BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1019/QLCL-TTPC
V/v phối hợp giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội Khóa XIII

Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2014

Kính gửi: Văn phòng Bộ

Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng tạiVăn bản số 2748/BNN-VP ngày 10/6/2014 về việc phối hợp giải quyết ý kiến, kiếnnghị của cử tri và nhân dân tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội Khóa XIII, Cục Quản lýChất lượng Nông lâm sản và Thủy sản báo cáo Bộ trưởng như sau:

NỘI DUNG Ý KIẾN, KIẾN NGHỊ.

Tình trạng phân bón, thuốc bảo vệthực vật kém chất lượng được bày bán phổ biến, thiếu kiểm soát gây thiệt hạinghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người nông dân. Việc sử dụnghóa chất độc hại, không rõ nguồn gốc trong bảo quản thực phẩm, rau quả, sử dụngthuốc bảo vệ thực vật quá mức hoặc các chất không được phép; tiêu thụ thực phẩmôi thiu, không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về dịch bệnh, đe dọa antoàn, sức khỏe con người. Đề nghị Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan chức năng,các cấp chính quyền tăng cường quản lý các mặt hàng vật tư nông nghiệp và kiểmtra vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo vệ sản xuất và sức khỏe của nhân dân.

TRẢ LỜI.

1. Về phân bón, thuốc bảo vệ thựcvật.

Theo kết quả giám sát trên diện rộngcho thấy tỷ lệ mẫu phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vi phạm chất lượng như đãcông bố nói chung còn cao, tuy năm 2013 có cải thiện (9,2 %) so với năm 2012 (17%).

Để khắc phục tình trạng nêu trên, BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo tập trung triển khai một số giảipháp sau:

a) Hoàn thiện chính sách, pháp luật.

- Đối với vật tư phân bón.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã phối hợp cùng Bộ Công Thương trình Chính phủ ban hành Nghị định về Quảnlý phân bón thay thế các văn bản cũ để quản lý tốt hơn, theo hướng quản lý từgốc: Đưa phân bón trở thành mặt hàng sản xuất, kinh doanh có điều kiện; hoànthiện hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia và quản lý chấtlượng phân bón dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia; đồng thời Bộđã chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng trình Bộ ban hành các thông tư hướngdẫn triển khai Nghị định về quản lý phân bón để nhanh chóng đưa Nghị định vàocuộc sống, quản lý phân bón chặt chẽ, hiệu quả hơn.

- Đối với vật tư thuốc bảo vệ thựcvật.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã trình Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đã trìnhChính phủ ban hành Nghị định số 114/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đã ban hànhThông tư số 03/2013/TT-BNNPTNT ngày 11/01/2013 về quản lý thuốc BVTV và nhiều văn bản chỉ đạo và huy động hệ thống BVTV từ trung ương đến địa phương vàocuộc quyết liệt để quản lý chặt chẽ thuốc BVTV ;

b) Công tác thông tin, truyền thông.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổbiến kiến thức pháp luật cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất,kinh doanh trong lĩnh vực phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; tổ chức tuyên truyềngiáo dục cho người sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để nhận biết vàhướng xử lý khi gặp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng; hướngdẫn lựa chọn sử dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật của các đơn vị cóuy tín, có thương hiệu.

c) Công tác thanh tra, kiểm tra.

- Năm 2013 Bộ đã phát động đợt thanhtra diện rộng, lấy mẫu kiểm tra chất lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vàxử lý các hành vi vi phạm; tăng cường phối hợp liên Ngành tổ chức kiểm tra,thanh tra, phát hiện ngăn chặn kịp thời và nghiêm khắc hành vi sản xuất, buônbán các loại phân bón giả, kém chất lượng: Tháng 11/2013 Bộ đã mời UBND cáctỉnh biên giới, các Bộ, Ngành có liên quan để họp bàn và tìm giải pháp phối hợpquản lý, kiểm soát thuốc BVTV nhập khẩu vào Việt Nam.

- Năm 2014, để tăng cường công tácquản lý nhà nước về các loại vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản,Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị 167/CT-BNN-TTr ngày 20/01/2014 về việc tăng cườngcông tác thanh tra, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩmnông lâm thủy sản và tổ chức đợt thanh tra diện rộng về vật tư nông nghiệp(Quyết định số 888/QĐ-BNN-TTr ngày 29/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn)

2. Về an toàn thực phẩm nông lâmthủy sản.

Để đánh giá thực trạng an toàn thựcphẩm, hàng năm các cơ quan thuộc Bộ đều triển khai giám sát, đánh giá mức antoàn thực phẩm nông lâm thủy sản. Kết quả lấy mẫu giám sát trên diện rộng cácsản phẩm tiêu thụ nhiều, nguy cơ cao trong các năm gần đây cho thấy tỷ lệ mẫurau quả tươi có tồn dư thuốc BVTV vượt ngưỡng cho phép là 5,6% đến 6,8%; thịtgia súc, gia cầm có tồn dư hoá chất, kháng sinh, chất tạo nạc vượt ngưỡng chophép là 2% đến 4,9%; thuỷ sản có tồn dư hoá chất, kháng sinh vượt ngưỡng chophép là 0,7% đến 2,6%; tỷ lệ mẫu nhiễm như trên ở mức tương đương với các nướcđang phát triển trong khu vực nhưng còn cao hơn so với EU, Nhật, Úc... và có xuhướng giảm nhưng chưa ổn định; riêng tỷ lệ mẫu thịt gia súc, gia cầm nhiễm visinh vật còn cao (10% đến 38,7%) do còn nhiều bất cập ở khâu giết mổ, bày bánmất vệ sinh .

Để công tác quản lý nhà nước về antoàn thực phẩm nói chung, công tác quản lý hóa chất, chất tăng trưởng độc hại nóiriêng trong sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm thuộc thẩm quyền quảnlý, trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo cáccơ quan chức năng trực thuộc Bộ:

a) Tập trung nguồn lực hoàn thiện cơchế, chính sách pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về ATTP nông lâm thủysản, cụ thể: Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật; Bộ đãtrình Chính phủ ban hành 05 Nghị định, 01 Quyết định; ban hành Đề án xây dựngvà phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn, 26 Thông tư về công tácquản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản, 32 Quy chuẩn kỹ thuật, 49 Tiêuchuẩn Việt Nam và Đề án Phát triển sản xuất, tiêu thụ rau an toàn.

Hoàn thiện dự thảo, lấy ý kiến góp ýĐề án khung về quy hoạch vùng rau an toàn cho các đô thị lớn, Đề án tổ chứcdịch vụ bảo vệ thực vật và Đề án đảm bảo an toàn thực phẩm trong giết mổ giasúc, gia cầm.

b) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quantruyền thông, tổ chức chính trị xã hội phổ biến, tuyên truyền, giáo dục chínhsách pháp luật về ATTP: Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam triển khai chươngtrình truyền thông về chuỗi sản xuất nông sản, thủy sản an toàn.

c) Tăng cường công tác giám sát,thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

- Triển khai thực chất có hiệu quảThông tư 14/2011/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuấtkinh doanh VTNN và sản phẩm nông lâm thủy sản, trong đó:

+ Cơ bản đã rà soát, thống kê đượcđầy đủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ vàkiểm tra, đánh giá , xếp loại A, B, C (loại A đáp ứng quy định, loại B còn sailỗi nhưng chưa đến mức nghiêm trọng, loại C sai lỗi nghiêm trọng cần khắcphục).

+ Hướng dẫn khắc phục các sai lỗi vàxử lý các cơ sở không đạt (loại C).

+ Công khai kết quả kiểm tra, xếploại A, B, C.

- Duy trì lấy mẫu giám sát trên diệnrộng kết hợp với thông tin vi phạm ATTP từ các nguồn khác nhau làm cơ sở đánhgiá nguy cơ, xác định sản phẩm nguy cơ cao, công đoạn nguy cơ cao, địa bàn nguycơ cao để tổ chức thanh tra, điều tra nguyên nhân, xử lý nghiêm vi phạm (kể cả thu hồi sản phẩm không an toàn); kịp thời cung cấp thông tin đầy đủ, tránh để người dân thiếuthông tin dẫn đến hiểu lầm, hoang mang, đồng thời giúp người tiêu dùng trongphân biệt, lựa chọn sản phẩm an toàn

- Các trường hợp mất ATTP do cơ quanchức năng giám sát, kiểm tra phát hiện hoặc do phương tiện thông tin đại chúngphản ánh, Bộ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng ngay lập tức thanh tra/điều tra,xác định nguyên nhân, mức độ, hậu quả và xử lý nghiêm vi phạm theo qui định,đồng thời kịp thời cung cấp thông tin chính xác đến người tiêu dùng, như lấymẫu, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với các loại hạt (hướng dương, hạt dưa hấu,bầu, bí), rau (ngót, mướp đắng), gừng, khoai tây Trung Quốc; cá tầm, cá quả, cátrê trên địa bàn thành phố Hà Nội; gạo tại thành phố Hồ Chí Minh; tình hình nhiễmchất Trifluralin trong cá điêu hồng; cảnh báo của thị trường Nhật Bản đối vớiviệc nhiễm dư lượng Ethoxyquin trong thủy sản Việt Nam; điều tra, xác minh phảnánh trên báo chí về “đường dây sản xuất trà bẩn” tại Lâm Đồng, sử dụng hoá chấtlàm chín chuối tại Hà Nội, giăm bông bẩn, sườn bỏ cay..).

Trên đây là báo cáo trả lời của Cục,đề nghị Văn phòng Bộ nghiên cứu, tổng hợp và báo cáo Bộ trưởng./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, TTPC

CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Như Tiệp