa nước vừa và nhỏ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư; (2)Tổ chức thực hiện việc đồng bộ hóa giữa công trình thủy lợi đầu mối và kênhmương để nâng cao năng lực tưới, tiêu nước, đảm bảo đời sống của nhân dân trongvùng. Tổ chức tốt việc xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn theochương trình, các công trình thủy lợi miền núi và các dự án thủy lợi cấp bách sửdụng nguồn trái phiếu Chính phủ.

- Phát triển thị trường hàng nông,thủy sản, giải quyết tốt khâu tiêu thụ. Tăng cường xúc tiến thương mại; khuyếnkhích, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia thị trườngnông, thủy sản. Phát huy lợi thế địa lý của vùng kết nối giữa thị trường miền Bắc,miền Nam cùng với thế mạnh về kinh tế cửa khẩu với các nước trong khu vực vàtrên thế giới.

- Chú trọng đào tạo nhân lực nôngthôn trong kế hoạch chung về phát triển giáo dục và đào tạo như giải pháp chiếnlược phát triển của vùng. Có chính sách thu hút cán bộ, kể cả sinh viên đại học,cao đẳng các chuyên ngành nông, lâm nghiệp về các xã miền núi công tác có thờihạn. Chú trọng đào tạo cán bộ, công chức, cán bộ quản lý HTX, nhất là cán bộ làngười địa phương, người dân tộc tại chỗ, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp nôngthôn; kết hợp cả ngắn hạn và dài hạn, thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡngnghiệp vụ, cập nhật kiến thức về chuyên ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản.

Đầu tư hệ thống trường đào tạotrong ngành và khai thác cơ sở đào tạo thuộc ngành khác trên địa bàn vùng. Đồngthời tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thực hiện tốt Quyếtđịnh số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn.

- Phối hợp thực hiện tốt các cơ chế,chính sách hiện có; tiếp tục xây dựng và ban hành chính sách mới, đảm bảo cácnguồn lực cần thiết về vốn và nhân lực; tổng kết các điển hình, các nhân tố mớiđể phổ biến nhân diện rộng. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc và giám sátviệc triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn vùng; bảo đảm tiến độ thựchiện và chất lượng của các công trình đầu tư.

III. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂMPHÍA NAM

1. Định hướng phát triển sản xuất

Phát triển nông nghiệp vùng KTTĐPNtoàn diện, bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa lớn với hình thức tổ chức sảnxuất và kỹ thuật hiện đại. Chú trọng phát triển nông nghiệp sinh thái và nângcao chất lượng sản phẩm. Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn theo hướng CNH, HĐH, nâng cao hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích.Giai đoạn 2011 – 2015; Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất duy trì mức trên5%/năm.

- Trồng trọt, phát triển các cây trồngcó lợi thế và thị trường có nhu cầu để tập trung đầu tư và phát triển công nghiệpchế biến.

- Phát triển chăn nuôi theo lợi thếcủa từng vùng sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước theo hướng sảnxuất tập trung công nghiệp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịchbệnh và bảo vệ môi trường.

- Thủy sản, tập trung phát triểnnuôi trồng theo hướng đầu tư thâm canh tăng năng suất, tăng hiệu quả, đảm bảo vệsinh an toàn và duy trì cân bằng sinh thái môi trường. Đẩy mạnh nuôi trồng thủysản trên biển bằng các loài hải sản có giá trị thương mại cao, phát triển nuôitrồng thủy sản nước ngọt; nuôi trồng thủy sản nước lợ. Phát triển khai thác hảisản xa bờ theo hướng khai thác bền vững, kết hợp kinh tế - quốc phòng, bảo vệnguồn lợi tự nhiên và cân bằng sinh thái môi trường. Tổ chức lại hệ thống nhàmáy chế biến đạt trình độ công nghệ tương đương các nước phát triển, theo hướngđảm bảo vệ sinh an toàn, đa dạng hóa sản phẩm, tăng giá trị gia tăng, gắn vớivùng sản xuất nguyên liệu tập trung. Mức tăng trưởng của ngành thủy sản đạt khoảng8,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015.

- Bố trí sắp xếp hoàn chỉnh cơ cấurừng sản xuất, phòng hộ và đặc dụng; phát triển rừng sản xuất thâm canh, pháttriển những cây trồng có lợi thế của vùng, tạo vùng nguyên liệu tập trungchuyên canh có quy mô thích hợp, đáp ứng tiêu chí bền vững; cung cấp phần quantrọng nguyên liệu gỗ cho công nghiệp chế biến và nhu cầu của ngành tiểu thủcông nghiệp; tập trung ưu tiên phát triển sản xuất lâm sản ngoài gỗ. Phát triểntrồng cây phân tán. Đầu tư phát triển rừng phòng hộ trên địa bàn đầu nguồn, nhạycảm môi trường ở các vùng ven biển. Củng cố, phát triển hệ thống rừng đặc dụng,bảo tồn nguyên trạng đa dạng sinh học, phát triển hệ sinh thái đáp ứng mục tiêuhàng đầu về môi trường và thực hiện các nhiệm vụ phối hợp như du lịch, nghiên cứu…

2. Phát triển nông thôn:

- Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dânxây dựng nông thôn mới, đổi mới một cách căn bản đời sống vật chất tinh thần củacư dân nông thôn theo hướng tăng thu nhập, giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống,xóa bỏ bất bình đẳng về cơ hội, nhằm đưa vùng KTTĐPN không chỉ trở thành mộtvùng sản xuất hàng hóa, nông nghiệp chất lượng cao lớn nhất cả nước mà còn là mộtvùng nông thôn hiện đại, văn minh.

- Tiến hành chương trình nghiên cứuxác định lợi thế và thị trường cho các sản phẩm làng nghề, gắn với công nghiệpvà kinh tế đô thị, với hoạt động dịch vụ du lịch và bảo tồn phát triển văn hóatruyền thống. Quy hoạch làng nghề có quy mô, cơ cấu sản phẩm, công nghệ hợp lý,môi trường bền vững.

3. Một số giải pháp chính

- Rà soát lại quy hoạch đáp ứng yêucầu nhiệm vụ mới gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý thực hiệnquy hoạch. Tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, khuyến khích cáchình thức sản xuất công nghiệp, trang trại, gia trại; doanh nghiệp có quy mô lớn,gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học côngnghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ sản xuất theo quy trìnhVietGap, chế biến để nâng cao chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứngcho tiêu dùng, áp dụng các tiến bộ KHKT trong sản xuất nông, lâm, thủy sản đểnâng cao năng suất lao động nông nghiệp.

- Tạo điều kiện thu hút đầu tưtrong và ngoài nước phát triển công nghiệp chế biến. Đặc biệt khuyến khích cácngành công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu, áp dụng công nghệ hiện đại, sảnphẩm có giá trị cao. Trước hết, phát triển các ngành vùng có lợi thế, có nguyênliệu và thu hút nhiều lao động, quy hoạch các vùng nguyên liệu chuyên canh.

- Phát triển thủy lợi: Đến năm2020, các công trình thủy lợi phải đảm bảo cấp nước cho 609 ngàn ha đất nôngnghiệp, 100% dân số thành thị được dùng nước máy, tiêu 994,4 ngàn ha đất nôngnghiệp, công nghiệp, đất đô thị và khu dân cư; tu bổ nâng cấp 19 hồ, đập; 10 trạmbơm, cống; nạo vét kiên cố hóa kênh mương các loại; xây dựng mới 42 hồ, đập; 4trạm bơm, cống, 3 kênh mương.

- Phát triển giao thông nông thôn gắnvới mạng lưới giao thông quốc gia, bảo đảm thông suốt bốn mùa tới các xã và cơbản có đường ô tô đến thôn, bản. Ưu tiên phát triển giao thông ở các vùng khókhăn để có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn. Quy hoạch, đầu tưxây dựng hệ thống đường đến các vùng ven biển để phát triển công nghiệp và đôthị. Phát triển giao thông thủy, xây dựng các cảng sông, hệ thống cảng cá, bếncá, khu neo đậu tránh trú bão; nạo vét luồng lạch và các phương tiện vận tảisông, biển an toàn.

IV. VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM ĐBSÔNG CỬU LONG

1. Định hướng phát triển

Nông nghiệp: Phát triển sảnxuất lúa gạo, hình thành vùng chuyên canh thâm canh quy mô lớn đảm bảo an ninhlương thực quốc gia và xuất khẩu, phát triển cây ăn quả tạo thành vùng tậptrung sản xuất hàng hóa, hàng hóa xuất khẩu kết hợp du lịch sinh thái miệt vườn.Phát triển chăn nuôi, đặc biệt là nuôi thủy cầm theo hướng tập trung. Quản lýđược dịch bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng, hiệu quả.

Lâm nghiệp: Phát triển, bảovệ nghiêm ngặt diện tích rừng ngập mặn ven biển, tái tạo hệ sinh thái vùng rừngtràm trên đất phèn, hình thành các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ, phốihợp kinh doanh rừng, bảo vệ môi trường, phát triển đa dạng sinh học và dịch vụdu lịch. Có chính sách khuyến khích trồng cây phân tán và thu hút đầu tư pháttriển ngành công nghiệp chế biến lâm sản nhằm sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ, phụcvụ nhu cầu tại chỗ và xuất khẩu.

Thủy sản: Phát triển nuôi trồngthủy sản hàng hóa lớn trên các vùng nước mặn lợ, nước ngọt với hai đối tượngnuôi chủ lực là tôm nước lợ, cá tra. Chuyển sang nuôi trồng bán thâm canh vàthâm canh, áp dụng công nghệ mới. Ven biển phát triển nuôi tôm sú, tôm chân trắng,nhuyễn thể. Trong nội địa, nuôi lồng bè cá tra, tôm càng xanh, cá thác lác, cábống tượng. Xây dựng năng lực đánh bắt đại dương, hình thành các trung tâm dịchvụ hậu cần nghề cá, mở rộng, xây mới hệ thống nhà máy chế biến gắn với vùngnguyên liệu tập trung. Phát triển các khu bảo tồn biển và nội địa.

Về phát triển nông thôn: Phấnđấu đến năm 2015 có tối thiểu 20% số xã đạt chuẩn NTM và đến năm 2020 có tốithiểu 50% số xã đạt chuẩn NTM.

2. Một số giải pháp chính

- Tiến hành rà soát lại quy hoạchvùng, ngành hàng chính nhằm khai thác tối đa lợi thế của vùng, thúc đẩy mạnh mẽquá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tập trung, thâm canh, đạt hiệuquả kinh tế cao, đảm bảo phát triển bền vững, trong đó chú trọng các giải pháptrước mắt cũng như lâu dài nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuậtđể nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Đầu tư hiệnđại hóa các cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ nòng cốt trong vùng như Việnlúa ĐBSCL, Viện cây ăn quả miền Nam, Đại học Cần Thơ, Trung tâm giống quốc giathủy sản Cái Bè… đảm bảo cho các cơ sở này được trang bị hiện đại, có đội ngũcán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, đủ sức đảm đương các chương trình trọng điểm nhằmtạo ra những đột phá trong nông nghiệp.

- Tiếp tục đầu tư tăng cường cơ sởhạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhất là hệ thống thủy lợi, đê điều; hệ thốngbến cá, cảng cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá; Hệ thống kho tàng, khu công nghiệpchế biến và bảo quản nông, lâm, thủy sản.

- Khuyến khích mọi tổ chức, mọithành phần kinh tế tham gia tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, đặcbiệt là thị trường xuất khẩu.

- Chú trọng đào tạo nhân lực nôngthôn tập trung vào những ngành nghề là thế mạnh của địa phương, đáp ứng nhu cầusản xuất trước mắt cũng như khả năng chuyển dịch cơ cấu lao động.

- Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợiđể phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, tạo các điều kiện thuận lợi để cáchộ có khả năng phát triển mở rộng hình thức trang trại, gia trại. Củng cố vànâng cao vai trò HTX, tổ hợp tác làm chức năng dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm chonông dân. Khuyến khích phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo điềukiện cho kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản.

Phần thứ hai.

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐIỀU PHỐI TRONGTHỜI GIAN QUA

Thực hiện Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2007 về Quy chế phối hợp giữa các Bộ,ngành, địa phương đối với các vùng kinh tế trọng điểm, trong 5 năm qua, Bộ Nôngnghiệp và PTNT đã phối hợp với các Bộ ngành và các địa phương trong vùng ràsoát, bổ sung quy hoạch phát triển nông, lâm, thủy sản các vùng KTTĐPN trênnguyên tắc cập nhật các thông tin về biến đổi khí hậu, tiến độ và lộ trình côngnghiệp hóa, đô thị hóa, đất sản xuất nông nghiệp giảm; xu hướng phát triển củakhoa học công nghệ; nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong vùng về chất lượng vàvệ sinh an toàn thực phẩm… để điều chỉnh các quy hoạch ngành đến năm 2020. Điểnhình như:

- Chủ trì, phối hợp với các Bộ,ngành xây dựng quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, lấy ý kiến các địaphương các vùng KTTĐ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, như Quy hoạch phát triểncác vùng nông nghiệp công nghệ cao gắn với công nghệ chế biến; Quy hoạch tổngthể sử dụng đất lúa toàn quốc đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch các vùngchuyên canh tập trung sản xuất hàng hóa nhu cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, câyăn quả, rau an toàn thực phẩm xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà RịaVũng Tàu; Quy hoạch, tổ chức lại ngành chăn nuôi gắn với cơ sở giết mổ, chế biếngia súc, gia cầm phù hợp điều kiện của từng vùng; Quy hoạch phát triển rừngtheo hướng bảo vệ, chăm sóc rừng đã có, trồng rừng phòng hộ ven biển, trồng rừngcây xanh ở các khu đô thị để tăng độ che phủ của rừng; Rà soát điều chỉnh quyhoạch Thủy lợi giải quyết nước cho phát triển công nghiệp, nước sinh hoạt và xửlý môi trường.

Phối hợp tiến hành rà soát, điều chỉnh,bổ sung quy hoạch phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sảnvùng nước nội địa, khai thác hiệu quả các hồ chứa. Quy hoạch hệ thống chế biếnthủy sản; Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng cát ven biển; Quy hoạchhệ thống cảng cá…

Một số quy hoạch nông nghiệp kháccũng được triển khai như: Quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn ven biểncác vùng kinh tế phục vụ chiến lược phát triển kinh tế biển và ven biển đến năm2020; Quy hoạch phát triển kinh tế nông lâm nghiệp vùng Đông Trường Sơn (phíatây Thừa Thiên Huế); Quy hoạch bố trí cơ cấu sản xuất hợp lý và hiệu quả trên đấtthường khô hạn và ngập lụt các tỉnh vùng duyên hải Trung Bộ (Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định); Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp vùng lưu vực sôngThu Bồn…

Những quy hoạch trên đã được các địaphương các vùng KTTĐ tham gia tích cực, có tính khả thi cao, Nội dung rà soátvà điều chỉnh tập trung khai thác lợi thế phát triển nông, lâm, thủy sản củavùng; giải quyết mối quan hệ giữa sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêuthụ, xóa đói giảm nghèo và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đó là những cơ sở địnhhướng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành các quy hoạchtrong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, thủy lợi trên phạm vi quản lý của địa phương;đồng thời cũng là định hướng cho các cấp, các ngành chỉ đạo, điều hành sản xuất,kinh doanh.

- Phối hợp với các Bộ, ngành và địaphương trong vùng tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư, huy động vốn đầu tư từ nướcngoài (vốn FDI, ODA), huy động vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nướctham gia đầu tư tại các địa phương các vùng KTTĐ.

- Tham gia các cuộc họp do Ban Chỉđạo Điều phối các vùng KTTĐ tổ chức. Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳcũng như báo cáo chuyên đề (thủy lợi, xây dựng nông thôn mới…) theo yêu cầu củaBan Chỉ đạo.

Tuy nhiên, việc phối hợp thực hiệncác giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển vùng kinh tế trọng điểm ítnhiều còn mang tính hình thức, cơ chế phối hợp giữa các bên chưa được thực hiệnthường xuyên và chưa thực sự hiệu quả.

Phần thứ ba.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Kiến nghị Chính phủ và các Bộ,ngành Trung ương

1.1. Về cơ chế, chính sách

- Đề nghị Chính phủ sớm ban hànhchính sách hỗ trợ cho tổ đội sản xuất hải sản trên biển theo đề nghị của BộNN&PTNT; chính sách về hỗ trợ vốn ngân sách cho việc chuyển đổi nghề trongquá trình sắp xếp nghề khai thác hải sản gần bờ, hỗ trợ các xã ven đầm phá vàcác xã bãi ngang, hải đảo đặc biệt khó khăn tương tự như các xã vùng sâu, vùngxa trong Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướngChính phủ.

- Đề nghị sửa đổi một số chính sáchphát triển nông thôn để phù hợp với thực tiễn:

+ Sửa đổi Nghị định 02/2010/NĐ-CP vềhoạt động khuyến nông như chế độ lương, đãi ngộ cho người hoạt động khuyến nông,chính sách đào tạo, bồi dưỡng người tham gia hoạt động khuyến nông, kinh phí quảnlý, kiểm tra, giám sát, đánh giá;

+ Xem xét, sửa đổi Quyết định số1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao độngnông thôn đến năm 2020” theo hướng tăng cường vai trò của ngành Nông nghiệp vàPTNT trong quá trình triển khai thực hiện Đề án. Có cơ chế cụ thể để hệ thốngkhuyến nông, các trường, các viện nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp vàPTNT trực tiếp tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm phát huy caohơn năng lực và kinh nghiệm đã tích lũy nhiều năm;

+ Về chương trình MTQG nông thôn mới,đề nghị các Bộ, ngành khẩn trương hoàn thành các văn bản hướng dẫn đã được phâncông tại Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp đề xuất điềuchỉnh Quyết định 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bộ tiêu chí quốc gia vềnông thôn mới cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại các địa phương.

2.2. Về vốn đầu tư

- Đề nghị Chính phủ ưu tiên tăng vốnđầu tư cho nông nghiệp, nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung 5 năm tới(2011 - 2015) với mức tăng cao hơn mức tăng của các vùng khác. Sản xuất nôngnghiệp ở các tỉnh vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung ít thuận lợi, thường cónhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, đề nghị Chính phủ có những chương trình hỗtrợ đặc biệt về hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật cho các địa phương trong vùng.

- Tập trung ưu tiên đầu tư các côngtrình, dự án thủy lợi hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2011 và 2012 - 2015,các dự án có hiệu quả và các công trình cấp bách; tiếp tục đầu tư Chương trìnhbảo đảm an toàn cho các hồ chứa nước trong vùng.

- Tăng mức đầu tư cho khai thác hảisản trước hết là cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; chophép mở rộng thí điểm hợp tác, liên doanh trong khai thác và bảo vệ nguồn lợithủy sản với các đối tác nước ngoài ở một số ngư trường có độ nhạy cảm về anninh quốc phòng thấp;

- Đầu tư xây dựng đội tàu kiểm ngư,đội tàu dịch vụ công ích thu mua hải sản trên biển, đảm bảo an toàn cho ngư dânyên tâm sản xuất, bám biển giảm chi phí di chuyển;

- Đầu tư xây dựng Trung tâm nghề cátrọng điểm tại miền Trung, để thu hút nguồn vốn đầu tư, giải quyết việc làm nghềcá cho cộng đồng ngư dân ven biển; cũng như đào tạo nguồn nhân lực nghề cá cóchất lượng phục vụ cho địa phương.

- Hỗ trợ vốn hoàn thành xây dựngcác tuyến đường đến trung tâm các xã chưa có đường ô tô và các xã chưa có điệnlưới quốc gia đến trung tâm xã; tăng vốn hỗ trợ các địa phương đầu tư phòng chốngsạt lở sông, suối, công trình đầu mối của các hồ chứa nước.

- Tăng vốn hỗ trợ Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia về Nước sạchvà VSMT nông thôn.

2. Đề nghị với địa phương cácvùng KTTĐ

- Trên cơ sở quy hoạch, chủ độngchuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ phù hợp để chủ động phòng tránhlũ lụt, đặc biệt những nơi thường xảy ra sạt lở, úng lụt dài ngày; đẩy mạnhcông tác lập đề án nông thôn mới cho các xã và chỉ đạo thực hiện lập quy hoạchchung, quy hoạch chi tiết; thực hiện đồng bộ quy hoạch bố trí dân cư, hạ tầngcơ sở với quy hoạch nông thôn mới; huy động các nguồn lực tham gia đầu tư đồngbộ công trình, đặc biệt là hệ thống kênh cấp dưới nhằm nâng cao hiệu quả đầutư.

- Có chính sách thu hút cán bộ khoahọc công nghệ đến công tác tại những địa bàn còn nhiều khó khăn./.