BỘ TÀI CHÍNH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------

Số: 12568/BTC-CĐKT
V/v: Giải thích nội dung Thông tư số 200/2014/TT-BTC

Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2015

Kính gửi:

- Công ty TNHH Deloitte Việt Nam
- Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam
- Công ty TNHH KPMG Việt Nam
- Công ty TNHH PwC Việt Nam

Trả lời công văn không số ngày26/6/2015 của các công ty kiểm toán Deloitte, E&Y, KPMG, PwC đề nghị giảithích rõ một số nội dung quy định tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính (sau đây gọi tt làThông tư 200) về hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, BộTài chính có ý kiến như sau:

1. Các doanh nghiệp có hoạt động bánhàng và mua hàng chủ yếu bằng ngoại tệ và thỏa mãn điều kiện sử dụng đồng ngoạitệ làm đồng tiền ghi sổ kế toán thì vẫn có thể được lựa chọn VNĐ làm đồng tiềnghi sổ kế toán mà không bắt buộc phi lựa chọn đồng ngoạitệ.

2. Doanh nghiệp được áp dụng tỷ giágiao dịch thực tế tại ngày 1/1/2015 để chuyển đổi lợi nhuận sau thuế chưa phânphối tại ngày 1/1/2015 trong phần thuyết minh BCTC do năm 2015 là năm đầu tiênáp dụng Thông tư 200 và không có yêu cầu hồi tố vấn đề này.

Việc chuyển đổi Báo cáo tài chính đượclập bằng đồng ngoại tệ sang VNĐ được thực hiện tương tự như quy định tại VAS 10và Thông tư 161/2007/TT-BTC khi chuyển đổi BCTC của công ty con ở nước ngoài.Không thể viện dẫn lí do phần mềm kế toán không đáp ứng được yêu cầu này thìgây khó khăn vì phần mềm chỉ được coi là công cụ hỗ trợ và khi chính sách kếtoán thay đi thì công cụ hỗ trợ phải thay đổi theo để thựchiện đúng chính sách. Lưu ý rng quy định nêu trên củaThông tư 200 là hoàn toàn phù hợp với IAS 21 nên các doanhnghiệp cần phải chuyển đổi BCTC theo thông lệ quốc tế.

3. Về việc ghi nhận doanh thu, giá vốncủa các giao dịch mua, bán, điều chuyển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nội bộ

Ngoài Khoản 2 Điều 8Thông tư 200 thì vấn đề này còn được quy định tại Điểm e Khoản3.2 Điều 20 như sau: “e) Khi bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụcho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp, tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động và phân cấp của từng đơn vị, doanh nghiệp có th ghi nhận doanh thu tại thi điểm chuyển giao hànghóa dịch vụ cho các đơn vị hạch toán phụ thuộc hoặc tại thờiđiểm khi đơn vị hạch toán phụ thuộc bán hàng hóa, cung cp dịch vụ ra bên ngoài”.

Như vậy, căn cứ các quy định nêutrên, việc ghi nhận doanh thu, giá vốn đối với các giao dịch mua, bán hàng giữacác đơn vị không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc trong nội bộ mộtdoanh nghiệp là do doanh nghiệp quyết định mà không phụ thuộc vào hình thức chứngtừ xuất ra là hóa đơn hay phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ. Quy định tại Điều 8 Thông tư 200 mang tính khuyến cáo, không mang tính bắtbuộc.

4. Về thuyết minh giá trị hợp lý vàsuy giảm giá trị

- Về giá trị hplý của các khoản đầu tư tài chính

Căn cứ quy định tại Điểmc Khoản 1 Điều 15 và Điểm a Khoản 1.2 Điều 45 Thông tư 200 thì khi xác địnhgiá trị hợp lý của chứng khoán kinh doanh để trình bày trên thuyết minh BCTC,doanh nghiệp có thể căn cứ vào giá trị thị trường của các loại chứng khoán màdoanh nghiệp đang nắm giữ.

Đối với các khoản đầu tư góp vốn vàođơn vị chưa niêm yết, giá trị hợp lý của các khoản đầu tư này được xác định dựatrên các kỹ thuật định giá. Trường hợp nếu giá trị hợp lý của các khoản đầu tưgóp vốn vào đơn vị khác không xác định được một cách đáng tin cậy thì doanhnghiệp giải trình lý do tại mục 2c phần VI về thông tin bổ sung cho khoản mục đầutư tài chính trên thuyết minh BCTC.

- Về suy giảm giá trị của Bất động sảnđầu tư

Tại Khoản 1.6 Điều 39Thông tư 200 về bất động sản đầu tư (BĐSĐT) quy định “1.6. Doanh nghiệpkhông trích khấu hao đối với BĐSĐT nắm giữ chờ tăng giá. Trường hợp có bằng chứngchắc chắn cho thấy BĐSĐT bị giảm giá so với giá trị thị trường và khoản giảmgiá được xác định một cách đáng tin cậy thì doanh nghiệp được đánh giá giảmnguyên giá BĐSĐT và ghi nhận khoản tn thất vào giá vốnhàng bán (tương tự như việc lập dự phòng đối với hàng hóa bất động sản)”.

Như vậy, việc đánh giá suy giảm giátrị chỉ phải thực hiện khi có dấu hiệu và bằng chứng chắc chắn. Nếu việc suy giảm giá trị của BĐSĐT không xác định được giá trị suy giảmmột cách đáng tin cậy thì doanh nghiệp không ghi nhận khoản tổn thất do suy giảmgiá trị của BĐSĐT nhưng cần thuyết minh và giải trình khác tại mục 12 phầnVI về thông tin bổ sung cho khoản mục đầu tư tài chính trên thuyết minh BCTC.

5. Về hạch toán khoản chi phí hoànnguyên môi trường

Thông tư 200 chỉ quy định việc tríchtrước chi phí hoàn nguyên môi trường và sử dụng tài khoản 3524 để kế toán. Mứctrích, thời điểm bt đu và kết thúc việc trích... phải thực hiện theo cơ chế chính sách áp dụng chotừng ngành nghề, từng đơn vị. Ví dụ việc trích trước chi phí thu dọn mỏ của Tậpđoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc trích trước chi phí hoàn nguyên môi trưng của Tập đoàn Than và Khoáng sản phải thực hiện theo quy định cụ thểcủa pháp luật áp dụng cho từng ngành.

6. Khi tính EPS thì số trích quỹ khenthưởng, phúc lợi được tính của năm nào?

Theo Thông tư 200, khi tính EPS phảiđiều chỉnh đối với số đã hoặc sẽ trích quỹ khen thưởng, phúc lợi. Số trích quỹ khen thưởng, phúc lợi kỳ trước không được dùng để xác địnhEPS kỳ này. Khoản chênh lệch (nếu có) giữa s dự kiếntrích của kỳ trước và số trích theo thực tế (có thể tại kỳ sau) được điều chỉnhvào EPS kỳ trước (báo cáo lại) và thuyết minh trên BCTC.

7. Các vấn đề về tỷ giá hối đoái

a) Về quy định áp dụng tỷ giá hốiđoái cho các giao dịch liên quan đến ngoại tệ: Theo quy định tại Điều69 Thông tư 200, doanh nghiệp phải sử dụng các loại tỷ giá hối đoái khácnhau liên quan đến các giao dịch bằng ngoại tệ. Nếu quy địnhchỉ áp dụng 1 loại tỷ giá hối đoái cho các loại giao dịch khác nhau sẽ khôngđúng với bản chất tài chính và nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh và doanhnghiệp sẽ gặp phải những vướng mắc sau:

- Theo quy định tại Thông tư số 103/2005/TT-BTC một trong những tiêu chuẩn của phần mềm kế toán là phải có khảnăng nâng cấp, có thể sửa đổi, bổ sung phù hợp với những thay đổi nhất định củachế độ kế toán và chính sách tài chính mà không ảnh hưởng đến cơ sở dữ liệu đãcó. Thực tế cho thấy, đây không phải là vướng mắc của tấtcả các doanh nghiệp (kể cả là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nưc ngoài) khi thực hiện quy định về tỷ giá hối đoái tại Thông tư 200 màchỉ có một s doanh nghiệp có phần mềm kế toán chưa đáp ứngđưc tiêu chuẩn theo quy định.

- Việc đề nghị được áp dụng chỉ 1 tỷ giá hối đoáicho tất cả các loại giao dịch trong ngày sẽ gặp phải những vướngmc sau đây:

+ Việc áp dụng 1 loại tỷ giá duy nhấtcủa 1 ngân hàng thương mại hoặc 1 t chức ban hành đáng tin cậy để kế toán không phản ánh đúng thực tế giao dịch vì doanh nghiệp giao dịch ngân hàngnày mà áp dụng tỷ giá công bố của ngân hàng khác (mà mình không giao dịch) làkhông phù hp.

+ Nếu áp dụng tỷ giá bình quân liênngân hàng như quy định trước đây (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ) thì chỉ có tỷgiá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ dẫn đến quy định tỷ giá áp dụng cho các đng tin khác sẽ bị vướng mc do phải quy đổi chéo nên giảm mức độ hợp lý của số liệu.

+ Nếu chỉ áp dụng theo tỷ giá mua hoặctỷ giá bán của ngân hàng thương mại cho các giao dịch khác nhau sẽ là không phùhợp với thực tế. Ví dụ, đối với một giao dịch mua chịu hàng hóa, dịch vụ, doanhnghiệp phải ghi nhận một khoản nợ phải trả tương ứng vớicác khoản mục liên quan, khi trả nợ cho nhà cung cấp, doanh nghiệp phải mua ngoạitệ của ngân hàng theo tỷ giá bán do đó giao dịch này sẽ đượcghi nhận theo tỷ giá bán ngoại tệ của ngân hàng. Ngược lại, doanh nghiệp thu tiềnbán hàng bằng ngoại tệ, doanh nghiệp phải ghi nhận một khoản tiền tương ứng vớikhoản doanh thu bán hàng, theo quy định về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp phảibán lại ngoại tệ cho ngân hàng để thu về bằng VNĐ theo tỷ giá mua.

+ Trong điều kiện tình hình tỷ giá biếnđộng phức tạp như hiện nay, việc áp dụng 1 tỷ giá mua hoặc tỷ giá bán hoặc tỷgiá bình quân mua và bán không đảm bảo phản ánh đúng tình hình tài chính vàchênh lệch tỷ giá hối đoái của doanh nghiệp, đặc biệt lànhững doanh nghiệp mà có giao dịch phát sinh bằng ngoại tệ lớn.

b) Về việc đánh giá lại các khoản mụctiền tệ có gốc ngoại tệ và việc sử dụng tỷ giá hối đoái của công ty con có côngty mẹ nước ngoài

- Việc đánh giá lại các khoản mục tiềntệ có gốc ngoại tệ để ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái tại thời điểm lậpBCTC thì việc kết chuyển lãi/lỗ về chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lạicũng sẽ thực hiện tại thi điểm lập BCTC, không phải chỉlà cuối năm tài chính (Do sơ suất Thông tư số 200 bị sai lỗi chính tả).

- Việc công ty con được sử dụng tỷgiá do công ty mẹ quy định để đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệchỉ áp dụng đối vi công ty con có công ty mẹ tại ViệtNam. Đối với công ty con có công ty mẹ ở nước ngoài thì chỉ áp dụng quy địnhnày cho BCTC dùng để hợp nhất, không áp dụng đối vi BCTCcông bố tại Việt Nam.

8. Các vấn đề về trái phiếu chuyển đổi

Thông tư 200 hướng dẫn 02 phương pháp ghi nhận vàphân bổ chi phí phát hành trái phiếu nên:

+ Đối với trường hp chi phí phát hành trái phiếu được phân bổ theophương pháp đường thẳng thì việc xác định giá trị hiện tại của dòng tin trong tương lai phải loại trừ chi phí phát hành trái phiếu (nên là du trừ).

+ Đối với trường hợp chi phí pháthành trái phiếu được phân b theophương pháp lãi suất thực thì việc xác định giá trị hiện tại của dòng tin trong tương lai bao gồm cả chi phí phát hành (sẽ là dấu cộng).

Tuy nhiên, do suất nên Thông tư 200 chưa nói rõ sự khác biệt của 2 tìnhhuống này. Đ nghị các công ty kiểm toán phối hp hướng dn rõ cho doanh nghiệp nhận biết sự khácbiệt của 2 trường hp.

- Do trái phiếu phát hành luôn đượcxác định thành 02 cấu phần là cấu phần n gốc và quyền chọn.Nợ gốc luôn là giá trị hiện tại của khoản thanh toán trong tương lai (đã đượcchiết khấu dòng tiền) nên không còn khái niệm chiết khấuhoặc phụ trội nữa. Chiết khấu hoặc phụ trội chỉ áp dụng đối với trái phiếu thường.

- Do trái phiếu là công cụ tài chínhđược giao dịch trên thị trường và thường là các giao dịch đa phương nên thườngchỉ phát sinh đối với các đơn vị có lợi ích công chúng. Vì vậy, việc hạch toánđối với chi phí phát hành trái phiếu cần tuân thủ ngay chuẩn mực kế toán quốc tế.

Đối với các khoản vay theo khế ướcvay là song phương, nếu áp dụng phương pháp hạch toán tương tự chi phí pháthành trái phiếu sẽ chưa th phù hợpngay với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Mặt khác, chi phí của khoản vaysong phương thường nhỏ hơn chi phí phát hành trái phiếu. Do đó, đ đơn giản nên chế độ kế toán hiện nay mi chỉ yêucầu hạch toán chi phí phát hành trái phiếu theo chuẩn mực kế toán, quốc tế.Trong tương lai có thể sẽ nhất thể hóa phương pháp kế toánchi phí liên quan trực tiếp đến khoản vay (chi phí thu xếpkhoản vay ngoài lãi vay) của cả 2 hình thức vay nêu trên.

9. Các vấn đề về chi phí phải trả vàdự phòng phải trả

- Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số37 mà Thông tư 200 đã tiếp cận thì khoản dự phòng phải trả là khoản phải trảkhi:

+ Người mua chưa đưc nhận dịch vụ cung cấp (công việc chưa được thực hiện);

+ Giá trị phải trả được xác định mộtcách đáng tin cậy nhưng chưa hoàn toàn chắc chắn;

+ Thi gianthanh toán nợ phải trả chưa xác định đưc một cách chắc chắn.

Vì vậy, trên tinh thn tiếp cận với IAS 37, Thông tư 200 đã quy địnhviệc trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ theo yêu cu kỹ thuật của TSCĐ là nghĩa vụ hiện tại để đảm bảo tài sản có thể hoạt động được bình thường theotiêu chuẩn thiết kế là khoản dự phòngphải trả do đáp ứng cả 3 yêu cu của Chuẩn mực quc tế. Đồng thời cũng không mâu thuẫn vi VAS 18 vì VAS 18 chưa đ cập vn đ này.

- Việc trích Quỹ phát triển khoa họccông nghệ đưc thực hiện (mặc dù doanh nghiệp có thể lựachọn) theo quy định của pháp luật (tức là có nghĩa vụ pháp lý) và đã đưc thực hiện từ năm 2009 theo quy định của Thông tư 244 nên quy định củaThông tư 200 là mang tính kế thừa (không phải là quy định mi) nên không trái với các Chuẩn mực kế toán Việt Nam.

10. Hướng dẫn lập BCLCTT

Theo quy định TK 242 bao gồm cả khoảntrả trước một lần tiền thuê đất không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ vô hình.Xét về bản chất, dòng tiền trả trước một lần tiền thuê đấthay dòng tiền phát sinh từ việc mua quyền sử dụng đất có thời hạn đều là dòngtiền hoạt động đầu tư. Tuy nhiên nếu việc trả trước được thực hiện nhiều lầnthì được phân loại là luồng tiền hoạt động kinh doanh. Do đó, chỉ tiêu “tăng,giảm chi phí trả trước” không bao gồm chênh lệch giữa số dư cuối kỳ với số dư đầukỳ của tiền thuê đất trả trước một lần không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ vô hình (Thông tư 200 bị lỗi chính tả thiếu chữ “không”).

11. Hướng dẫn lập BCKQKD

- Thông tư 200 có lỗi chính tả là thừachữ “BĐSĐT”. Chỉ có chênh lệch thu - chi về thanh lý, nhượngbán TSCĐ mi được trình bày là theo số thuần trên ở chỉtiêu thu nhập khác còn doanh thu về BĐSĐT được trình bày ở chỉ tiêu doanh thu,không trình bày ở chỉ tiêu thu nhập khác.

12. Về chi phí trả trước

Đối với khoản mục chi phí trả trướcthì việc phân loại ngắn hạn và dài hạn căn cứ vào kỳ hạn gốc của từng khoản chiphí trả trước mà không căn cứ vào kỳ hạn còn lại để phân loại ngắn hạn, dài hạn.(Không tái phân loại chi phí trả trước dài hạn thành ngắn hạn).

13. Về thuyếtminh BCTC

Việc thuyết minh BCTC cũng có thể ápdụng khái niệm trọng yếu để quyết định thuyết minh. Do câu hỏi của quý công tychưa rõ nên Bộ Tài chính chưa thể ý kiến. Cần lưu ý rằng khi áp dụngkhái niệm trọng yếu thì phải thuyết minh trong phần “Những thông tin khác” tạimục IX.7 của TMBCTC.

14. Về ghi nhận doanh thu

Về nguyên tắc, doanh thu phải ghi nhậntương ứng vi nghĩa vụ đã phát sinh. Vì vậy doanh nghiệpkhông được ghi nhận doanh thu của hàng tặng, khuyến mại khi chưa giao hàng dochưa đảm bảo điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng và theo đó DN không được ghinhận một khoản trích trước giá vn hàng bán đi với hàng tặng, khuyến mại.

15. Về trích trước khoản giảm trừdoanh thu

- Theo nguyên tắc thận trọng chỉ cóthể trích trước chi phí mà không thể trích trưc khoản giảm trừ doanh thu vì nếu đã xác định được s doanh thu bị giảm trừ thì phải ghi nhận doanh thu theo số thuần ngay.

- Trường hợp kỳ trước bán hàng, kỳsau mi phát sinh khoản giảm trừ doanh thu thì áp dụng chuẩnmực kế toán về các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán (Điều 81 Thông tư 200). Nếu khoản giảm trừ doanh thu thỏa mãn sựkiện sau ngày kết thúc kỳ kế toán thì được coi là sự kiện cần điều chỉnh và đượcđiều chỉnh vào doanh thu kỳ bán hàng. Ngược lại, khoản giảm trừ doanh thu đượcđiều chỉnh vào kỳ mà việc chiết khấu, giảm giá phát sinh.

16. Về TK 413

- Đối với giao dịch mua sắm tài sảnhoặc thanh toán các khoản chi phí được thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không quaTK phải trả) áp dụng theo tỷ giá mua (vì DN không phải chi tiền VNĐ đ mua ngoại tệ mà sử dụng ngoại tệ ở quỹ hoặc ngoại tệ là TGNH để thanhtoán). Quy định này nhằm đảm bảo tài sản không ghi nhận cao hơn giá trị có thểthu hồi.

- Đối với giao dịch mua sắm tài sảnhoặc các khoản chi phí phát sinh nhưng chưa trả tiền thì về doanh nghiệp ghi nhậnkhoản n phải trả theo tỷ giá bán của ngân hàng để đảm bảonguyên tắc nợ phải trả không ghi nhận thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán.

17. Về Bất động sản đầu tư

Thông tư 200 không yêu cầu hồi tố nêngiá trị khấu hao lũy kế của BĐSĐT nm giữ ch tăng giá trước đây vẫn được trình bày trong chỉ tiêu “Hao mòn lũy kế”và thuyết minh thành một dòng riêng trên TM BCTC (vì sẽ phù hợpvới quy định tại đoạn 25 VAS 05 và Khoản 1.8 Điều 39 là việcchuyển đổi mục đích sử dụng BĐSĐT không làm thay đổi nguyên giá củaBĐSĐT trong việc xác định giá trị hay để lập BCTC).

18. Thông tư 200 quy định doanh nghiệpphải ghi nhận tổn thất do suy giảm giá trị của BĐSĐT để phù hp với thông lệ quốc tế và khi BĐSĐT tăng tr lạithì doanh nghiệp được hoàn nhập tối đa bằng số đã ghi giảm trước đây.

19. Về tuân thủ Chế độ kế toán ViệtNam

Theo Thông tư 200 thì không bắt buộcsổ kế toán của DN phải có cột tài khoản đối ứng vì Thông tư cho phép doanh nghiệpđược tự quyết định biu mẫu sổ kếtoán miễn là doanh nghiệp phải phản ánh trung thực và hplý tình hình tài chính của doanh nghiệp.

20. Về thông tinso sánh trên BCTC

- Tại Điểm d Khoản 4.2Điều 69 thì khoản lãi/lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái của giai đoạn trước hoạtđộng của các doanh nghiệp (theo Thông tư 179) chưa phân bổ hết trên TK 3387/242đến trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thì phải kết chuyển toàn bộ số cònlại chưa phân b vào TK 515/635 ngay trong năm 2015 trừtrường hợp pháp luật có quy định khác.

- Việc kế toán trái phiếu chuyển đổitheo quy định của Thông tư 200 được thực hiện từ năm 2015 trở đi, đối với tráiphiếu chuyn đổi đã phát hành từ những năm trưc không bắt buộc phải hồi tố để tính toán lại số dư.

21. Về vốn hóachi phí lãi vay

- Theo quy định tại điểmg Khoản 1 Điều 54 Thông tư 200 quy định “Việc xác định chi phí lãi vay đượcvốn hóa phải tuân thủ Chuẩn mực kế toán “Chi phí đi vay”. Việc vốn hóa lãi vaytrong một số trường hợp cụ thể như sau: Đối với khoản vay riêng phục vụ việcxây dựng TSCĐ, BĐSĐT, lãi vay đưc vốn hóa kể cả khi thờigian xây dựng dưi 12 tháng”.

Thông lệ quốc tế không quy định cụ thểvề thi gian đối với việc xây dựng tài sản dở dang là trênhay dưới 12 tháng nên để đảm bảo phản ánh đúng bản chất và phù hp với thông lệ quốc tế là TSCĐ, BĐSĐT thường không phải là các tài sảnsản xuất hàng loạt như hàng tồn kho. Vì vậy Thông tư 200quy định vốn hóa kể cả khi thi gian xây dựng của tài sảndưới 12 tháng.

Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán doanh nghiệpđều do Bộ Tài chính ban hành, vì vậytheo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản do cùng một cơ quanban hành quy định về cùng 1 vn đ thì văn bản ban hành sau sẽthay thế văn bản đã ban hành trước đó.

Trên đây là ý kiến trả lời của Bộ Tàichính, đề nghị Quý Công ty nghiên cứu thực hiện./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Bộ (để báo cáo);
- Vụ Pháp chế;
- Lưu: VT, Vụ CĐKT (8)

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN




Đặng Thái Hùng