UBND TỈNH GIA LAI
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1200/SGD &ĐT
V/v : Hướng dẫn viết và chấm sáng kiến kinh nghiệm

Pleiku, ngày 26 tháng 11 năm 2008

Kính gửi:

- Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị xã, thành phố
- Các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai

Thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bảnhướng dẫn thi hành Luật, trong khi chờ hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền, đểgiúp cho các cấp quản lý giáo dục, các đơn vị trường học, các nhà giáo và cánbộ quản lý giáo dục trong tỉnh thuận lợi trong việc đánh giá, xếp loại và viếtsáng kiến kinh nghiệm (SKKN), Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai hướng dẫn như sau:

I. Sáng kiến kinh nghiệm

Sáng kiến : Ý kiến mới, có tác dụng làm cho côngviệc tiến hành tốt hơn.

Kinh nghiệm : Điều hiểu biết có được do tiếp xúcvới thực tế, do từng trải.

Sáng kiến kinh nghiệm: Là những điều hiểu biết mới,những ý kiến mới có được do từng trải, do tiếp xúc với tài liệu và với thực tế..., làm cho công việc được tiến hành tốt hơn.

Trong thực tiễn công tác quản lý giáo dục, chỉ đạovà giảng dạy, mỗi nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đều có những suy nghĩ vàviệc làm mới, sáng tạo. Những suy nghĩ và việc làm sáng tạo đó được áp dụngnhiều lần trong thực tế có kết quả tốt; có tác động tích cực làm nâng cao vàchuyển biến đến chất lượng, hiệu quả của công tác chỉ đạo, quản lý, giáo dục vàgiảng dạy, hoặc trong quá trình thực hiện chủ trương, nhiệm vụ của cấp trên giao đã có nhiều biện pháp cải tiến, sángtạo mang lại thành công và nhiều hiệu quả tốt. Những việc làm đó được xem làsáng kiến kinh nghiệm.

II. Định hướng nghiên cứu các đề tài SKKN nhưsau:

- SKKN về công tác quản lý, chỉ đạo, triển khai cácmặt hoạt động trong nhà trường;

- SKKN về hoạt động tổ chức bồi dưỡng nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên ở đơn vị;

- SKKN trong thực hiện tổ chức hoạt động các phònghọc bộ môn, phòng thiết bị và đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm; xây dựng cơ sởvật chất và tổ chức hoạt động thư viện, cơ sở thực hành, thực tập;

- SKKN trong việc triển khai, bồi dưỡng giáo viênthực hiện giảng dạy theo chương trình và sách giáo khoa mới;

- SKKN trong tổ chứchọc 2 buổi/ngày; tổ chức bán trú trong nhà trường;

- SKKN về nội dung, phương pháp tổ chức, cách thứcquản lý các hoạt động tập thể trong và ngoài giờ lên lớp;

- SKKN về cải tiến về nội dung bài giảng, phươngpháp giảng dạy bộ môn, phương pháp kiểm tra, đánh giá cho điểm học sinh phù hợpyêu cầu đổi mới của ngành và đáp ứng với yêu cầu xã hội;

- SKKN trong công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động đoànthể, hoạt động ngoài giờ lên lớp;

- SKKN trong việc ứng dụng thành tựu khoa học tiêntiến, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tinnhằm nâng cao chất lượng mọi lĩnh vực hoạt động trong các đơn vị; kinh nghiệm xâydựng các phần mềm tin học, giáo án điện tử, nhất là phương pháp sử dụng hiệuquả các đồ dùng dạy học và thiết bị dạy học hiện đại vào giảng dạy;

- SKKN huy động học sinh dân tộc thiểu số đếntrường, lớp học, duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng dạy- học, giáo dục học sinhdân tộc thiểu số ..v.v...

III. MỘT SỐ GỢI Ý VỀ VIỆC VIẾT SÁNG KIẾN KINHNGHIỆM:

1. Hình thức viết SKKN:

Căn cứ vào đặc điểm củatừng cấp học, ngành học; căn cứ vào thực tế chỉ đạo việc xét chọn, đánh giá, côngnhận SKKN của những năm qua, Sở gợi ý một số cách viết chủ yếu như sau:

a. Viết dưới hình thức tổng kết kinh nghiệm:

Lối viết này mang tính tổng hợp, khái quát, đòi hỏi người viết phải dùng lý luận về giáodục học, tâm lý học để phân tích, đánh giá thực tế giáo dục. Cách viết nàythường áp dụng trong việc tổng kết đánhgiá kinh nghiệm một cách toàn diện đối với một đơn vị hoặc một vấn đề lớn.

b. Viết theo lối báo cáo thực tế:

Cách viết này kinh nghiệm rút ra từ những thực tếviệc làm cụ thể. Ở phần cuối của báo cáo có nêu ra khái quát những bài học kinhnghiệm; hình thức này áp dụng trong trường hợp báo cáo, trình bày ở hội nghịsơ, tổng kết hoặc chuyên đề.

c. Viết theo lối tường thuật:

Theo cách này, người viết nêu lênnhững SKKN trong chỉ đạo, quản lý, giáodục và giảng dạy hoặc nhiệm vụ công tác khác của mình, thông qua những hoạtđộng cụ thể. Những hoạt động được chọn phải thật điển hình, tiêu biểu, phục vụcho nội dung đề tài đã được xác định. Điều chủ yếu là thông qua những hoạt độngnày, người viết phải nêu lên được cụ thể, hợp lý cách làm mới, có tính sángtạo, sáng kiến cải tiến, để giải quyết một thực tế về chỉ đạo, quản lý, giáo dục và giảng dạy hoặc nhiệm vụ công táccủa mình có kết quả tốt; cần nêu quátrình các hoạt động này theo diễn biến thời gian của giai đoạn trước và sau khitác động các biện pháp chỉ đạo, quản lý, giáo dục, giảng dạy. Đây là cách viếtphổ biến đối với cá nhân.

2. Xác định đề tài:

Đề tài giúp người viết xác định rõphạm vi, định hướng để tập trung mọi suy nghĩ của mình vào một vấn đề.

Đề tài có thể đề cập đến tất cảcác vấn đề trong những nội dung hoạt động của đơn vị về quản lý, chỉ đạo, vềgiảng dạy, giáo dục, về các hoạt động khác... nhưng cần chọn một vấn đề, mộtkhía cạnh sâu sắc nhất để viết, không nên viết cả một vấn đề lớn và quá rộng.Phạm vi của đề tài hẹp thì vấn đề viết thường sâu sắc hơn.

3. Bố cục, nội dung của một bảnSKKN:

Để thuận lợi cho người viết sángkiến kinh nghiệm, Sở giới thiệu 02 cách bố cục, nội dung của một bản sáng kiếnkinh nghiệm như sau (để tham khảo):

* Cách thứ nhất:

Mỗi SKKN được trình bày cần có đủ3 phần cơ bản:

- Đặt vấn đề (khó khăn, trở ngại,hiệu quả, hạn chế,...)

- Những biện pháp giải quyết vấnđề (khó khăn, trở ngại,...)

- Kết quả đạt được và việc phổbiến ứng dụng.

Ba phần trên cũng là ba thành phầncấu tạo nội dung bản SKKN.

a) Phần thứ nhất: Đặt vấn đề(nêu khó khăn, trở ngại, hiệu quả thấp, hạn chế).

Đây là loại yếu tố trước tiên phảiđược nêu ra từ thực tiễn hoạt động công tác, Các khó khăn, trở ngại là cơ sởlàm nảy sinh những SKKN. Không nêu những khó khăn, trở ngại, hiệu quả, hạn chếthì người đọc không hiểu tại sao lại có những SKKN, biện pháp nêu ở phần sau.

Khó khăn, trở ngại, hiệu quả cònthấp trong thực tiễn thường có nhiều loại, nhưng có thể chia thành 2 loại chính:

+ Do yếu tố chủ quan: thuộc vềnhận thức, trình độ, năng lực, quan niệm... của cán bộ quản lý và nhà giáo.

+ Do yếu tố khách quan: loại nàycó thể có nhiều, nhưng chỉ kể đến những yếu tố có liên quan trực tiếp đến hoạtđộng giáo dục, giảng dạy và chỉ đạo, quản lý của mình như môi trường giáo dục,quan niệm xã hội, cơ sở vật chất, phương tiện giáo dục .v.v...

Tóm lại, ở phần này cần nêu ngắngọn, cần chọn lọc những khó khăn, trở ngại, những phát sinh từ thực tiễn mộtcách điển hình. Đây cũng chính là lý do chọn đề tài.

b) Phần thứ hai: Những biệnpháp giải quyết vấn đề

Đây là yếu tố cơ bản, là nội dungchủ yếu có tính chất quyết định giá trị toàn bộ bản SKKN. Cần nêu tất cả những biệnpháp đã áp dụng trong quá trình tiến hành các hoạt động chỉ đạo, quản lý, giáo dục và giảng dạy, phối hợp với nhiệm vụcông tác của người viết SKKN. Có thể nêu những biện pháp đã áp dụng mà khôngthành công để rút kinh nghiệm. Trong phần này phải nêu thật cụ thể quá trình vàcách giải quyết từng khó khăn, trở ngại. Mỗi biện pháp cần nêu rõ:

+ Cơ sở để đề ra những biện phápấy.

+ Nêu diễn biến của quá trình tácđộng các biện pháp.

+ Tác động của biện pháp (thànhcông hay thất bại, kết quả đến mức nào).

Có nhiều trường hợp chỉ có một khókhăn, trở ngại nhưng phải áp dụng rất nhiều biện pháp cùng một lúc mới khắcphục được.

Yêu cầu của phần này là làm saocho người đọc hình dung được cách làm theo một trình tự nhất định, hợp lý. Tínhthuyết phục của bản SKKN chủ yếu do nội dung phần này quyết định.

Trong toàn bộ bản SKKN thì phầnnày là trọng tâm.

c) Phần thứ ba: Kết quả và việcphổ biến ứng dụng nội dung vào thực tiễn.

Phần này cần nêu thật ngắn gọn,nhưng phải cụ thể, rõ ràng. Tuy không phải là phần trọng tâm của bản SKKN nhưnglại là nội dung cần thiết không thể thiếu được. Đó là căn cứ để chứng minhnhững biện pháp đã áp dụng trên là đúng, là yếu tố cuối cùng xác nhận giá trịcủa SKKN.

Kết quả có thể nêu ở nhiều dạngkhác nhau:

+ Số liệu cụ thể (nên thống kêhoặc số liệu so sánh trước và sau khi áp dụng biện pháp)

+ Những biểu hiện cụ thể.

+ Tác dụng đối với thực tế và giátrị về các mặt (giáo dục, chính trị, kinh tế, xã hội,...)

+ Tài liệu tham khảo:

Tài liệu tham khảo được sắp xếptheo thứ tự a,b,c của tên tác giả. Mỗi tài liệu tham khảo được viết theo têntác giả, tên tài liệu tham khảo (in chữ nghiêng), nhà xuất bản, năm xuất bản.Thí dụ:

Nguyễn Văn A, Kinh tế,NXB...2005

Nguyễn Văn B, Văn hóa,NXB..., 2006

+ Tác giả cũng cần ghi mục lục vàocuối đề tài để người đọc dễ theo dõi.

+ Cuối bài viết có họ, tên, chữ kýcủa tác giả.

* Cách thứ hai:

Phần 1 : Đặt vấn đề (hoặc mở đầu hoặc tổng quan, hoặc một số vấn đề chung...)

Trong phần này cần nêu rõ lý dochọn đề tài để xem xét:

- Lý do về mặt lý luận

- Lý do về thực tiễn

- Lý do về tính cấp thiết, hoặccần thiết

- Lý do lựa chọn về năng lựcnghiên cứu của tác giả.

- Xác định mục đích nghiên cứu (đểlàm gì)

- Bản chất cần được làm rõ của sựvật (là gì?)

- Đối tượng nghiên cứu (nằm ở đâu?)

- Chọn phương pháp nghiên cứu nào(như thế nào?)

- Giới hạn về không gian của đốitượng khảo sát ...(ở lớp/ khối/ trường/quận/huyện..)

- Phạm vi và kế hoạch nghiêncứu...v.v...(thời gian nghiên cứu trong bao lâu? Khi nào bắt đầu, khi nào kếtthúc?).

Phần 1 chỉ nên viết không quá 2trang. Viết thành đoạn luận đủ các ý nêu trên mà không phải gạch đầu dòng trả lờicác gợi ý đó.

Phần 2: Nội dung

Phần này thường trình bày 03 vấnđề lớn (có thể gọi là các chương: chương 1, chương 2, chương 3 v.v...):

1- Cơ sở lý luận của vấn đề nghiêncứu, tổng kết kinh nghiệm (mục tiêu, ý nghĩa của vấn đề)

2- Phân tích thực trạng vấn đềnghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm (ở địa phương, ở cơ sở giáo dục chứa đối tượngnghiên cứu ...)

3- Mô tả các giải pháp (hệ giảipháp, những cách giải quyết, một số biện pháp, một số ứng dụng, một số đổimới....) mà tác giả đã thực hiện, đã sử dụng nhằm làm cho chất lượng, hiệu quảcông việc cao hơn.

Các kết quả cụ thể chứng minh chấtlượng, hiệu quả công việc cao hơn trước (bằng tổng hợp kết quả, số liệu minh họa, đối chiếu, so sánh...)

(Phần II chỉ nên viết không quá5-7 trang)

Phần 3 - Kết luận và kiến nghị

Phần này cần nêu:

1- Những kết luận quan trọng nhấtcủa toàn bộ sáng kiến kinh nghiệm.

2- Ý nghĩa quan trọng nhất.

3- Các kiến nghị quan trọng nhấtđược đề xuất, rút ra từ sáng kiến kinh nghiệm.

(Phần 3 chỉ nên viết không quá 2trang).

4 . Về hình thức:

Tất cả được đóng thành tập. Nóichung không nên quá dày (tối đa 20 trang ruột). Văn bản cần đánh máy vi tính, được in 01 mặt trên giấy trắng khổ giấy A4 (210x 297), font Unicode kiểu chữ Times New Roman, size 14, định lề trên 3cm, dưới2cm, lề trái 3,5cm, lề phải 2cm, dãn dòng đặt ở chế độ 1,5lines. Số trang đượcđánh góc dưới phía bên phải trang.

- Bìa chính phải ghi các mục: tênsáng kiến kinh nghiệm, họ và tên người viết sáng kiến kinh nghiệm, giới tính,dân tộc, ngày tháng năm sinh, chức vụ, đơn vị công tác.

- Tên phần, chương (nếu có) cáchdòng 1,5

- Tên chương (nếu có) bắt buộc ở đầutrang.

- Tên tiểu mục (nếu có) không ởcuối trang.

- Tên chương, mục (nếu có) khôngđược viết tắt.

- Trình bày hệ thống, khái quát,cụ thể, hấp dẫn, diễn đạt truyền cảm, văn phong khoa học (thường được sử dụng ởthể bị động), độ dài thích hợp, hợp lý, cân đối từng nội dung. Trình bày kháchquan kết quả nghiên cứu, không gò ép,“liệu” kết quả, tránh thể hiện tình cảm đối với đối tượng nghiên cứu.

IV. CÁCH ĐÁNH GIÁ VÀ XÉT CHỌNSKKN:

Mỗi cấp quản lý giáo dục, đơn vị,trường học đều phải thành lập Hội đồng khoa học của cấp mình do thủ trưởng đơn vị quyết định. Tất cả các SKKN đềuphải được Hội đồng khoa học cấp trường, cấp cơ sở đánh giá, xếp loại.

Khi đánh giá, xét chọn và xếp loạimột bản SKKN cần căn cứ vào tiêu chuẩn xếp loại, đối chiếu với yêu cầu, nộidung của một bản SKKN đã được quy định nêu trên. Căn cứ vào tác dụng của SKKNđối với thực tế công tác chỉ đạo, quản lý, giáo dục và giảng dạy.

Từ cách đặt vấn đề trên, việc xétchọn, xếp loại SKKN cần được đánh giá trên các mặt sau:

1. Về nội dung:

a) Một bản SKKN cần đảm bảo có đủ3 phần cơ bản đã nêu trên, trong đó đánh giá cao phần thứ hai (phần biện pháp).

b) Nội dung của bản SKKN phải đảmbảo 4 tính chất chủ yếu là: tính khoa học, tính sáng tạo, tính hiệu quả, tínhphổ biến.

+ Tính khoa học: đây là yêu cầu cơbản của một bản SKKN. Tính khoa học của mỗi bản SKKN thể hiện ở các biện phápgiải quyết, các biện pháp đó phải:

- Phù hợp với đường lối, chủtrương giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước.

- Phù hợp với yêu cầu, nội dunggiáo dục theo từng cấp học; từng cơ quan, đơn vị.

- Phù hợp với nguyên tắc và phươngchâm giáo dục.

- Phù hợp với đặc điểm tâm lý,sinh lý của học sinh, sinh viên.

+ Tính sáng tạo: đây cũng là yếutố cơ bản của một bản SKKN. Do đó, khi đánh giá cần hết sức trân trọng nhữngbiện pháp sáng tạo dù là nhỏ, vì qua đó người viết SKKN đã biết vận dụng mộtcách linh hoạt, sáng tạo, sáng kiến của mình vào nhiệm vụ hoạt động của mình phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giáodục ở địa phương mà vẫn đảm bảo được yêu cầu khoa học của quá trình thực hiện nhiệm vụ.

c. Về hình thức:

Đảm bảo các yêu cầu về hình thứcđã nêu ở phần trên

2. Về cách đánh giá và xếploại:

a - Cách đánh giá:

+ Thang điểm : 20 điểm, lẻ đến 0,5điểm.

+ Tiêu chí đánh giá:

- Tính mới trong khoa học sư phạm(sáng tạo): 5 điểm

- Tính chính xác của các kết quảquan sát hoặc thí nghiệm: 5 điểm

- Tính hiệu quả: 5 điểm

- Tính phổ biến (phạm vi ứngdụng): 5 điểm

Tổng cộng : 20 điểm

b - Mức đánh giá:

- Loại tốt: Từ 17 điểm đến 20 điểm

- Loại khá: Từ 14 điểm đến 16,5điểm

- Loại đạt yêu cầu: Từ 10 điểm đến13,5 điểm

- Loại không đạt yêu cầu: dưới 10điểm (trường hợp không đạt yêu cầu có thể đề nghị viết lại theo ý kiến góp ý củaHội đồng).

- Đánh giá xếp loại chung của Hộiđồng sẽ căn cứ vào đánh giá của từng thành viên Hội đồng và quyết định xếp loạitheo số điểm nêu trên.

3.Trình tự xét và cấp giấy côngnhận:

a. Đối với Hội đồng cấp cơ sở(đơn vị, trường học):

- Cá nhân viết SKKN nộp cho Hộiđồng khoa học tại đơn vị để đề nghị xétcông nhận.

- Hội đồng khoa học cơ sở họp (theoquy chế của Hội đồng quy định) để đánh giá, công nhận.

- Hội đồng khoa học chủ yếu dựavào bản SKKN để đánh giá xếp loại SKKN. Tuy nhiên ở một vài trường hợp đặc biệt, nếu thấy thật cần thiếtthì hội đồng có thể mời người viết SKKN trình bày thêm hoặc giải thích rõ thêmmột số chi tiết trước hội đồng.

- Căn cứ kết quả đánh giá xếp loạicủa Hội đồng khoa học, Chủ tịch Hội đồng khoa học của cơ quan, đơn vị đề nghịthủ trưởng đơn vị cấp giấy công nhận đề tài SKKN cho cá nhân.

- Trường hợp bản SKKN của tập thể(có từ 2 người trở lên cùng tham gia thực hiện SKKN) thì chủ tịch hội đồng sẽxem xét quyết định cấp giấy chứng nhận cho cá nhân nào có SKKN.

- Giấy công nhận SKKN là cơ sở đểcác đơn vị xét bình chọn các danh hiệu thi đua khen thưởng các cấp (chiến sĩ thiđua cấp cơ sở, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh,giấy khen, bằng khen các cấp), là điều kiện tham gia các hội thi (sẽ do điều lệtừng hội thi quy định). Một người có thể có nhiều SKKN. 01 sáng kiến kinhnghiệm chỉ có giá trị để bình xét thi đua, khen thưởng trong 01 năm học.

b. Đối với Hội đồng cấp trên:

Hội đồng khoa học cấp trên sẽ họpxét, thẩm định, công nhận SKKN theo đề nghị của Hội đồng hoặc cơ quan quản lýgiáo dục cấp dưới. Hội đồng của Sở xét đối với đề nghị của Hội đồng cấp cơ sở ởđơn vị trường học trực thuộc Sở và Hội đồng cấp huyện, thị xã, thành phố; Hộiđồng cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo xét đối với đề nghị của Hội đồng cấp cơ sở ởcác đơn vị trực thuộc Phòng Giáo dục - Đào tạo. Việc xét thẩm định và công nhậncủa Hội đồng cấp trên cũng vận dụng tươngtự như đối với cấp cơ sở, nhưng sáng kiến kinh nghiệm đó phải được Hội đồng cấpdưới thẩm định, đánh giá xếp loại và đã được phổ biến, triển khai ứng dụngtrong phạm vi huyện trở lên (đối với cá nhân trực thuộc huyện, thị xã, thành phố) và phạm vi đơn vị trường (đối vớicác cá nhân thuộc đơn vị trực thuộc Sở).

- Riêng đối với các đề tài, côngtrình nghiên cứu khoa học các cấp được thực hiện theo các quy định hiện hành của nhà nước.

Trên đây là hướng dẫn chung. Thựctế có những cải tiến, sáng kiến kinh nghiệm đặc thù thì việc trình bày khôngnhất thiết phải theo mẫu này, miễn việc trình bày mang tính thuyết phục.

Trong cùng năm học, nếu cán bộ,giáo viên có tham gia biên soạn (hoặc tham gia nhóm nghiên cứu) các loại hìnhsau đây:

- Sách tham khảo, phục vụ cho côngtác giáo dục (đã xuất bản).

- Công trình (hoặc đề tài) nghiêncứu khoa học đã được công bố trong các tạp chí chuyên ngành (hoặc đã bảo vệthành công ở hội đồng khoa học từ cấp ngành trở lên) thì có thể báo cáo để hộiđồng khoa học của sở có thể xem xét và quyết định thay cho (hoặc xem như) 1sáng kiến kinh nghiệm.

Yêu cầu các cấp quản lý giáo dục,đơn vị trường học, các cán bộ quản lý và nhà giáo trong tỉnh tích cực tham gia,phổ biến và hưởng ứng phát huy phong trào thi đua viết cải tiến, sáng kiến kinhnghiệm giáo dục ở địa phương đơn vị mình. Trong quá trình triển khai thực hiện,có vấn đề gì chưa rõ cần phản ánh về Sở để được hướng dẫn hoặc điều chỉnh hướngdẫn này cho phù hợp.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu VP.

KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC

Kiêm Chủ tịch Hội đồng khoa học ngành GD&ĐT




Trịnh Đào Thiên

………………………….
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

PHIẾU ĐÁNH GIÁ,XẾP LOẠI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1. Tên đề tài cải tiến, sáng kiến kinh nghiệm:

2. Người viết cải tiến, sáng kiến kinh nghiệm:

- Họ và tên:

- Chức vụ: …………………………………….. Đơn vị

- Nhiệm vụ chính đang đảm nhận:

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ:

3. Người đánh giá:

- Họ và tên: ………………………………………………….. học vị

- Chức vụ và đơn vị công tác:

- Nhiệm vụ được phân công trong HĐKH:

NỘIDUNG ĐÁNH GIÁ

Nội dung đánh giá

Nhận xét

điểm

Tính mới trong khoa học sư phạm (sáng tạo)

Tính chính xác của các kết quả quan sát hoặc thí nghiệm

Tính hiệu quả

Tính phổ biến (Phạm vi ứng dụng)

Tng s đim

Xếp loại chung:…………………………………………………………….

.....ngày ….. tháng.... năm 200….
Người đánh giá