BỘ CÔNG THƯƠNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 1625/BCT-NL
V/v tình hình thiếu nước ở hạ du sông Vu Gia liên quan đến Dự án thủy điện Đăk Mi 4

Hà Nội, ngày 09 tháng 02 năm 2010

Kínhgửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướngHoàng Trung Hải (công văn số 3668/VPCP-KTN ngày 03 tháng 5 năm 2009 của Vănphòng Chính phủ) yêu cầu Bộ Công Thương kiểm tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủvề tình hình thiếu nước ở hạ lưu sông Vu Gia liên quan đến Dự án thủy điện ĐăkMi 4. Về vấn đề này, Bộ Công Thương xin báo cáo cụ thể như sau:

1. Về Dự án thủy điện ĐắkMi 4trong hệ thống các bậc thang thủy điện trên sông Vu Gia – Thu Bồn.

Hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn cólưu vực chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Nam, một phần thượng nguồn thuộc tỉnh Kon Tum,vùng hạ du và cửa sông thuộc thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An. Sông Vu Giagồm các nhánh chính là sông Đăk Mi; sông Giằng, sông Boung và sông Côn. Quyhoạch bậc thang sông Vu Gia – Thu Bồn được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ CôngThương) phê duyệt tại Quyết định số 875/QĐ-KHĐT ngày 02 tháng 5 năm 2003 gồm 8công trình thủy điện: A Vương, Sông Boung 2, sông Boung 4, Sông Giằng, Đăk Mi1, Đăk Mi 4, Sông Côn 2, nằm trên sông Vu Gia; dự án thủy điện Sông Tranh 2 nằmtrên sông Thu Bồn; tại Quyết định số 528/QĐ-NKDL của Bộ Công nghiệp đã phêduyệt hiệu chỉnh bổ sung thuỷ điện Sông Boung 5 và loại khỏi quy hoạch thủy điệnSông Giằng; Quyết định số 0427/QĐ-BCT của Bộ Công Thương phê duyệt hiệu chỉnhQuy hoạch bậc thang thủy điện sông Đăk Mi đã bổ sung 2 dự án Đăk Mi 2 và Đăk Mi3. Như vậy, sau khi phê duyệt hiệu chỉnh, sơ đồ khai thác các bậc thang thủyđiện trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn có 10 dự án, trong đó Dự án thủy điệnĐăk Mi 4 có sơ đồ khai thác thủy năng trên sông Đăk Mi và chuyển nước sang sôngThu Bồn.

Dự án thủy điện Đăk Mi 4 được Thủtướng Chính phủ cho phép Tổng công ty Đầu tư phát triển Đô thị và Khu côngnghiệp Việt Nam (IDICO) thực hiện đầu tư (văn bản số 1553/TTg-CP ngày 11 tháng10 năm 2005), theo đó Dự án được IDICO tiến hành triển khai các bước đầu tư xâydựng, đơn vị Tư vấn thiết kế lập dự án là Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Điện2 thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự ánđã được Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) phê duyệt tại Quyết định số 2643/QĐ-TNMT ngày 08 tháng 12 năm 2005; Dự án khởi công xây dựng từ tháng 4 năm2007 và tiến độ dự kiến sẽ phát điện tổ máy vào quý II năm 2011.

2. Về các đề nghị của UBND thànhphố Đà Nẵng và quá trình giải quyết của Bộ Công Thương.

Ngày 11 tháng 8 năm 2008, UBNDthành phố Đà Nẵng có văn bản số 4795/UBND-KTN gửi Bộ Công Thương đề nghị chỉđạo IDICO bổ sung thiết kế cống điều tiết qua đập thủy điện Đak Mi 4 khắc phụctình hình thiếu nước ở hạ du sông Vu Gia. Trong đó, UBND thành phố Đà Nẵng đãđưa ra các số liệu tính toán cân bằng nước của khu vực hạ lưu sông Vu Gia nhưsau: tổng nhu cầu của khu vực hạ Vu Gia hiện tại (2008) Q = 38,85 m3/svà vào năm 2020 là Q = 65,60 m3/s. Theo đó (ở tần suất thiết kế P =90%) hiện tại có 6/9 tháng mùa khô nhu cầu dùng nước hạ lưu sông Vu Gia bịthiếu từ 0.59 – 7,86m3/s; vào năm 2020 có 9/9 tháng mùa khô có dòngchảy trung bình nhỏ hơn yêu cầu có 7/9 tháng thiếu nước 4.29 – 33,0m3/s,và cho rằng nguyên nhân chính gây nên tình hình trên là do việc xây dựng thủyđiện Đak Mi 4 thiết kế chuyển toàn bộ dòng chảy cơ bản trong mùa khô sông ĐakMi sang sông Thu Bồn để phát điện.

Để có đủ cơ sở xem xét các đề nghịcủa UBND thành phố Đà Nẵng, ngày 18 tháng 8 năm 2008, Bộ Công Thương có văn bảnsố 7232/BCT-NL yêu cầu IDICO phối hợp với Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện2 (cơ quan Tư vấn lập dự án) nghiên cứu nội dung những vấn đề nêu trong côngvăn số 4795/UBND-KTN của UBND thành phố Đà Nẵng, có báo cáo và đề xuất giảipháp xử lý trình Bộ Công Thương.

Ngày 27 tháng 10 năm 2008, Bộ CôngThương đã có công văn số 10237/BCT-NL kèm các tài liệu Báo cáo phân tích đánhgiá cấp nước hạ du do IDICO lập cho các phương án trước và sau khi xây dựng cácbậc thang thủy điện đã phê duyệt theo quy hoạch trên hệ thống sông Vu Gia – ThuBồn, đề nghị UBND Thành phố Đà Nẵng xem xét, có ý kiến về nội dung báo cáo vàgiải pháp xử lý do IDICO đề xuất: bố trí một cống xả sâu có van điều tiết trongthân đập để xả lưu lượng khoảng 2m3/s về hạ lưu đập, cống điều tiếtcó d = 0,7m, ngưỡng đặt tại cao trình 231m (MNC = 240m) với năng lực xả quacống là 3 – 5m3/s.

Tuy nhiên, sau khi xem xét tài liệucân bằng nước của IDICO, ngày 26 tháng 11 năm 2008, UBND thành phố Đà Nẵng đãcó công văn số 7532/UBND-KTN nêu các ý kiến về cân bằng nước gửi Bộ CôngThương, trong đó đã đưa ra tổng nhu cầu của khu vực hiện tại là Q = 84,19m3/svà vào năm 2020 là Q = 110,94 m3/s; đề nghị Bộ Công Thương “Chỉ đạoIDICO bổ sung cống điều tiết qua thân đập Đak Mi xả với lưu lượng lớn nhất 100m3/s để đáp ứng nhu cầu nước hạ lưu”.

Xem xét Báo cáo của IDICO và đềnghị của UBND thành phố Đà Nẵng, Bộ Công Thương thấy rằng các kết quả đánh giácân bằng nước rất khác nhau. Vì vậy, Bộ Công Thương đã yêu cầu IDICO (tại vănbản số 12020/BCT-NL ngày 18/12/2009) phối hợp với đơn vị Tư vấn lập dự án trựctiếp làm việc với các đơn vị chuyên môn thuộc UBND thành phố Đà Nẵng và tỉnhQuảng Nam để làm sáng tỏ về nội dung và kết quả phân tích đánh giá cân bằngnước cũng như đề xuất các giải pháp xử lý, báo cáo kết quả với Bộ Công Thương.Tuy nhiên, đến ngày 04 tháng 5 năm 2009, IDICO mới có văn bản số 435/TCT-KHKTbáo cáo đến Bộ Công Thương về kết quả làm việc giữa IDICO với UBND thành phố ĐàNẵng và UBND tỉnh Quảng Nam, theo đó, các bên vẫn không thống nhất được kết quảtính toán cân bằng nước cũng như giải pháp xử lý.

Ngày 11 tháng 6 năm 2009, Bộ CôngThương đã tổ chức phiên họp bàn giải pháp để giải quyết vấn đề trên với thànhphần tham dự gồm: Lãnh đạo UBND thành phố Đà Nẵng, đại diện UBND tỉnh QuảngNam, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT),Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Viện Quy hoạch Thủy lợi – BộNN&PTNT và các đơn vị tư vấn liên quan lập Quy hoạch bậc thang hệ thốngsông Vu gia Thu Bồn, IDICO. Sau phiên họp, Bộ đã ra Thông báo số 223/TB-BCTngày 23 tháng 6 năm 2009 về việc tình trạng thiếu nước hạ lưu sông Vu Gia liênquan đến Dự án thủy điện Đăk Mi 4.

Ngày 07 tháng 7 năm 2009, Bộ CôngThương thành lập Tổ chuyên gia thẩm định vấn đề xả nước sau đập thủy điện ĐăkMi 4 (Quyết định số 3425/QĐ-BCT ) gồm 9 thành viên thuộc các Bộ, ngành và địaphương liên quan: Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; BộTài nguyên và Môi trường; UBND thành phố Đà Nẵng; UBND tỉnh Quảng Nam; Công tyCổ phần Tư vấn xây dựng Điện 1. Viện Quy hoạch Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn được giao rà soát và cập nhật tính toán cân bằng nước hiệntrạng và giai đoạn năm 2020 để làm cơ sở xem xét việc xả nước từ hồ chứa Đăk Mi4.

Tổ thẩm định đã thực hiện chức năngvà nhiệm vụ tiến hành kiểm tra, thẩm định các kết quả tính toán lưu lượng nướccần xả qua đập chính về hạ lưu sông Đăk Mi do Chủ đầu tư đề xuất, trình lãnhđạo Bộ Công Thương ngày 02 tháng 02 năm 2010 (báo cáo quá trình và kết quảthẩm định của Tổ được gửi kèm theo văn bản này).

3. Kết quả kiểm tra, rà soát củaBộ Công Thương

a) Kết quả tính toán cân bằng nướcnăm 2002.

Báo cáo cân bằng nước và đánh giáhiệu ích hạ du các công trình thủy điện trên sông Vu Gia – Thu Bồn đã được ViệnQuy hoạch Thủy lợi – Bộ NN&PTNT lập tháng 8/2002, trong đó đã tính toán cânbằng nước cho hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, kết quả như sau:

- Khi chưa xây dựng các công trìnhthủy điện, vùng hạ lưu của hệ thống sông này đều bị thiếu nước trong mùa khô,trong đó hạ lưu sông Thu Bồn tại Giao thủy thiếu từ 10-21,5 m3/s/lượngnước yêu cầu là 65,3m3/s, hạ lưu sông Vu Gia tại Ái Nghĩa thiếu từ2,9-11 m3/s/lượng nước yêu cầu là 53,7m3/s;

- Khi xây dựng các dự án A Vương,Đak Mi 4, Sông Côn 2 thì lượng nước thiếu hạ lưu sông Vu Gia từ 0,5-7,8m3/svới tần suất đảm bảo 75%, còn hạ lưu sông Thu Bồn không thiếu nước;

- Khi xây dựng các dự án A Vương,Đăk Mi 4, Sông Côn 2 và Sông Boung 4 thì ở hạ lưu hệ thống sông Vu Gia – ThuBồn đều không thiếu nước với tần suất đảm bảo 90%.

b) Kết quả rà soát và cập nhật tínhtoán cân bằng nước năm 2009.

- Giai đoạn hiện trạng:

+ Trường hợp 1: Khi không có cácthủy điện trên hệ thống sông Vu Gia, cân bằng tần suất 85% hạ lưu Vu Gia lượngnước thiếu trong 4 tháng, cụ thể như sau (đơn vị: m3/s):

Tháng

3

4

5

6

7

8

85%

+2.4

-12.2

-3.6

-4.9

-8.5

+2.6

+ Trường hợp 2: Có các thủy điện AVương, Sông Côn 2, cân bằng mức tần suất 85% hạ lưu Vu Gia như sau:

Tháng

3

4

5

6

7

8

85%

+12.3

-0.1

+8.0

+5.6

+3.5

+11.3

Qua kết quả cân bằng nước giai đoạnhiện trạng khi không có hồ thủy điện lượng nước thiếu lớn nhất vào tháng 4 là -12,2 m3/s, trong trường hợp có hồ thủy điện A Vương, Sông Côn 2 chothấy tác dụng đã làm dòng chảy hạ lưu tăng lên đáng kể và các tháng không thiếunước.

+ Trường hợp 3: Có các thủy điện AVương, Sông Côn 2 và Đăk Mi 4. Cân bằng mức tần suất 85% hạ lưu Vu Gia thiếunước trong 4 tháng, cụ thể như sau (đơn vị: m3/s):

Tháng

3

4

5

6

7

8

85%

+1.5

-8.5

-4.2

-3.5

-5.3

+0.7

- Giai đoạn 2020:

+ Trường hợp 4: Có các hồ thủy điệnA Vương, Sông Côn 2, Sông Boung 2,4 và thủy điện Đăk Mi 4. Kết quả cân bằng nhưsau (đơn vị: m3/s):

Tháng

3

4

5

6

7

8

85%

-4.9

-10.1

-7.3

-8.2

-6.2

-7.1

Trong giai đoạn này mặc dầu đã cósự tham gia của thủy điện sông Boung 2, 4 nhưng kết quả lượng nước vẫn thiếutháng lớn nhất là -10,1 m3/s. Lý do đến 2020 nhu cầu sử dụng nước ởkhu vực hạ lưu Vu Gia tăng gấp ~ 1,6 lần so với hiện trạng.

4. Ý kiến của Bộ Công Thương

Kết quả nghiên cứu của Viện Quyhoạch Thủy lợi đã phản ánh tương đối rõ nét bức tranh về nhu cầu nước cũng nhưsự thay đổi dòng chảy hạ du trước và sau khi xây dựng các công trình thủy điệnvà theo thời gian. Đa số các thành viên trong tổ đều chấp nhận các kết quả cậpnhật và rà soát của Viện Quy hoạch Thủy lợi. Nhìn chung, vùng hạ du sông Vu Giacó nhu cầu dùng nước cao (đặc biệt là thành phố Đà Nẵng) trong khi nguồn nướcmặt hạn chế. Khi các dự án thủy điện theo quy hoạch được duyệt được xây dựngxong, vấn đề thiếu nước của hạ lưu sông Vu Gia như hiện tại được cải thiện hơn,lượng nước thiếu tháng nhiều nhất khi chưa có các hồ thủy điện là 12,5 m3/sgiảm xuống 8,5m3/s khi có hồ A Vương, sông Côn 2; đến năm 2020 lượngnước thiếu (tháng IV) nhiều nhất dự báo là 10,5 m3/s do nhu cầu dùngnước tăng nhanh gấp 1,6 lần so với hiện tại; sự xuất hiện các hồ chứa nước trênthượng nguồn cũng sẽ góp phần điều tiết dòng chảy trung bình hạ du và sẽ gópphần cải thiện khí hậu khu vực trong mùa khô, đảm bảo chủ động trữ nước để điềutiết cho dạ du.

Có thể đánh giá rằng, khi chưa hoànthành hệ thống các hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia thì hạ du thiếu nước. Tuynhiên, lượng nước thiếu không nhiều, nên nếu tính yêu cầu nước cho môi trườngtheo tiêu chí 0,1Qo như Bộ TNMT đã phê duyệt cho một số nhà máy thủy điện đãxây dựng thì lượng nước đưa vào cân bằng là tạm đủ.

Về đề nghị của UBND thành phố ĐàNẵng yêu cầu IDICO bổ sung thiết kế cống điều tiết xả nước trở lại sông Vu Giavới lưu lượng lớn nhất là Q = 100 m3/s (văn bản số 7352/UBND-KTNngày 26/11/2008) và Q = 87 m3/s (văn bản số 3177/UBND-KTN ngày25/5/2009); của các thành viên Tổ thẩm định đại diện cho tỉnh Quảng Nam là 42 m3/svà thành phố Đà Nẵng là 47 m3/s, là không hợp lý và quá lớn, lớn hơncả lưu lượng trung bình mùa kiệt nhiều năm tại tuyến Đăk Mi 4 theo kết quả tínhtoán trong hồ sơ thiết kế dự án do Công ty Tư vấn xây dựng Điện 2 thuộc EVN lập(khoảng 37m3/s), khi đó thiệt hại về điện là rất lớn và Dự án khôngcòn khả thi. Theo tính toán của Tư vấn và Chủ đầu tư nếu xả thêm 1 m3/ssẽ giảm điện năng khoảng 10,7 triệu kWh tương ứng 7 tỷ đồng 1 năm (ứng với giáđiện 700 VNĐ/kWh), như vậy thiệt hại rất lớn về kinh tế.

Nhằm hài hòa quyền lợi hợp pháp củaNhà đầu tư và lợi ích tổng hợp phát triển kinh tế xã hội của địa phương, lợiích chung của nền kinh tế, liên quan đến dự án thủy điện Đăk Mi 4, Bộ CôngThương kiến nghị:

(i) Chấp nhận với phương án Chủ đầutư Dự án thủy điện Đắk Mi 4 đề xuất thiết kế công xả tại đập Đăk Mi với khảnăng xả tối thiểu 8m3/s tại mực nước chết hồ chứa là 240 m (vàotháng 9 hàng năm). Với thiết kế nêu trên, khả năng xả qua cống trong các tháng3 ÷ 8 tương ứng là 12,8 ÷ 8m3/s. Khi đó, hoàn toàn có thể xả đáp ứngnhu cầu dùng nước của hạ du như kết quả tính toán cân bằng nước.

(ii) Về lưu lượng xả nước về hạ lưuđập:

- Trong khi các dự án thủy điệnsông Boung 2,4 chưa đi vào vận hành, đối với những năm hạn có tần suất 85%, khicó yêu cầu xả cho hạ du, lưu lượng xả lớn nhất về hạ lưu đập khoảng 8,5 m3/s;

- Sau khi các dự án thủy điện SôngBoung 2,4 đi vào vận hành, lưu lượng xả về hạ lưu đập sẽ được tính toán và quyđịnh cụ thể trong quy trình vận hành liên hồ, đảm bảo phân phối nguồn nước hợplý để phát điện và bổ sung nước về hạ lưu ở các tháng mùa khô, trong trường hợphạ lưu gặp năm đặc biệt khô hạn, có thể huy động từ biện pháp xả qua cống và mởcửa tràn khi có yêu cầu của hạ du;

- Trong trường hợp nhà đầu tư bịthiệt hại lớn về kinh tế khi đáp ứng yêu cầu xả nước cho hạ du, đề nghị nhànước hỗ trợ kinh phí cho chủ đầu tư thủy điện Đăk Mi 4;

- Về lưu lượng xả tối thiểu thườngxuyên: theo các yêu cầu về môi trường, do Bộ TNMT quy định khi phê duyệt báocáo đánh giá tác động môi trường.

(iii) Đề nghị Chính phủ giao BộTNMT khi lập quy trình vận hành liên hồ xem xét giải quyết bài toán phối hợp xảnước mùa kiệt giữa các hồ trên lưu vực để sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, cân bằnggiữa xả nước cho hạ du và tối ưu phát điện trong mùa kiệt.

(iv) Các giải pháp dài hạn:

- Đề nghị UBND thành phố Đà Nẵngchỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đa mục tiêu sông Nam và sông Bắc đểgiảm áp lực thiếu nước cho thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu khả năng xây dựng bổsung các hồ chứa nước mới trên lưu vực để bổ sung nước cho hạ du sông Vu Gia;

- Có giải pháp công trình để ngănnguy cơ cắt dòng sông Vu Gia về sông Thu Bồn tại Đại Lộc;

- Với nhu cầu sử dụng nước ngàycàng tăng rất mạnh; nguồn nước ngọt ngày càng cạn kiệt do biến đổi khí hậu toàncầu, những địa phương sử dụng nguồn nước sông Vu Gia cần nghiên cứu Quy hoạchtổng hợp phát triển kinh tế xã hội phù hợp với khả năng nguồn nước, khai thácvà sử dụng tiết kiệm và hài hòa lợi ích kinh tế và xã hội trong khu vực lưu vựcsông cũng như lợi ích Quốc gia.

Trên đây là kết quả kiểm tra, xemxét tình hình thiếu nước ở hạ lưu sông Vu Gia liên quan đến Dự án thủy điện ĐăkMi 4, Bộ Công Thương xin báo cáo với Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng;
- Các Bộ: NN&PTNT, TN&MT;
- UBND thành phố Đà Nẵng;
- UBND tỉnh Quảng Nam;
- Cục Quản lý Tài nguyên nước;
- IDICO;
- Lưu: VT, NL.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Đỗ Hữu Hào