BỘ TÀI CHÍNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 10867/BTC-CST
V/v: chính sách thuế GTGT đối với phân bón, thức ăn chăn nuôi

Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2015

Kính gửi:

- Các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư;
- Hiệp hội Phân bón Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Công ty TNHH Sojitz Việt Nam.

Bộ Tài chính nhận được kiến nghị của Bộ Công Thương(công văn số 4155/BCT-TC ngày 25/4/2015 báo cáo Thủ tướng Chính phủ), Hiệp hộiPhân bón Việt Nam (văn bản số 04/2015-CV ngày 07/3/2015), Tập đoànHóachất Việt Nam (các văn bản: 12/HCVN-KHKDngày 06/1/2015, 543/HCVN-KHKD ngày 27/4/2015) về chính sách thuế giá trị giatăng (GTGT) đối với phân bón và kiến nghị của Công ty TNHH Sojitz Việt Nam (vănbản số 011214/SJVN ngày 19/12/2014) về chính sách thuế GTGT đối với thức ănchăn nuôi.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủtướng Chính phủ và để xử lý kiến nghị của Bộ Công Thương, Hiệp hội, doanhnghiệp, sau khi tổng hợp ý kiến của các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(NNPTNT) (công văn số 4128/BNN-TT ngày 27/5/2015), Tư pháp (công văn số 1817/BTP-PLDSKT ngày 28/5/2015), Công Thương (công văn số 5344/BCT-TC ngày01/6/2015) và Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) (công văn số 3460/BKHĐT-TCTT ngày03/6/2015), ngày 08/6/2015 Bộ Tài chính đã có công văn số 7501/BTC-CST báo cáoThủ tướng Chính phủ về chính sách thuế GTGT đối với phân bón và thức ăn chănnuôi.

Ngày 29/6/2015 Văn phòng Chính phủ có công văn số 4944/VPCP-KTTHthông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thuế GTGT đối với gạo,phân bón và thức ăn chăn nuôi:

“Đồng ý với đề nghị của Bộ Tài chính tại các vănbản số 7476/BTC-CST và số 7501/BTC-CST nêutrên. Giao Bộ Tài chính có báo cáo giải thích, thông tin rõ đến các Bộ, cơquan, doanh nghiệp.”

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại côngvăn số 4944/VPCP-KTTH nêu trên, Bộ Tài chính báo cáo giải thích, thông tin rõđến các Bộ, cơ quan, doanh nghiệp như sau:

I. Kiến nghị của Bộ Công Thương, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và các đơn vị liên quan:

1. Đối với mặt hàng phân bón:

Bộ Công Thương có ý kiến phân bón không chịu thuếGTGT chỉ có lợi chủ yếu cho phân bón nhập khẩu trong khi gây khó khăn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh phân bón (trongnước). Doanh nghiệp sản xuất phải tăng giá bán sản phẩm, do vậy người nông dân được lợi rất ít từ quy định này. TheoTập đoàn Hóa chất Việt Nam, phân bónkhông chịu thuế GTGT nên chi phí giá thành tăng thêm khoảng 6 - 8% tùy loại và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xemxét, trình Quốchội sửa đổi Luật số 71/2014/QH13 quy định phân bón áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% hoặc áp dụng thuếsuất thuế GTGT thấp nhất.

2. Đối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi:

Từ ngày 01/01/2015 thực hiện quy định mới áp dụngđối tượng không chịu thuế GTGT đối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi. Bộ Tài chínhchỉ nhận được văn bản của Công ty TNHH Sojitz Việt Nam kiến nghị khó khăn nhưsau: Do thức ăn chăn nuôi không chịu thuế GTGT nên doanh nghiệp không được khấutrừ, hoàn thuế GTGT của TSCĐ, nguyên vật liệu đầu vào. Số thuế GTGT đầu vàokhông được khấu trừ phải hạch toán vào chi phí làm tăng giá thành sản phẩm. Côngty kiến nghị Bộ Công Thương, Bộ Tài chính báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnhnhằm mang lại lợi ích trong lĩnh vực nông nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài.

II. Đề xuất của BộTài chính:

1. Thuế GTGT đốivới mặt hàng phân bón, thức ăn chăn nuôi trước ngày 01/01/2015 và tình hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh phân bón, thức ăn chăn nuôi:

Trước 01/01/2015, phân bón và thức ăn chăn nuôi ápdụng thuế suất thuế GTGT 5% ở tất cả các khâu nhập khẩu và tiêu thụ trong nước;phân bón và thức ăn chăn nuôi xuất khẩu áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% (doanhnghiệp xuất khẩu được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa khi xuấtkhẩu).

a) Đốivới mặt hàng phân bón:

Theo ước tính sơ bộ của Bộ Tài chính, tổng số thuếGTGT đối với mặt hàng phân bón mà người nông dân phải trả trong năm 2014 ướckhoảng 5.380 tỷ đồng, trong đó đối với mặt hàng phân bón trong nước là 4.180 tỷđồng và đối với mặt hàng phân bón nhập khẩu là 1.200 tỷ đồng.

b) Đốivới mặt hàng thức ăn chăn nuôi:

Theo ước tính sơ bộ của Bộ Tài chính thì tổng sốthuế GTGT đối với thức ăn mặt hàng chăn nuôi công nghiệp cho gia súc, gia cầm(không tính thức ăn cho nuôi trồng thủy sản) mà người nông dân phải trả trongnăm 2014 là khoảng 7.550 tỷ đồng. Ngoài thức ăn chăn nuôi công nghiệp, cáctrang trại có tự trộn thức ăn chăn nuôi phải tính, nộp thuế GTGT đối với thứcăn chăn nuôi tự trộn nhưng không được khấu trừ số thuế GTGT này vì sản phẩmnông nghiệp đầu ra không chịu thuế GTGT.

2. Quá trình xâydựng chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón, thức ăn chăn nuôi tại Luậtsố 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế:

Để khuyến khích sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ, tháogỡ khó khăn cho người nông dân, ngày 11/8/2014, tại công văn số 6332/BC-BNN-TCBộ NNPTNT báo cáo Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Luật thuế GTGT để bỏ quy địnhphân bón, thức ăn chăn nuôi chịu thuế GTGT với thuế suất 5% và đưa phân bón,thức ăn chăn nuôi vào đối tượng không chịu thuế GTGT.

Nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Bộ NNPTNT, Bộ Tàichính đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ: “Chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượngchịu thuế GTGT với mức thuế suất 5% hiện nay sang đối tượng không chịu thuếGTGT. Doanh nghiệp sản xuất phân bón đượchoàn thuế GTGT đầu vào của máy móc, thiết bị, vật tư xây dựng tạo tài sản cố định...”. Được sự đồng ý của Thủtướng Chính phủ, ngày 17/10/2014 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ thay mặtChính phủ trình Quốc hội tại Tờ trình số 423/TTr-CP về việc sửa đổi, bổ sungmột số điều của các luật về thuế như sau: Chuyển mặt hàng phân bón, thức ănchăn nuôi từ đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5% sang đối tượng khôngchịu thuế GTGT; hànghóa mua o hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định (TSCĐ) của dự án đầu tư, sản xuất phânbón, thức ăn chăn nuôi được khấu trừ hoặc hoànthuế GTGT đầu vào.

Với đề xuất trên, mặc dù phân bón, thức ăn chănnuôi không được áp dụng thuế suất 0% nhưng thuế GTGT đầu vào của máy móc, thiếtbị tạo TSCĐ đầu tư vẫn được hoàn lại, không phải tính vào chi phí, qua đó giảmgiá thành phân bón, thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước.

Ngày 26/11/2014 Quốc hội đã thôngqua Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Luật về thuế cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, quy định mặt hàng phân bón thuộc đốitượng không chịu thuế GTGT; doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ,hoàn thuế GTGT của hànghóa, dịch vụ muavào (kể cả thuế GTGT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo TSCĐ) dùng chosản xuất phân bón, thức ăn chăn nuôi.

3. Hướng xử lý kiến nghị về thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón và thứcăn chăn nuôi:

a) Đối với mặt hàng phân bón:

- Qua số liệu thống kê sơ bộ củacơ quan thuế và Hiệp hội sản xuất phân bón thì: bốn (04) tháng đầu năm 2015 cáccông ty sản xuất phân bón vẫn lãi tổng cộng hơn 2.400 tỷ; một số công ty có mứclợi nhuận cao như: Công ty TNHH MTV Phân bón Dầu khí Cà Mau: năm 2012 lãi 736tỷ, 2013 lãi 525 tỷ; Công Ty TNHH MTV Phân Đạm và hóa chất Hà Bắc năm 2011 lãi605 tỷ, 2012 lãi 484 tỷ, 2013 lãi 300 tỷ, 2014 lãi 135 tỷ đồng; Công ty Supephốt phát Lâm Thao có lãi hàng năm từ 383 tỷ đồng (2010) đến 595 tỷ đồng(2013), năm 2014 lãi 562 tỷ đồng... . Tuy nhiên cũng có một số doanh nghiệp bịlỗ: Công ty CP DAP số 2 VINACHEM lỗ 4 tỷ đồng trong mỗi năm 2013, 2014, Công tyTNHH MTV Đạm Ninh Bình lỗ 906 tỷ đồng và lỗ 739 tỷ đồng năm 20142.

Về tác động đến lợi nhuận củadoanh nghiệp: Từ ngày 01/01/2015, phân bón không chịu thuế GTGT ở tất cả cáckhâu nhập khẩu, sản xuất, bán buôn và bán lẻ. Tại khâu bán buôn vàbán lẻ, thuế GTGT phải nộp mỗi khâu là 1% trên doanh thu theo phương pháp tínhtrực tiếp trên GTGT, do không chịu thuế nên tổng cộng mức giảm tối thiểu là 2% trêndoanh thu (bao gồm thuế GTGT trước ngày 01/01/2015) khi đến tay người nông dân.Theo số liệu thống kê của cơ quan thuế từ năm 2009 đến hết 6 tháng đầu năm 2014,tỷ lệ thuế GTGT đầu vào trên doanh thu chưa có thuế GTGT của doanh nghiệp sảnxuất phân bón là 5,71%, cao hơn 0,71% so với mức thuế suất 5% nên nếu tăng giábán chưa có thuế bằng với mức thuế GTGT đầu vào hạch toán vào chi phí (để mứclợi nhuận tuyệt đối của doanh nghiệp không thay đổi) thì giá bán sẽ tăng 0,71%.Mức tăng 0,71% này của doanh nghiệp sản xuấtphân bón hoàn toàn thấp hơn mức giảm 2% trên giá thanh toán mà người nông dânđược hưởng do phân bón không chịu thuế GTGT ở khâu bán buôn, bán lẻ. Có nghĩalà, nếu cộng đủ thuế GTGT đầu vào vào giá bán phân bón của doanh nghiệp thì mứclợi nhuận tuyệt đối của doanh nghiệp không thay đổi và người nông dân vẫn đượclợi do mức giảm giá ở khâu bán buôn, bán lẻ phân bón (không chịu thuế GTGT) caohơn mức tăng do số thuế GTGT đầu vào cộng vào giá bán.

- Qua tham khảo Tổng công ty Hóachất về Danh mục dự án đầu tư trong lĩnh vực phân bón giai đoạn 2011-2015 vàkết quả thanh tra tài chính tại Dự án xây dựng Nhà máy đạm Ninh Bình, Nhà máysản xuất phân bón DAP Hải Phòng, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Bộ Tài chính thấyrằng giá thành mặt hàng phân bón của các cơ sở sản xuất trong nước vẫn còn caodo nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến nguyên nhân có dự án đầu tư còndàn trải, không đảm bảo tiến độ, hiệu quả chưa cao, thi công chậm tiến độ, chiphí tăng do lãi suất ngân hàng và chênh lệch tỷ giá, triển khai dự án vượt dự toán nhiều hạng mục như quản lý dự án,đền bù giải phóng mặt bằng, kết quả chạy thử nghiệm chưa đảm bảo một số chỉtiêu như thiết kế, một số dự án đầu tư sản xuất phân bón trong giai đoạn 2011 -2015 có dự án tỷ lệ vốn đi vay so với tổng nguồn vốn quá cao (hầu hết các dự áncó tỷ lệ vốn vay/tổng nguồn vốn vào khoảng 70%) trong khi vốn chủ sở hữu thấp(hầu hết các dự án có tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn vào khoảng 30%). Cácnguyên nhân trên dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành phân bón sản xuất trongnước còn cao. Các nhà đầu tư cũng cần tăng cường quản trị, rà soát để tiết giảmchi phí, từ đó giảm giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Từ năm 2015 trở đi, nếu ước tínhtheo quy mô vốn đầu tư (không bao gồm thuế) của lĩnh vực phân bón theo Quyhoạch ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2020, có tính đến năm 2030được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-TTg ngày 18/9/2013thì tổng số thuế GTGT đầu vào của TSCĐ đến năm 2020 khoảng 3.000 tỷ đồng3. Mặc dù số hoàn thuế bìnhquân mỗi năm khoảng 500 tỷ đồng nhưng do TSCĐsửdụng trong nhiều năm, đặc biệt là nhà xưởng có thời gian khấu hao tốithiểu lên đến 25 năm nên khi phân bố vào giá thành sản xuất phân bón tác độngkhông nhiều: giả sử thời gian khấu hao trung bình là 10 năm, sản lượng phân bóncác loại bình quân 11 triệu tấn4thì số thuế GTGT của TSCĐ hạch toán vào 1 kg phân bón chỉ là 4,5 đồng5, không tính số thuế GTGT đầuvào sản xuất phân bón xuất khẩu được hoàn.

- Qua tham khảo quy định của 79quốc gia và vùng lãnh thổ thì có 12 quốc gia đưa mặt hàng phân bón vào diệnkhông chịu thuế VAT, có 10 quốc gia có mức thuế suất 0%, mức thuế suất dưới 10%có 50 quốc gia, và từ 10% trở lên có 19 quốc gia. Mức thuế suất trung bình là13%, thuế suất cao nhất đối với mặt hàng này là 27% (nội dung này cũng đã đượcbáo cáo Quốc hội khi trình dự án Luật sửa đổi, bổsung một số điều của các luật về thuế).

Từ những nội dung nêu trên, Bộ Tàichính trình Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với BộCông Thương, Bộ NNPTNT và các đơn vị liên quan tiếp tục theo dõi, rà soát, đánhgiá tác động cụ thể của chính sách phânbón không chịu thuế GTGT và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết địnhviệc trình Quốc hội bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung thuế GTGT đối với mặthàng phân bón vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳtới.

Bộ NNPTNT (công văn số 4128/BNN-TT ngày 27/5/2015), Bộ KHĐT (công văn số 3460/BKHĐT-TCTT ngày 03/6/2015), Bộ Tưpháp (công văn số 1817/BTP- PLDSKT ngày 28/5/2015) đều nhất trí với đề xuất nêutrên của Bộ Tài chính.

Bộ Công Thương (công văn số5344/BCT-TC ngày 01/6/2015) có ý kiến tác động của chính sách thuế mới đối vớicác doanh nghiệp sẽ rất khác nhau: Đối với những doanh nghiệp lớn, đã hoạt độngổn định lâu năm được nhắc tới trong dự thảo thì quy định về thuế mới làm giảmđáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp mới đi vào hoạtđộng hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì nguy cơ thua lỗ rất cao. Để đánh giátác động của chính sách thuế mới, đề nghị Bộ Tài chính tính toán số thuế GTGTđầu vào mà doanh nghiệp sẽ phải nộp do không được khấu trừ, số thuế GTGT màngười tiêu dùng được giảm,thay đổi vềlợi nhuận trước và sau thuế của các doanh nghiệp sản xuất phân bón, chi phí đầutư phát sinh của các dự án đang trong quá trình triển khai xây dựng. Vì vậy để gópphần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và có điều kiện hỗ trợ người dân, tháogỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất phân bón, Bộ Công Thương giữ đề nghị Bộ Tàichính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGTvới thuế suất 0% ngay trong Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII.

Về ý kiến của Bộ Công Thương, BộTài chính đã tiếp thu đầy đủ, hoàn chỉnh nội dung báo cáo Thủ tướng Chính phủnhư đã trình bày ở trên. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý giao cho Bộ Tài chínhchủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, BộNNPTNT và các đơn vị liên quan tiếp tụctheo dõi, rà soát, đánh giá tác động cụ thể của chính sách phân bón không chịuthuế GTGT và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc trình Quốchội bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón vàochương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ tới.

b) Đối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi:

- Các doanh nghiệp được khảo sátđều cho rằng chính sách thức ăn chăn nuôi không chịu thuế GTGT từ ngày01/01/2015 đã có ảnh hưởng tốt, góp phần giảm giá bán tính trên doanh thu chưathuế khoảng 4% - 4,5% ngay tại khâu sản xuất premix, hoạt chất dùng cho sảnxuất thức ăn chăn nuôi và khâu trực tiếp trộn, chế biến thức ăn chăn nuôi bêncạnh việc giảm thủ tục hành chính về kê khai, nộp thuế và giảm khó khăn về dòngtiền cho doanh nghiệp.

Trong cả ba (03) doanh nghiệp đượckhảo sát, không có doanh nghiệp nào kiến nghị điều chỉnh chính sách thuế GTGTđối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi (có nghĩa là giữ như Luật số 71/2014/QH13 ).Tại thời điểm khảo sát đầu tháng 3/2015, các đơn vị này đều giữ giá bán ra bằnggiá bán chưa có thuế GTGT trước ngày 01/01/2015, như vậy người chăn nuôi đượchưởng trọn vẹn 5% thuế GTGT đầu ra trước đây. Thực tế giá thức ăn chăn nuôi hỗnhợp trong 3 tháng đầu năm 2015 giảm nhẹ khi so với tháng 12/2014 và giảm mạnhkhi so với Quý 1/2014.

- Qua tham khảo thống kê tại 78quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉ có 3 quốc gia áp dụng mức thuế suất 0% đối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi, còn lại 12 quốc gia quy định thức ăn chăn nuôi không chịuthuế GTGT; 26 quốc gia áp dụng thuế suấtdưới 10%; 37 quốc gia áp dụng thuế suất từ 10% trở lên. Mức thuế suất thuế GTGTđối với mặt hàng này trung bình là 14,67%, thuế suất cao nhất là 27%. Bốn (04)nước ASEAN (Thái Lan, Indonexia, Philippines, Myanmar) đều quy định thức ănchăn nuôi không chịu thuế GTGT.

- Thức ăn chăn nuôi gồm 02 (hai)loại: (i) Thức ăn tự nhiên như các loại từ sản phẩm nông, thủy sản (ngô, thócgạo, đậu tương, lạc) do tổ chức, cá nhân trồng trọt bán ra và (ii) thức ăn côngnghiệp do các doanh nghiệp sản xuất, chế biến (cám, bã, khô dầu các loại, bộtcá, bột xương, bột tôm) và phế liệu, phế phẩm từ các ngành chế biến sản phẩmnông, lâm, thủy sản (bã đậu, mía, bã bia,...); trong đó loại thức ăn tự nhiênchiếm khoảng 1/3 tổng nhu cầu thức ăn chăn nuôi. Nếu áp dụng thuế suất thuếGTGT 0% thì phải áp dụng thuế suất 0% ở tất cả các khâu, từ trồng trọt, sơ chếsản phẩm trồng trọt là thức ăn tự nhiên đến chế biến, sản xuất thức ăn chănnuôi công nghiệp hoặc thức ăn chăn nuôi tự trộn của các hộ trang trại, và phảithực hiện hoàn thuế GTGT. Việc này là không khả thi vì người nông dân khôngthực hiện được hệ thống kế toán và sổ sách,hóa đơn, không có khả năng được hoàn thuế GTGT đầu vào mà chỉ có doanh nghiệpsản xuất nông nghiệp đáp ứng được điều kiện, thủ tục và được hoàn thuế, gây bấtbình đẳng trong sản xuất nông nghiệp giữa người nông dân và doanh nghiệp, bấtlợi cho người nông dân; đồng thời rủi ro cao về gian lận trong hoàn thuế GTGTnhư việc hoàn thuế GTGT đối với nông sản ở khâu lưu thông thương mại đã diễn ratrước ngày 01/01/2014.

Do tác động tổng thể của chínhsách thức ăn chăn nuôi không chịu thuế GTGT từ ngày 01/01/2015 là tương đối tốtvà phù hợp với thông lệ các nước, Bộ Tài chính đã báo cáo và được Thủ tướngChính phủ đồng ý giữ chính sách thức ăn chăn nuôi không chịu thuế GTGT.

Bộ Tài chính báo cáo, giải thíchrõ để các Bộ, Hiệp hội, doanh nghiệp biết và đề nghị Hiệp hội, doanh nghiệpthực hiện theo đúng quy định hiện hành./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Văn phòng Chính phủ;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính (để đăng tin);
- Lưu: VT, CST(15b).

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Vũ Thị Mai



2 Theo báo cáo tài chính của các Công ty.

3 Nếu 14 dự án đầu tư từ 2008 triển khaiđúng tiến độ, vốn đầu tư phân bổ đều theo năm là 1.572,6 tỷ đồng cộng với 03 dựán đầu tư từ 2016 là 1.425,5 tỷ đồng; tỷ giá 1 USD = 21.500 đồng áp dụng chungcho cả giai đoạn.

4 Bằng tổngnhu cầu trong nước năm 2014 là 10,83triệu tấn bao gồm nhập khẩu.

5 Số thuế GTGT của TSCĐ hạch toán vào 1 kg phân bón = (500 tỷ/10 năm)/11 triệutấn.