BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1723/TCHQ-KTTT
V/v: Chính sách thuế hàng quà biếu, tặng

Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2001

Kính gửi: BộTài chính (Tổng cục Thuế)

Qua quá trình thực hiện chính sách thuế đối với quàbiếu, tặng của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho cá nhân người Việt Nam và ngượclại theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cơ quan Hải quanthấy có một số vướng mắc. Các nội dung vướng mắc này cũng đã được đưa ra thảoluận, thống nhất tại các cuộc họp liên Bộ, ngành (Bộ Tài chính - Tổng cục Hảiquan, Hải quan Hà Nội - Tổng cục Bưu điện) ngày 19/2/2001. Theo đó, Tổng cụcHải quan có ý kiến chính thức như sau:

1/ Về đối tượng con người được áp dụng chínhsách:

Theo quy định của Thông tư số 172/1998/TT-BTC ngày22/12/1998 thì đối với hàng quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân Việt Nam cho cánhân người nước ngoài và của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho cá nhân người ViệtNam được xét miễn thuế cho mỗi cá nhân với lô hàng có giá trị không quá 100USD. Như vậy:

+ Các khái niệm “cá nhân nước ngoài” và “cá nhânngười nước ngoài” có phải là người có quốc tịch nước ngoài hay không? Theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam về quốc tịch thì người nước ngoài là người không có quốctịch Việt Nam. Nếu như vậy, cơ quan Hải quan không đủ cơ sở xác định quốc tịchcủa người gửi quà biếu từ nước ngoài. Để xác định quốc tịch người gửi quà biếu,Bộ Tài chính cần quy định rõ thủ tục hồ sơ xác định quốc tịch nước ngoài nhưthế nào?

Tổng cục Hải quan đề nghị: trường hợp không có khảnăng xác định quốc tịch người gửi thì nên quy định đối tượng áp dụng là quà củatổ chức, cá nhân từ nước ngoài gửi về cho tổ chức, cá nhân ở Việt Nam.

2/ Về thủ tục xét miễn thuế:

Trên cơ sở bộ hồ sơ xét miễn thuế đã được quy địnhtrong Thông tư số 172/1998/TT-BTC cơ quan Hải quan ra quyết định giải quyết xétmiễn thuế. Bộ hồ sơ cũng như thủ tục ra quyết định giải quyết xét miễn thuếtheo quy định trên không khả thi, gây phiền hà, đặc biệt đối với trường hợp lôhàng có trị giá nhỏ (chẳng hạn: trị giá dưới 50 USD). Bởi, trong bộ hồ sơ quyđịnh thì có loại theo quy định hiện hành về việc cấp giấy phép thì đã bị bãibỏ, còn công văn đề nghị xét miễn thuế và thông báo hay quyết định tặng hàngthì rườm rà, gây phiên hà. Đề nghị Bộ Tài chính xem xét, quy định hồ sơ xétmiễn thuế đơn giản, có tính khả thi và hiệu quả.

3/ Về nguyên tắc xác định trị giá lô hàng để xétmiễn thuế:

Bộ Tài chính chưa có quy định nguyên tắc xác địnhtrị giá hàng quà biếu, tặng để làm cơ sở xét miễn thuế.

4/ Về vấn đề xử lý thuế trong trường hợp lô hàngcó giá trị trên 100 USD:

Căn cứ Điều 15 - Nghị định số 16/1999/NĐ-CP ngày27/3/1999 của Chính phủ thì trường hợp hàng hóa XNK theo đường Bưu điện nếu vượtquá tiêu chuẩn quy định miễn thuế thì phải nộp thuế cho phần vượt. Trong khiđó, Điềm 4 - Mục II - Phần D - Thông tư số 172/1998/TT-BTC lại quy định mọi lôhàng quà biếu, tặng nếu vượt định mức miễn thuế 100 USD thì phải nộp thuế chotoàn bộ lô hàng. Đề nghị Bộ Tài chính có hướng giải quyết cụ thể: sửa đổi Thôngtư số 172/1998/TT-BTC hoặc kiến nghị sửa đổi Nghị định số 16/1999/NĐ-CP để khắcphục mâu thuẫn nêu trên. Theo quan điểm của Tổng cục Hải quan, về nguyên tắcthì nếu lô hàng quà biếu, tặng vượt định mức miễn thuế thì phải nộp thuế chophần vượt. Tuy nhiên, bên cạnh đó có một số trường hợp nếu áp dụng nguyên tắcnày thì không hợp lý hoặc khó thực hiện, chẳng hạn: 01 lô hàng quà biếu, tặnggồm nhiều mặt hàng, thuế suất khác nhau, vậy tính thuế phần vượt theo thuế suấtmặt hàng nào; 01 lô hàng quà biếu, tặng chỉ vượt ít so với định mức miễn thuếmà tính thuế phần vượt thì số thuế phải nộp có thể rất nhỏ, không đáng kể... Đềnghị Bộ Tài chính nghiên cứu, có quy định hợp lý.

5/ Về vấn đề hoàn thuế, lệ phí trong trường hợp cơquan Bưu điện ứng trước nộp thuế, lệ phí mà người nhận phải nộp nhưng sau đó lạikhông phát được đến người nhận, cơ quan Bưu điện làm thủ tục tái xuất.

Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn về vấn đề này, gâyvướng mắc cho hoạt động của cơ quan Bưu điện và Hải quan.

6/ Hệ thống văn bản quy định chính sách thuế chođối tượng này không tập trung, gây khó khăn cho người thực hiện: trong cả văn bảnquy phạm pháp luật thuế XNK, thuế GTGT đều có quy định, thêm nữa lại dẫn chiếuđến văn bản đã ban hành từ rất lâu, nhiều điểm không còn phù hợp (Thông tư số28 TC/TCT ngày 17/7/1992). Đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể trong một vănbản và bao quát đủ các loại thuế áp dụng.

7/ Về việc xét miễn thuế trong trường hợp 1 lô hàngđược tặng cho nhiều người (mỗi cá nhân được miễn thuế trong phạm vi 100 USD vàtổng trị giá lô hàng cũng không vượt quá 1.000 USD): đề nghị Bộ Tài chính xemxét mục đích, tính thực tế của việc biếu, tặng để cân nhắc có nên giữ quy địnhnày hay không? (theo Tổng cục Hải quan việc tặng cho nhiều người ít xảy ra, duytrì quy định này dễ tạo điều kiện gian lận).

8/ Trường hợp hàng quà biếu, tặng do các doanh nghiệpkinh doanh trong lĩnh vực giao nhận vận tải đảm nhận vận chuyển, làm thủ tụcHải quan: Thông tư số 172/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính chưa có quy định cụ thểthủ tục hồ sơ xét miễn thuế trường hợp này.

Từ những tồn tại nêu trên, Tổng cục Hải quan đềnnghị Bộ Tài chính xem xét, sớm ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn tậptrung về chính sách thuế đối với loại hình quà biếu, tặng xuất khẩu, nhập khẩu,tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của cơ quan Hải quan, Bưu điện và đảm bảolợi ích của người dân.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Lê Mạnh Hùng