BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1635 TCT/HTQT
V/v trả lời kiến nghị về miễn giảm thuế cước theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2003

Kínhgửi: Hiệp hội đại lý và môi giới Việt Nam

Tổng cục Thuế nhận được ý kiến của Hiệp hội đại lý và môi giới tàu Việt Nam tại cuộc gặp của Thủ tướng Chính phủvới các doanh nghiệp vào ngày 23-24/3/2003 tạo thành phố Hồ Chí Minh về việc ápdụng miễn giảm thuế thu nhập từ vận tải quốc tế theo Hiệp định tránh đánh thuếhai lần giữa Việt Nam và các nước (Hiệp định thuế). Vấn đề này, Tổng cục Thuếcó ý kiến như sau:

1. Đối tượng, phạm vi áp dụng Hiệpđịnh thuế đối với thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế.

Điều 8. Hiệp định thuế đã quy định rõphạm vi áp dụng việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp là lợi tức do một doanhnghiệp thu được từ hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế.

Điểm 3.3. phần II Thông tư số 95/1997/TT /BTC ngày 29/12/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Hiệp địnhthuế quy định việc miễn thuế theo Điều 8 Hiệp định thuế được áp dụng cho doanhnghiệp “doanh nghiệp vận tải quốc tế là ... bên hoạt động của các phương tiệnvận tải hay ...là bên thuê phương tiện vận tải định hạn để thực hiện việc vậnchuyển hàng hoá, hành khách”.

Như vậy, một công ty kinh doanh vậntải biển quốc tế có thể có nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau như vận chuyểnhàng hoá trực tiếp bằng tàu biển, dịch vụ giao nhận, xuất vận đơn, cho thuêthuỷ thủ đoàn nhưng doanh thu áp dụng miễn thuế theo Điều 8. Hiệp định thuế chỉáp dụng cho hoạt động vận tải quốc tế trực tiếp bằng tàu biển (là tàu thuộc sởhữu của một công ty hoặc do công ty đi thuê). Điều này được giải thích cụ thểhơn là thu nhập của một hãng tàu từ các dịch vụ liên quan đến vận tải biển nhưgiao nhận, xếp dỡ, gom nhận hàng hoá vận chuyển, xuất vận đơn... dù do cùng mộtngười làm công trên đất liền của hãng tàu thực hiện nhưng nếu là phục vụcho hoạt động vận chuyển trực tiếp của hãng tàu khác thì các hoạt động nàykhông thuộc phạm vi áp dụng miễn thuế đối với lợi tức từ hoạt động vận tảibiển quốc tế theo Điều 8 Hiệp định thuế (tức là phải nộp thuế bình thường).

Ví dụ: đại lý tàu biển M ký hợp đồngđại lý với hãng tàu biển S của Singapore. Đại lý M có nhiệm vụ thay mặt hãngtàu S xuất vận đơn cho người gửi hàng và xếp hàng lên các tàu vận tải A, B và Clà của hãng tàu N mà hãng tàu S đã mua chỗ. Như vậy, toàn bộ doanh thu mà đạilý M thu được từ hoạt động vận tải trên tàu A và B thuộc phạm vi áp dụng Điều 8theo Hiệp định Singapore và doanh thu mà Đại lý M thu được từ hoạt động vận tảitrên tàu C vẫn phải kê khai nộp thuế theo quy định thông thường.

Các quy định, hướng dẫn nêu trên là phùhợp với thông lệ quốc tế được thể hiện thông qua đàm phán Hiệp định thuế và cácdiễn đàn quốc tế hàng năm trao đổi về kinh nghiệm quản lý thuế và thực hiện Hiệpđịnh.

Do đó, việc xét đối tượng miễn giảmthuế cước theo Điều 8 Hiệp định thuế không căn cứ vào đối tượng phát hành vậnđơn vì các đối tượng không trực tiếp vận hành tàu biển (ví dụ: Công ty giaonhận) cũng có thể phát hành vận đơn cho người gửi hàng mà căn cứ vào đối tượngđiều hành hoạt động vận chuyển trực tiếp bằng tàu thuỷ. Thông tư số 16/1999/TT-BTC ngày 4/2/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thu thuế cướccũng đã yêu cầu đại lý tàu biển phải kê khai thuê cước theo tên tàu vận chuyển(Mẫu tờ khai cước tại phụ lục 2).

Hướng dẫn Mẫu biểu kê khai doanh thumiễn giảm thuế cước nêu tại công văn số 4870/TCT-HTQT ngày 25/12/2002 của Tổngcục Thuế được căn cứ trên các quy định hiện hành, cụ thể là các đại lý tàu biểnđã kê khai thuế cước theo Mẫu tờ khai thuế cước nói trên có thể dựa vàocột (1). Tên tàu-để chọn ra các tàu thuộc quyền điều hành của hãng tàu làm căncứ xác định doanh thu áp dụng miễn giảm thuế theo Hiệp định thuế và gửi kèmchứng từ điều hành hoạt động tàu (ví dụ: giấy đăng ký tàu, hợp đồng thuê tàu)-là những chứng từ mà hãng tàu phải có theo yêu cầu của cơ quan hải lý hàng hải.

2. Về hoạt động cho thuê, hoán đổichỗ trong vận tải biển.

Hoạt động vận tải biển ngày nay pháttriển rất đa dạng, chính điều này cũng tạo cơ hội cho việc tránh thuế và lạmdụng các quy định về miễn giảm thuế. Vì vậy, trên cơ sở khuyến nghị của các tổchức quốc tế về hợp tác kinh tế và hàng hải (như OECI. Hiệp hội hàng hải quốctế...), cơ quan thuế các nước giữ quan điểm chỉ dành ưu đãi thuế cho hoạt độngvận tải trực tiếp bằng tàu biển (do chính hãng tàu sở hữu hoặc đi thuê) màkhông mở rộng cho hoạt động dịch vụ vận tải nói chung.

Đối với các hình thức vận tải mới nhưkết hợp nhóm, hoán, đổi chỗ, cho thuê chỗ trong vận chuyển đường biển quốc tếcủa các hãng tàu biển, để ngăn ngừa khả năng lạm dụng để trốn và tránh thuế (vídụ: kinh doanh vận tải biển quốc tế nhưng không có tàu mà chỉ thuê/ mua chỗ),các hãng tàu biển chỉ được tính doanh thu từ ở các hoạt động này vào doanh thuáp dung miễn giảm thuế theo Điều 8. Hiệp định thuế khi các hoạt động hoán đổi,cho thuê chỗ là hoạt động hỗ trợ cho việc vận chuyển bằng tàu của mình.

Ví dụ: hãng tàu biển H của Đức thôngqua đại lý VNL xuất vận đơn vận chuyển hàng của khách hàng A từ Hà Nội điParis. Chặng 1 từ Hà Nội đi Singapore, hàng được vận chuyển bằng tàu N của hãngtàu Trung Quốc và chặng 2 từ Singapore đi Le Havre hàng được vận chuyển bằngtàu P của Hà Lan. Như vậy, toàn bộ doanh thu mà hãng tàu H thu từ khách hàng Asẽ không được tính vào doanh thu miễn giảm thuế cước tại Việt Nam theo Điều 8Hiệp định thuế. Nên hãng tàu H trực tiếp vận chuyển 1 trong 2 chặng bằng tàucủa chính hãng (tức là mua/thuê chỗ của 1 trong 2 chặng) thì sẽ được miễn giảmthuế cước đối với phần doanh thu mà hãng thực nhận.

Trên cơ sở các quy định hiện hành vềthuế thu nhập doanh nghiệp và đảm bảo quyền lợi cho các hãng tàu biển khi hoạtđộng tại Việt Nam, các hãng tàu cũng được tính doanh thu từ việc hoán đổi, bánchỗ vào diện xét miễn giảm thuế cước theo Điều 8 của Hiệp định thuế và đượchạch toán theo hướng dẫn của công văn số 4870/TCT /HTQT ngày 25/12/2002 củaTổng cục Thuế để xác định đúng đối tượng thực hưởng miễn giảm thuế cước. Việchạch toán như vậy khắc phục được tình trạng một con tầu phát sinh nhiều đốitượng xin miễn giảm thuế cước theo các Hiệp định khác nhau dẫn đến trùng lắp vàngăn ngừa tình trạng lợi dụng quan hệ liên kết kinh doanh để trốn thuế.

Ví dụ: Tàu Vạn Xuân là tàu quốc tịchViệt Nam do Công ty Liên doanh G tại Việt Nam điều hành chạy tuyến Hà Nội -Singapore. Hãng tàu S của Singapore mua chỗ trên tàu Vạn Xuân để chở hàng từ HàNội đến Singapore sẽ không được hưởng miễn giảm thuế cước mà phải nộp đủ thuếtheo quy định hiện hành (doanh thu tính thuế không bao gồm chi phí đã trả choviệc mua chỗ).

3. Yêu cầu về hồ sơ áp dụng Điều 8của Hiệp định thuế

Căn cứ Điều 36, Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuếthu nhập doanh nghiệp, các doanh nghiệp có nghĩa vụ hạch toán riêng các khoảnthu nhập được hưởng miễn giảm thuế. Tuy nhiên, trong lĩnh vực thuế thuế cước,các đại lý tàu biển đã không tuân thủ quy định này. Vì vậy, công văn số4870/TCT /HTQT ngày 25/12/2002 nhằm tháo gỡ các vướng mắc của đại lý tàu biểntrong việc xác định đúng số thuế cước được miễn giảm theo Hiệp định thuế, theođó “hợp đồng vận chuyển” trong mục II.1.f của công văn này giải thích cho mục a(ii) điểm 2, công văn số 713/TC /TCT có nghĩa là hợp đồng vận chuyển hàng hoáđược ký kết giữa người gửi hàng và người trực tiếp vận hành tàu chở hàng.Trường hợp giữa hãng tàu hoặc đại lý tàu biển và khách hàng (người gửi hàng) cóhợp đồng vận chuyển hàng hoá nhưng trong hợp đồng không ghi rõ đối tượng thựctế điều hành hoạt động của tàu thì hãng tàu cần bổ sung trích dẫn các chứng từcó liên quan để chứng minh việc điều hành tàu (ví dụ:fixture note).

Hiện nay, số thuế cước nợ đọng củacác hãng tàu biển nước ngoài còn rất lớn (có hãng nợ hàng chục tỷ VND). Vì vậy,Tổng cục Thuế đề nghị Hiệp hội, với tư cách là cầu nối giữa doanh nghiệp và cơquan thuế, tích cực tuyên truyền hướng dẫn các đại lý tàu biển hợp tác với cơquan thuế, căn cứ vào các quy định hiện hành xác định đúng số thuế miễn giảmtheo Hiệp định thuế để sớm giải quyết được tình trạng nợ đọng thuế trong giaiđoạn 1999-2001. Trường hợp các hãng tàu biển nước ngoài có kiến nghị về việcViệt Nam áp dụng không đúng Hiệp định thuế, đề nghị Hiệp hội đại lý và môi giớitàu Việt Nam chuyển các kiến nghị này cho Tổng cục Thuế để thực hiện cơ chếtrao đổi thông tin và thủ tục thoả thuận song phương giữa cơ quan thuế các nướctheo quy định của Hiệp định.

Vừa qua, đã có trường hợp tàu nướcngoài xin trực tiếp đăng ký nộp thuế cước với cơ quan thuế. Trong thời giantới, cùng với yêu cầu về mở cửa và hội nhập kinh tế, các hãng tàu biển nướcngoài có thể được trực tiếp kinh doanh tại Việt Nam. Vì vậy, sự hợp tác tronggiải quyết nợ đọng thuế cũng tạo uy tín cho các doanh nghiệp đại lý với đối tácnước ngoài ký hợp đồng đại lý lâu dài.

Tổng cục Thuế trả lời để Hiệp hộiđược biết và phối hợp thực hiện./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Thị Cúc