BỘ TÀI CHÍNH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 14060/BTC-CST
V/v thuế nhập khẩu hạt nhựa EPS và PS

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2011

Kinh gửi:

- Bộ Công thương;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
- Hiệp hội nhựa Việt Nam.

BộTài chính nhận được công văn số 01/CV ngày 5/9/2011 của Công ty TNHHPolystyrene Việt Nam đề nghị tăng thuế nhập khẩu hạt nhựa EPS và PS. Về vấn đềnày, Bộ Tài chính có ý kiến trao đổi với Quý Cơ quan như sau:

1.Ý kiến của Công ty Polystyrene Việt Nam

Côngty TNHH Polystyrene Việt Nam là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam sản xuất hạt nhựaEPS, HIPS, GPPS, BPO, tổng vốn đầu tư là 10 triệu USD. Với công suất hiện naynhà máy có thể sản xuất từ 2.500-3.000 tấn/tháng nhưng thực tế chỉ sản xuất từ1.000- 1.200 tấn/tháng, Công ty chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu của thị trườngtiêu dùng Việt Nam do sự cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu. Hiện nay 90%khách hàng Việt Nam nhập khẩu mặt hàng EPS, PS từ Đài Loan về, tại Đài Loan cácnhà máy có công suất rất lớn, ra đời từ cách đây hơn 20 năm, tất cả nguyên liệuđều mua trong nước do đó chi phí sản xuất rất rẻ, dẫn đến giá thành phẩm rấtcạnh tranh trong khi đó nhà máy tại Việt Nam của Công ty toàn bộ phải nhập khẩunguyên vật liệu từ nước ngoài về nên chi phí sản xuất rất cao. Chất lượng sảnphẩm của công ty so với hàng nhập hoàn toàn giống nhau vì thực tế toàn bộnguyên liệu và dây chuyền sản xuất đều được nhập khẩu từ các nhà máy nối tiếngở các nước trên thế giới. Hơn nữa, nhà máy của chúng tôi ra đời sau nên có ưuthế hơn so với các nhà máy khác về dây chuyền máy móc rất tối ưu nên rất có ưuthế về mặt chất lượng sản phẩm.

Hiệntại, sản phẩm hạt nhựa EPS của công ty đã được xuất khẩu sang các nước TháiLan, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ kỳ, Paskitan và có uy tín trong tất cả cácnhà máy sản xuất hạt nhựa EPS, PS trên thế giới. Theo số liệu thống kê hiện naynhu cầu dùng hạt EPS trong cả nước lên đến 3.000 tấn/tháng, nhập khẩu chủ yếutừ Đài Loan (năm 2010 khoảng 21 nghìn tấn, 6 tháng đầu năm 2011 khoảng 13,3nghìn tấn).

Theobiểu nhập khẩu năm 2006, thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng EPS là 5% đến năm 2007giảm xuống còn 3%, năm 2010 xuống 2%. Năm 2011, Công ty có công văn đề nghịtăng thuế nhập khẩu mặt hàng này lên 5% và đã được Bộ Tài chính xem xét điều chỉnhthuê nhập khẩu EPS lên 3%. Mặc dù vậy nhưng nhà máy vẫn luôn gặp rất nhiều khókhăn do mức thuế thấp không đủ sức bảo hộ cho sản xuất trong nước, các doanhnghiệp vẫn nhập khẩu từ Đài Loan và Trung quốc.

Khiquyết định đầu tư sản xuất nguyên liệu công nghiệp nhựa tại Việt Nam chúng tôitin tưởng vào chính sách thuế nhất quán của Chính phủ Việt Nam và lúc bấy giờthuế nhập khẩu của hạt nhựa EPS và PS là 5%. Hiện nay, phần lớn các nước có nhàmáy sản xuất hạt nhựa EPS, PS đều có thuế nhập khẩu từ 5% đến 15% (Thái Lan5%, Trung Quốc 6.5% Malaysia 5%, Phi lipine 15%, Turkey 6,5%, Pakistan 15%).Chúng tôi vẫn luôn tin tưởng, hy vọng vào sự hỗ trợ chính sách thuế của Chínhphủ Việt Nam tuy gặp rất nhiều khó khăn nhưng chúng tôi vẫn mạnh dạn đầu tưtiếp tục xây dựng dây chuyền sản xuất hạt nhựa PS và đầu tư mở rộng công suấtcủa dây chuyền sản xuất hạt EPS.

Hiệnnay, Công ty đã hoàn thành đầu tư sản xuất ở giai đoạn I (sản xuất hạt nhựaEPS) với vốn đầu tư 4 triệu USD và đang tiếp tục đầu tư xây dựng giai đoạnII với vốn đầu tư 15 triệu USD cho dây chuyền có công suất 4.000 - 5.000tấn/tháng. Toàn bộ thiết bị dây chuyền đã nhập khẩu về tháng 8/2011. Dây chuyềnsản xuất hạt nhựa PS giai đoạn II sẽ chính thức đi vào hoạt động trong tháng11/2011. Khi dây chuyền II đi vào hoạt động sẽ đáp ứng được khoảng 100% nhu cầutrong nước.

Côngty đề nghị xem xét và điều chỉnh hợp lý về thuế nhập khẩu của mặt hàng EPS, PSlên 5% để hạn chế nhập khẩu mặt hàng này và bảo hộ sản xuất trong nước. Việctăng thuế nhập khẩu mặt hàng EPS, PS sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm, mạnh dạn đầutư lâu dài và phát triển những dự án tiếp theo.

2.Ý kiến của Bộ Tài chính

a) Tình hình sản xuất hạt nhựa EPS, giá bán, giá nhập khẩu hạt nhựa hiệnnay ở trong nước

Côngty TNHH Polystyrene Việt Nam là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam sản xuất hạt nhựaEPS, HIPS, GPPS, BPO. Công ty bắt đầu đi vào sản xuất từ 10/2007. Nhu cầu dùnghạt EPS của cả nước khoảng 3.000 tấn/tháng. Công ty có khả năng sản xuất đến3.000 tấn/tháng nhưng do sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu nên công ty chỉ sảnxuất 1.200 tấn/tháng đáp ứng khoảng 50% nhu cầu trong nước.

Theophản ánh của Công ty thì giá bán hạt nhập khẩu luôn cao hơn giá bán trong nướckhoảng 15 USD/tấn nhưng sản phẩm trong nước vẫn không cạnh tranh được với hàngnhập khẩu. Lý do không phải do chất lượng kém hơn mà do thị hiếu của người tiêudùng trong nước, ưa dùng hàng nhập khẩu; trong nước hiện nay có 1-2 khách hàngcó nhu cầu sử dụng hạt EPS với khối lượng lớn từ 500 tấn - 1.000 tấn/tháng vàđược phía Đài Loan bán với giá rất ưu đãi (sau khi cộng cả thuế nhập khẩu vàcác chi phí khác thì giá mua hàng nhập khẩu vẫn thấp hơn giá mua trong nướckhoảng 20 USD/tấn cộng với chính sách cho trả chậm).

b)Chính sách thuế đối với hạt nhựa EPS qua các thời kỳ và hiện hành

Trướcnăm 2006, chính sách thuế đối với mặt hàng nhựa EBS được duy trì ở mức 5%. Sangđến năm 2007, do nhu cầu trong nước sử dụng hạt nhựa EPS tăng mà trong nướcchưa có doanh nghiệp nào sản xuất nên Bộ Tài chính đã điều chỉnh giảm thuế củamặt hàng này xuống 3% (theo Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC ) Mức thuế 3% đượcgiữ ổn định cho đến tháng 4/2010, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 63/2010/TT-BTC giảm thuế từ 3% xuống 2% để xử lý kiến nghị của Công ty điện tửDaewoo Hanel. Đến 1/1/2011, mức thuế suất này được điều chỉnh lên 3% theo Thôngtư số 184/2010/TT-BTC để xử lý kiến nghị của công ty Polystyrene Việt Nam.

c) Đề xuất của Bộ Tài chính

-Đối với hạt nhựa EPS: Hạt nhựa EPS là hạt Polystyren nguyên sinh co giãn tổnghợp, chống nước, không bị ăn mòn bởi kiềm hay axit, là nguồn nguyên liệu để sảnxuất tấm đóng trần nhà để cách nhiệt, nón bảo hiểm, các xốp chèn trong đồ điệntử: ti vi, tủ lạnh, máy vi tính,... thùng đựng trái cây, đựng hải sản còn hạtnhựa GPPS, HIPS là loại không giãn nở, dùng để sản xuất các đồ gia dụng bằngnhựa và vỏ các sản phẩm điện tử, điện lạnh. Mặt hàng nhựa EPS đang được phânloại vào phân nhóm 3903.11.00.10"dạng hạt với thuế suất 3% và3903.11.00.90 "dạng khác" với thuế suất 5%. Hạt PS phân loạivào phân nhóm 3903.19.00.10 "dạng hạt" thuế suất 2% và3903.19.00.90 "dạng khác" với thuế suất 5%.

TheoCông ty cho biết từ khi sản xuất (10/2007) đến 2008, Công ty bị lỗ. Đến năm2009 và 2010 công ty bắt đầu có lãi (2009: 200 ngàn USD, 9 tháng 2010 là 300ngàn USD). 8 tháng đầu năm 2011, Công ty dự kiến cho lãi của công ty khoảng6 tỷ, chiếm khoảng 7% tổng vốn đầu tư/năm mặc dù có lãi nhưng tỷ lệ rất nhỏ vớimức lãi này thì khoảng 10 năm công ty mới thu hồi được vốn nên không được coilà đầu tư hiệu quả vì cũng mặt hàng này, công ty đầu tư ở Paskintan, lợi nhuậnmang lại là 20% tổng vốn đầu tư/năm và khoảng 5 năm là thu hồi vốn. Khung thuếsuất theo cam kết WTO tới năm 2012 và cam kết cuối cùng đối với mặt hàng hạtnhựa EPS thuộc phân nhóm 3903.11.00.10 "dạng hạt" là 6.5%; Khung thuếsuất theo quy định tại Nghị quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 28/9/2007 của Uỷban Thường vụ Quốc hội đối với mặt hàng hạt nhựa EPS là từ 0 - 13%.

Từnội dung nêu trên, Bộ Tài chính dự kiến điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩumặt hàng EPS thuộc phân nhóm 3903.11.00.10 "dạng hạt" từ 3%tăng lên 5%. Việc điều chỉnh trở lại mức 5% đối với mặt hàng EPS cũng phù hợpvới tinh thần của Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ vì đây là mặt hàng trongnước đã sản xuất được và có khả năng đáp ứng 100% nhu cầu trong nước.

Mặtkhác, Bộ Tài chính được Công ty cho biết, nhựa EPS dạng nguyên sinh chỉ có ởdạng hạt (được làm từ nguyên liệu là chất styrene monomer và pentane dạnglỏng), không có dạng khác vì vậy, mặc dù Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi quy địnhdòng thuế dạng khác với thuế suất 5% nhưng trên thực tế không có sản phẩm nhậpkhẩu. Vì vậy, việc điều chỉnh trở lại mức thuế của dòng thuế EPS dạng hạt vớimức 5% mới có ý nghĩa bảo hộ được sản xuất trong nước.

-Đối với mặt hàng PS: Mặt hàng PS dạng nguyên sinh tương tự như mặt hàng EPScũng chỉ có dạng hạt, không có dạng khác đều là Polystyren chỉ khác nhau ở tínhnăng sử dụng (loại giãn nở và loại không giãn nở) nên theo phản ánh của doanhnghiệp trên thực tế mặc dù thuế suất của EPS là 3% nhưng doanh nghiệp vẫn khaibáo vào mức thuế suất 2% (dòng thuế của mặt hàng PS). Trước đây, Bộ Tài chínhđã điều chỉnh giám thuế suất của mặt hàng PS từ 3% xuống 2% vì trong nước chưacó dự án sản xuất nhưng đến nay, Công ty Polystyren đã đầu tư dây chuyền sảnxuất và dự kiến tháng 11/2011 sẽ đi vào sản xuất với công suất 4.000 tấn/tháng(công suất thực tế của dây chuyền đạt 6.000 tấn/tháng) đáp ứng 100% nhu cầutrong nước đối với mặt hàng này (nhu cầu trong nước hiện nay của mặt hàng nàykhoảng 4.000 tấn/tháng). Giá nhập khẩu mặt hàng PS hiện nay cũng vào khoảng1.500 - 1.700 USD, giá bán PS của Công ty để cạnh tranh được cũng sẽ phải thấphơn giá nhập khẩu từ 10 - 15 USD/tấn.

Khungthuế suất theo cam kết WTO tới năm 2012 và cam kết cuối cùng đối với mặt hànghạt nhựa PS thuộc phân nhóm 3903.19.00.10 "dạng hạt" là 6.5% khungthuế suất theo quy định tại Nghị quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 28/9/2007của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đối với mặt hàng hạt nhựa EPS là từ 0 - 13%.

Vìvậy, để chính sách bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước đạt được mục tiêuđề ra, hạn chế phát sinh gian lận trong phân loại giữa hai mặt hàng này, Bộ Tàichính dự kiến điều chỉnh thuế suất của mặt hàng PS từ 2% lên 5% tương tự nhưmặt hàng EPS. Việc điều chỉnh thuế suất của 2 mặt hàng này nên thực hiện từ1/1/2012 cùng với thời điểm thực hiện biểu thuế mới 2012, thời điểm đó, Công tycũng đã sản xuất được mặt hàng PS. Công ty cho biết hiện nay công ty đang nhậpkhẩu sản phẩm PS do công ty sản xuất tai Pakistan để bán cho các khách hàngtrong nước nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm (khoảng 54 tấn/tháng).

Đểcó cơ sở giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp, đề nghị Quý cơ quan có ý kiếnvề việc điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa EPS và PS nhưnội dung nêu trên. ý kiến tham gia xin gửi về Bộ Tài chính trước ngày01/11/2011.

Trântrọng sự phối hợp công tác của Quý cơ quan./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Vũ Thị Mai