BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1738/QLCL-CL1
V/v trả lời kiến nghị về kiểm tra, chứng nhận chất lượng, ATTP

Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2015

Kính gửi: Hiệphội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản(NAFIQAD) có ý kiến về các kiến nghị của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sảnViệt Nam (VASEP) liên quan tới lĩnh vực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩmthủy sản xuất khẩu tại văn bản số 86/2015/CV-VASEP ngày 05/6/2015 như sau:

1. Về kiến nghị “bãi bỏ quy định chỉ cấpchứng nhận ATTP (H/C) vào EU đối với lô hàng có nguồn gốc nguyên liệu hải sảnnhập khẩu từ tàu khai thác/cơ sở sơ chế có EU code hoặc được kiểm tra, chứng nhậnbởi Cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu đáp ứng yêu cầu tương đương với EU”:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật An toànthực phẩm, điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm xuất khẩu là phải “phùhợp với quy định về an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu”. Do đó, lô hàngthực phẩm thủy sản xuất khẩu vào EU phải đáp ứng quy định của EU.

- Theo quy định của EU (Điểm a, khoản 2, Điều 12Quy định số (EC) 854/2004 ngày 29/4/2004): “Cơ sở sản xuất sản phẩm có nguồngốc động vật trong danh sách xuất khẩu vào EU (bao gồm cả cơ sở xử lý nguyênliệu cung cấp cho cơ sở này) phải được cơ quan thẩm quyền bảo đảm/chứngnhận phù hợp với các quy định liên quan của Cộng đồng EU hoặc các yêu cầu tươngđương với các quy định của Cộng đồng EU”.

- Trong báo cáo kết quả thanh tra tại Việt Nam (Mục5.2 trong báo cáo số DG(SANCO) 2009-8056-MR FINAL và Mục 5.6.4 trong báo cáo sốDG(SANCO) 2014-7147-MR FINAL), cơ quan thẩm quyền EU đã khuyến cáo cơ quanthẩm quyền Việt Nam (NAFIQAD) về việc yêu cầu nguyên liệu nhập khẩu (để chếbiến xuất khẩu vào EU) phải được chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu vào EU.

- Theo Quyết định số 1999/813/EC ngày 16/11/1999,EU đã công nhận NAFIQAD là cơ quan thẩm quyền của Việt Nam thực hiện việc cấpgiấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho các lô hàng thủy sản xuất khẩu vào EU theomẫu quy định. Mẫu chứng nhận an toàn thực phẩm cho thủy sản xuất khẩu vào EU(theo quy định số 1012/2012 ngày 05/11/2012 của Ủy ban Châu Âu) có nội dung:“đượcđánh bắt, xử lý trên tàu, đưa lên đất liền và xử lý chế biến, cấp đông, rã đôngtrong điều kiện vệ sinh phù hợp với quy định tại Phần VIII, Chương I tới IV củaPhụ lục III của Quy định (EC) 853/2004”;

- Trên thực tế, trong thời gian vừa qua, nhiều nướcnhập khẩu thủy sản của Việt Nam như Malaysia, Đài Loan,... cũng yêu cầu lô hàngthủy sản xuất khẩu vào các nước này để chế biến, xuất khẩu vào EU phải được sảnxuất tại các cơ sở được EU công nhận. Cụ thể:

+ Ngày 02/6/2009, Cơ quan Quản lý Chất lượng và Antoàn thực phẩm Liên bang Malaysia đã có văn bản số (6)dlm.KKM- 163/I /133 thôngbáo các lô hàng thủy sản (bao gồm nguyên liệu và bán thành phẩm) nhập khẩu vàoLiên bang Malaysia làm nguyên liệu chế biến tái xuất vào EU phải đáp ứng cácyêu cầu sau: Các lô hàng thủy sản trên phải được sản xuất tại các cơ sở chếbiến thủy sản Việt Nam có tên trong danh sách được EU công nhận; đồng thời phảiáp dụng mẫu giấy chứng nhận an toàn thực phẩm tương tự như mẫu giấy theo quyđịnh của EU.

+ Ngày 18/5/2015, Văn phòng Kinh tế và Văn hóa ĐàiBắc tại Hà Nội đã có công thư số 15081PG/KT đề nghị NAFIQAD khi kiểm tra, chứngnhận cho các lô hàng thủy sản xuất khẩu vào Đài Loan (để chế biến, xuất khẩuvào EU) phải được sản xuất tại cơ sở trong danh sách được EU công nhận và côngbố trên trang web chính thức của cơ quan thẩm quyền EU.

Do vậy, việc yêu cầu lô hàng thủy sản nhập khẩu (kểcả nhập khẩu từ tàu cá) vào Việt Nam làm nguyên liệu để chế biến xuất khẩu vàoEU phải từ tàu chế biến/cơ sở sơ chế có code EU hoặc được cơ quan thẩm quyềnnước xuất khẩu chứng nhận đáp ứng yêu cầu tương đương với EU là hoàn toàn phùhợp với quy định hiện hành của Việt Nam và EU. Ý kiến của VASEP cho rằng ViệtNam và EU không có quy định về việc này là không chính xác.

2. Về kiến nghị “sửa đổi Thông tư 48/2013/TT-BNNPTNT - cho quy định về tỷ lệ lấy mẫu”, cụ thể:

a. Đề nghị “lấy lô hàng xuất khẩu làm căn cứtính toán thay vì lô sản xuất làm gia tăng chi phí từ 1.2 đến 1.5 lần và “giảmtỉ lệ % lấy mẫu”:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật An toànthực phẩm, điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm xuất khẩu là phải “phùhợp với quy định về an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu”. Hiện tại, có 45trên tổng số hơn 120 nước nhập khẩu có quy định doanh nghiệp muốn xuất khẩu vàonước họ phải được cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm của Việt Nam chứng nhận đủđiều kiện an toàn thực phẩm và lấy mẫu thẩm tra an toàn thực phẩm đối với sảnphẩm dự kiến xuất khẩu vào thị trường tương ứng. Do vậy, việc lấy mẫu thẩm tralà yêu cầu của 45 trên tổng số hơn 120 nước nhập khẩu mà Việt Nam phải tuânthủ. Theo thông lệ quốc tế và quy định của các nước nhập khẩu, việc lấy mẫuthẩm tra nhằm mục đích kiểm chứng quá trình sản xuất có thực sự đảm bảo an toànthực phẩm hay không, do vậy, mẫu thẩm tra được lấy trong quá trình sản xuất chứkhông lấy mẫu từ lô hàng xuất khẩu. Hơn nữa, việc lấy mẫu thẩm tra lô hàng sảnxuất sẽ giúp cấp giấy chứng nhận cho lô hàng xuất khẩu ngay trong ngày doanhnghiệp đăng ký xuất khẩu thay vì phải đợi kết quả kiểm nghiệm mẫu nhiều khi lênđến 5 ngày.

- Theo thông lệ quốc tế, tỉ lệ lấy mẫu thẩm trađược xác định tùy thuộc vào 04 tiêu chí: phân loại điều kiện đảm bảo an toànthực phẩm của cơ sở sản xuất; mức độ rủi ro an toàn thực phẩm của sản phẩm;công suất, quy mô cơ sở sản xuất và tỉ lệ lô hàng thủy sản vi phạm an toàn thựcphẩm của Việt Nam và nước nhập khẩu. Quy định về tỉ lệ lấy mẫu thẩm tra trongThông tư 48 đáp ứng hoàn toàn 04 tiêu chí nói trên và nhẹ hơn quy định hiệnhành của Hoa Kỳ, Canada (Chi tiết tại mục 5, Phụ lục kèm theo). Tại thời điểmhiện nay, tỉ lệ lô hàng thủy sản Việt Nam bị Cơ quan thẩm quyền Việt Nam vànước ngoài cảnh báo chưa có cải thiện so với năm trước, cụ thể: Trong năm 2014Việt Nam có 136 lô hàng thủy sản xuất khẩu bị cơ quan thẩm quyền các nước cảnhbáo vi phạm an toàn thực phẩm, so với 124 lô trong năm 2013; kết quả thẩm tra,kiểm tra chứng nhận lô hàng thủy sản xuất khẩu của các Trung tâm vùng thuộc Cụccũng cho thấy tỷ lệ vi phạm trong năm 2014 là 1.56%, tăng so với năm 2013(1.14%). Do vậy, hiện tại chưa có đủ căn cứ để xem xét giảm tỷ lệ lấy mẫu thẩmtra theo quy định tại Thông tư 48.

- Kết quả kiểm tra thực tế của NAFIQAD từ thời điểmThông tư 48 có hiệu lực (ngày 26/12/2013) tới thời điểm 15/6/2015 cho thấy: Sốmẫu do NAFIQAD kiểm nghiệm theo Thông tư 48 đối với các cơ sở trong danh sáchưu tiên đã giảm 30% so với Thông tư 55 trước đây, không phải là tăng 1.2-1.5lần như ý kiến của VASEP.

b. Đề nghị: “có hướng dẫn/quy định kịp thờivề chứng nhận tương đương VietGAP”:

Sau khi Thông tư 48 có hiệu lực, NAFIQAD đã có vănbản số 231/QLCL-CL1 ngày 18/02/2014 gửi Tổng cục Thủy sản đề nghị hướng dẫn,quy định về các hệ thống chứng nhận thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (như GlobalGAP, BAP, ASC,...) được coi là tương đương với VietGAP. Theo trả lời của Tổngcục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 54/2014/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2014 quy định về công nhận các tiêu chuẩn thực hànhnông nghiệp tốt khác được coi là tương đương với VietGAP để được hưởng chínhsách hỗ trợ trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

c. Đề nghị “phải có cơ chế để thẩm tra và đánhgiá công nhận việc duy trì điều kiện đảm bảo ATTP cơ sở sản xuất của DN, từ đócông nhận hệ thống giám sát của DN; giảm bớt kiểm tra, chỉ tập trung kiểm tra nhữngdoanh nghiệp chưa tốt, những khâu làm chưa tốt để khuyến khích DN phấn đấu đạtđược ở mức độ cao hơn”:

Chế độ kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩmcủa cơ sở cũng như tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra trong Thông tư 48 đã thể hiện theođúng nội dung VASEP đề nghị, cụ thể:

- Tần suất kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thựcphẩm của cơ sở xếp hạng 1 (rất tốt) và hạng 2 (tốt) là 1 lần trong năm; của cơsở xếp hạng 3 là 1 lần trong 6 tháng; của cơ sở xếp hạng 4 là 1 lần trong 3tháng.

- Tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra nêu trên cũng đã theohướng công nhận và khuyến khích các doanh nghiệp làm tốt, thể hiện ở chỗ: Cơ sởxếp hạng đặc biệt chỉ phải lấy mẫu thẩm tra 2-5%, cơ sở hạng 1 lấy mẫu thẩm tra10-15%, cơ sở hạng 2 lấy mẫu thẩm tra 20-25%.

3. Về kiến nghị: “Sửa Thông tư 48/2013 - choquy định/thủ tục về đánh giá xếp hạng nhà máy”, cụ thể:

a. Đề nghị “sửa đổi, điều chỉnh khung lỗi trongbảng đánh giá (checklist) cho phù hợp, theo hướng đảm bảo các cơ sở pháp lý vàcơ sở khoa học”'.

Biểu mẫu đánh giá (checklist) tại Thông tư 48 đượcxây dựng căn cứ theo quy định của Luật An toàn thực phẩm và các quy chuẩn kỹthuật quốc gia (QCVN). Khi xây dựng biểu mẫu đánh giá nêu trên, NAFIQAD cũng đãtham khảo hướng dẫn đánh giá của EU, Canada, Hoa Kỳ và Thái Lan, theo đó, biểumẫu đánh giá phân loại điều kiện bảo đảm ATTP được xây dựng theo 4 mức lỗi (Nhẹ- Mi, Nặng - Ma, Nghiêm trọng - Se, Tới hạn - Cr) và phân thành 4 mức xếp loại(Hạng 1, 2, 3, 4). Do vậy, cách đánh giá xếp loại này hoàn toàn có cơ sởpháp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế, đã tương đồng và nhẹ hơn so với TháiLan. EU,... nên hoàn toàn đáp ứng kiến nghị nêu trên của VASEP.

b. Đề nghị “sửa đổi, điều chỉnh cấu trúc xếphạng cơ sở chế biến theo hướng khuyến khích các DN làm tốt hơn trong hoạt độngkiểm soát ATTP của nhà máy. Quy định về đánh giá xếp loại đảm bảo là để có cáimốc, có tính định hướng và mang tính chất cảnh báo để DN tuân thủ và cải thiện,thúc đẩy DN phấn đấu nâng cao năng lực và hướng tới mục tiêu ngày cànghoàn thiện hơn”:

Cấu trúc xếp hạng cơ sở trong Thông tư 48 bao gồm 4mức: Hạng 1 (rất tốt), hạng 2 (tốt), hạng 3 (đạt), hạng 4 (không đạt). Cấu trúcxếp hạng này đã rõ ràng và có tính định hướng các cơ sở phấn đấu đạt hạng 1,hạng 2.

Trong biểu mẫu kiểm tra, đánh giá của Thông tư 48đã có nội dung về các sai lỗi còn tồn tại của các cơ sở, đồng thời có ghi thờihạn khắc phục. Như vậy, đã bảo đảm mốc và định hướng để doanh nghiệp cải thiện,khắc phục sai lỗi để ngày càng hoàn thiện hơn.

c. Đề nghị “việc phân loại DN chỉ là để tậptrung kiểm soát vào khâu yếu kém. Đề nghị lấy quy định của EU làm chuẩn mực để sửađổi/xây dựng tiêu chí đánh lỗi tương đương và xếp hạng theo 4 mức của EU”:

- Việc phân loại các cơ sở theo quy định tại Thôngtư 48 đã đảm bảo mục tiêu tập trung kiểm soát các cơ sở yếu kém theo đúng kiếnnghị của VASEP, cụ thể: Đối với cơ sở xếp hạng 1 (rất tốt) và hạng 2 (tốt) chỉphải kiểm tra 1 lần trong 1 năm; nhưng các cơ sở xếp hạng 3 được kiểm tra tầnsuất nhiều hơn (1 lần trong 6 tháng, tức là 2 lần trong 1 năm), cơ sở xếp hạng4 sẽ bị kiểm tra trong thời gian tối đa 3 tháng kể từ ngày kiểm tra trước đó.

- Về xếp hạng cơ sở: Việc đánh giá xếp hạng doanhnghiệp thực hiện theo khung lỗi và bảng tiêu chí xếp hạng. Không thể chỉ sosánh bảng tiêu chí xếp hạng để cho rằng quy định đánh giá xếp hạng của Việt Namchặt hơn quy định của EU do số chỉ tiêu đánh giá theo quy định của EU và ViệtNam là khác nhau. Với số chỉ tiêu có mức đánh giá sai lỗi tới hạn (Cr) củaThông tư 48 thấp hơn rất nhiều so với EU (Thông tư 48: 21 chỉ tiêu, EU: 47 chỉtiêu), với cùng 01 cơ sở sản xuất cụ thể, nếu đánh giá theo quy định tại Thôngtư 48 sẽ đạt mức xếp hạng cao hơn so với đánh giá theo quy định của EU.

(chi tiết xem tại Phụ lục kèm theo)

Như vậy, quy định tại Thông tư 48 hiện nay nhẹ hơnso với quy định của EU, hoàn toàn phù hợp với nước có trình độ tương đồng vớiViệt Nam (như Thái Lan).

- Kết quả lấy ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp củaNAFIQAD về biểu mẫu của Thông tư 48 (sau cuộc họp ngày 19/2/2014 với Bộ trưởng)cho thấy: 443 doanh nghiệp chiếm 90.6% trong tổng số 489 doanh nghiệp có ý kiến)cho rằng biểu mẫu Thông tư 48 là hợp lý; chỉ có 46 doanh nghiệp (chiếm9.4%) cho rằng biểu mẫu chưa hoàn toàn hợp lý. Như vậy, đa số các doanh nghiệpủng hộ biểu mẫu hiện nay tại Thông tư 48.

Do vậy, đề nghị VASEP nghiên cứu kỹ quy định củaEU. Trong trường hợp VASEP vẫn tiếp tục có đề nghị điều chỉnh biểu mẫu, NAFIQADsẽ xem xét đề xuất Bộ trưởng cho phép sửa đổi Thông tư 48 để áp dụng đúng biểu mẫucủa EU.

4. Về kiến nghị: “sửa đổi Thông tư 48/2013 -cho quy định về thu phí”, cụ thể:

a. Đề nghị “tuân thủ đúng và đầy đủ theo Điều48 Luật ATTP”:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Luật An toàn thựcphẩm: Tổ chức, cá nhân có yêu cầu lấy mẫu, kiểm nghiệm thực phẩm phải tự chitrả chi phí lấy mẫu, kiểm nghiệm. Việc lấy mẫu, kiểm nghiệm để thẩm tra an toànthực phẩm đối với doanh nghiệp trong danh sách ưu tiên hoặc lấy mẫu kiểm nghiệmlô hàng xuất khẩu đối với doanh nghiệp ngoài danh sách ưu tiên để cấp chứngnhận cho các lô hàng xuất khẩu là yêu cầu của doanh nghiệp xuất khẩu nhằm đápứng yêu cầu của nước nhập khẩu cụ thể. Việc doanh nghiệp chủ động lựa chọn thịtrường xuất khẩu là hoàn toàn tự nguyện dựa trên nhu cầu và lợi ích của từngdoanh nghiệp. Do đó, việc thu phí lấy mẫu kiểm nghiệm thủy sản xuất khẩu theocác chỉ tiêu ATTP mà thị trường nhập khẩu yêu cầu là tuân thủ đúng qui định tạikhoản 3 Điều 48 Luật ATTP nêu trên.

- Hoạt động thu phí này cũng phù hợp với thông lệquốc tế, Cơ quan kiểm tra tất cả các quốc gia trên thế giới đều thu từdoanh nghiệp không những phí kiểm nghiệm mà còn thu phí kiểm tra cơ sở SXKD, phíkiểm tra lấy mẫu lô hàng (tính theo giờ) với mức phí cao hơn nhiều so với mức phí,lệ phí của Việt Nam khi kiểm tra, cấp chứng nhận ATTP cho các lô hàng xuất khẩu.

b. Đề nghị “sửa đổi quy định tại Điều 37, 38của TT48 theo hướng Bộ NNPTNT quy định và phân rõ các hạng mục công việc thuộctrách nhiệm kiểm tra-thẩm tra ATTP của Bộ NNPTNT sẽ do CQTQ của Bộ NNPTNT chitrả”:

Điều 37, 38 của Thông tư 48 đã quy định rõ tráchnhiệm của Cơ sở được cấp Giấy chứng nhận ATTP và chủ hàng hoặc cơ sở sản xuấtlô hàng xuất khẩu, trong đó, có việc nộp phí và lệ phí kiểm tra, thẩm định,chứng nhận theo quy định tại Điều 9 của Thông tư 48.

5. Về kiến nghị: “sửa đổi Thông tư 48/2013 -cho quy định/thủ tục về cấp Giấy chứng nhận ATTP”, cụ thể:

a. Đề nghị “sửa đổi quy định tại Điều 5, TT48theo hướng đơn giản hóa hơn nữa thủ tục cấp GCN ATTP cho DN. Trong đó, bao gồmcả việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ này cho các cơ quan vùng của Cục, đồng thờibố trí nguồn lực cụ thể và công khai trên hệ thống để DN biết và tiện liên hệkhi cần thiết”:

- Thực hiện chủ trương cải cách của Chính phủ tạiNghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015, Quyết định số 08/QĐ-TTg ngày 06/01/2015của Thủ tướng Chính phủ, NAFIQAD đã rà soát lại thủ tục cấp Giấy chứng nhận antoàn thực phẩm và đã đề xuất cắt giảm tối đa về thành phần hồ sơ theo đúng yêucầu và tiến độ nêu tại Kế hoạch đơn giản hóa thủ tục hành chính trọng tâm năm2015 tại Quyết định số 367/QĐ-BNN-PC ngày 29/01/2015 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn. Bên cạnh đó, Cục đã có văn bản số 1583/QLCL-KH ngày 17/6/2015đăng ký với Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việcnâng cấp hệ thống phần mềm để triển khai dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, tiếnđến cấp độ 4 đối với thủ tục hành chính này để tiết kiệm thời gian, chi phí vàtạo điều kiện thuận lợi hơn cho cộng đồng doanh nghiệp.

- Để đảm bảo tính khách quan, chính xác và sử dụnghiệu quả nguồn nhân lực trong hệ thống, Cục đã chủ trì tổ chức hoạt động kiểmtra, cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp. Hiện nay, các Cơquan vùng thuộc Cục đã có đủ nguồn nhân lực được đào tạo, do vậy, Cục sẽ có vănbản ủy quyền cho các cơ quan vùng thực hiện kiểm tra, cấp giấy chứng nhận antoàn thực phẩm.

b. Đề nghị “thực hiện đúng quy định về thờigian xử lý hồ sơ xác nhận kiến thức ATTP theo quy định tại Điều 11, Thông tưliên tịch 13/2014”:

- Ngày 03/10/2014, Cục đã có công văn số 1917/QLCL-CL1 ủy quyền Cơ quan Chất lượng Trung bộ, Nam bộ tổ chức kiểm tra, cấpgiấy xác nhận kiến thức ATTP cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản xuấtkhẩu tại địa bàn quản lý. Tuy nhiên, nhiều cơ sở không tuân thủ đúng thời gianđăng ký theo quy định của Luật An toàn thực phẩm (trước 06 tháng tính đến ngàyGiấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hết hạn), Cục đã phải ban hành văn bảnsố 2200/QLCL-CL1 ngày 30/10/2014 thông báo danh sách khoảng 300 cơ sở đã hoặcgần hết hạn hiệu lực Giấy chứng nhận ATTP, đồng thời yêu cầu các cơ sở đăng kýđể được kiểm tra, thẩm định điều kiện bảo đảm ATTP theo đúng quy định. Để hoànthiện hồ sơ đăng ký kiểm tra, thẩm định và cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điềukiện ATTP nêu trên, hầu hết các cơ sở đã đồng thời gửi hồ sơ đăng ký xác nhậnkiến thức ATTP về Cục/Cơ quan Chất lượng Trung bộ, Nam bộ sau khi Cục có vănbản số 2200/QLCL-CL1 dẫn đến số lượng hồ sơ tăng đột biến, do đó, đã có một sốít trường hợp thời gian kiểm tra, cấp giấy xác nhận kiến thức ATTP bị kéo dài. Kểtừ đầu năm 2015 đến nay, không còn trường hợp nào có thời gian kiểm tra, cấpgiấy xác nhận kiến thức ATTP bị kéo dài.

- Trong thời gian tới, đề nghị VASEP thông báo tớicác doanh nghiệp thành viên về việc tuân thủ đúng quy định về thời gian đăng kýkiểm tra, cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP theo quy định của Luật Antoàn thực phẩm. Đồng thời, Cục cũng sẽ chủ động rà soát, cân đối nguồn lực thựchiện việc kiểm tra, cấp giấy xác nhận kiến thức ATTP để bảo đảm đáp ứng đầy đủ,đúng tiến độ thời gian và bảo đảm chất lượng theo quy định.

6. Về kiến nghị“một số quy định/thủ tục hànhchính khác nữa trong khuôn khổ TT 48/2013/TT-BNNPTNT ” cụ thể:

6.1. Về các quy định đối với cơ sở trong danhsách ưu tiên:

a. Đề nghị “chỉ bãi bỏ việc ưu tiên đối vớithị trường bắt buộc của nước nào bị cảnh báo, hoặc thị trường nào bị cơ quanthẩm quyền cảnh báo thôi, chứ không bỏ ưu tiên với tất cả các thị trường”:

Theo quy định tại Thông tư 48, việc áp dụng chế độkiểm tra chặt khi có lô hàng cảnh báo chỉ áp dụng đối với sản phẩm/nhóm sảnphẩm vi phạm, các sản phẩm khác của doanh nghiệp vẫn được áp dụng chế độ ưutiên (quy định này vẫn nhẹ hơn so với Thái Lan, Indonesia là đình chỉ xuấtkhẩu). Mặt khác, khi sản phẩm/nhóm sản phẩm bị một thị trường cảnh báo, tức làhoạt động kiểm soát an toàn thực phẩm của sản phẩm/nhóm sản phẩm đó đang có vấnđề, do đó việc áp dụng chế độ kiểm tra chặt đối với sản phẩm/nhóm sản phẩm đóxuất khẩu đi tất cả các thị trường trong Thông tư 48 là hoàn toàn phù hợp vớinguyên tắc phòng ngừa trong kiểm soát an toàn thực phẩm.

b. Đề nghị “chỉ nên quy định là bị cảnh báo ởmức giới hạn là bao nhiêu phần trăm thì không được nằm trong danh sách ưu tiênđặc biệt”: quy định hiện tại trong Thông tư 48 về việc cơ sở không cólô hàng bị cảnh báo trong thời gian 01 năm để được vào danh sách ưu tiên đặcbiệt là phù hợp vì như vậy mới chứng tỏ doanh nghiệp duy trì rất tốt điều kiệnbảo đảm ATTP để đưa vào danh sách ưu tiên đặc biệt.

c. Đề nghị “Bộ NNPTNT cần có các quy định, hướngdẫn về các chứng nhận tương đương VietGAP”:

Nội dung này đã được trả lời tại mục 2.b ở trên.

d. Đề nghị “về việc gửi giấy đăng ký cấp chứngnhận an toàn thực phẩm, đề nghị Bộ NNPTNT nới lỏng thêm thời gian gửi đăng ký(khoảng 7 ngày) để DN có thời gian thực hiện, đặc biệt là các lô xuất khẩu EU”:

Theo thông lệ quốc tế, Giấy chứng nhận an toàn thựcphẩm phải được cấp ngay sau khi lô hàng được thông quan xuất khẩu. Các đoànthanh tra của EU, Hàn Quốc, Liên bang Nga cũng kiểm tra rất nghiêm ngặt yêu cầunày qua các đợt kiểm tra tại Việt Nam. Việc Thông tư 48 quy định “không quá 2ngày” là đã căn cứ trên thực tiễn sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, trên tinhthần hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.

6.2. Về xử lý trường hợp lô hàng bị cảnh báo:

a. Đề nghị “sửa đổi, bổ sung, làm rõ và chỉ ápdụng mục c Điều 36 đối với các thị trường có yêu cầu kiểm soát nhà nước”:

- Phạm vi áp dụng của Điều 36 phù hợp với phạm viThông tư 48 tại Điều 1, tức là chỉ áp dụng với các thị trường có yêu cầu NAFIQADkiểm tra chứng nhận.

- Việc sửa đổi, bổ sung Điều 36 là không cần thiếtdo phạm vi áp dụng đã được quy định tại Điều 1 Thông tư 48.

b. Đề nghị “Bộ NNPTNT quy định rõ thời giancơ quan kiểm tra, chứng nhận có văn bản chấp thuận báo cáo kết quả điều tra nguyênnhân, biện pháp khắc phục của cơ sở”:

Khoản 2 Điều 36 Thông tư 48 đã quy định rõ: “Trongthời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được báo cáo kết quả điều tra nguyênnhân và biện pháp khắc phục của cơ sở, Cơ quan kiểm tra, chứng nhận thẩm tra cácnội dung báo cáo và có văn bản thông báo kết quả thẩm tra tới cơ sở. Trường hợpphải kiểm tra đột xuất để thẩm tra, Cơ quan kiểm tra, chứng nhận thực hiện vàthông báo kết quả tới cơ sở trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi nhận đượcbáo cáo của cơ sở”.

6.3. Đề nghị “sửa đổi kiểm tra định kỳ làhình thức kiểm tra có báo trước (ít nhất trước 05 ngày)”

- Kiểm tra định kỳ được coi là một hoạt động kiểmtra chính thức của cơ quan quản lý an toàn thực phẩm và không báo trước để phùhợp với thông lệ quốc tế và quy định của các nước nhập khẩu, cụ thể, khoản 2Điều 3, Quy định (EC) 882/2004 của Hội đồng châu Âu về kiểm soát chính thức nêurõ “Kiểm tra chính thức cần được thực hiện mà không báo trước, ngoại trừmột số trường hợp cần thiết - Official controls shall be carried outwithout prior warning, except in cases such as audits where priornotification of the feed or food business operator is necessary”.

- Mục đích việc kiểm tra định kỳ là đánh giá thựcchất việc duy trì điều kiện bảo đảm ATTP của Cơ sở. Các nội dung được kiểm tralà các quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong các Quy chuẩn kỹthuật. Do vậy, Cơ sở không cần chuẩn bị thêm hồ sơ, tài liệu nào cho đoàn kiểmtra, không phải dừng hay bị cản trở gì đối với hoạt động sản xuất của mình. Vìvậy, để bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch thì việc “báo trước đểchuẩn bị” là không cần thiết. Theo các quy định về kiểm tra nêu tại Điều 68Luật An toàn thực phẩm, không có nội dung nào quy định kiểm tra phải thông báotrước. Trong thực tế kiểm tra đã phát hiện nhiều trường hợp Cơ sở chuẩn bị vàngụy tạo hồ sơ, đối phó với đoàn kiểm tra khi kiểm tra có báo trước, dẫn đếnviệc đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP của Cơ sở tại thời điểm kiểm tra khôngphản ánh đúng thực chất các hoạt động bảo đảm ATTP trong quá trình sản xuất củadoanh nghiệp trong suốt thời gian dài giữa 2 lần kiểm tra.

Do vậy, kiến nghị nêu trên của VASEP là không phù hợpvới thực tiễn và thông lệ quốc tế.

6.4. Đề nghị “bỏ nội dung khống chế về thờigian 24 giờ ra khỏi định nghĩa lô hàng sản xuất vì không phù hợp với nhiều trườnghợp thực tế theo khía cạnh đồng nhất của 01 lô hàng cũng như không đúng vớiđịnh nghĩa tương tự trong và ngoài nước”:

Định nghĩa về lô hàng sản xuất tại Thông tư 48 nêutrên được xây dựng trên cơ sở tham khảo hướng dẫn của Codex và quy định củaCanada, Mỹ (Hoa Kỳ) và Australia, cụ thể:

Theo định nghĩa Codex CAC/GL-50/2004 về hướng dẫn lấy mẫu chung: “A Iot is a definite quantity of somecommodity manufactured or produced under conditions, which are presumeduniform”.

Nội dung quy định của Hoa Kỳ:Trong Chương trình chứng nhận thủy sản xuất khẩu (SIP), theo quy định của USDC,Chapter 3: Policies, Procedures and Requirements for the Approval of Facilitiesand Systems, the regulations promulgated under these authorities (i.e., 50 CFRPart 260): “Lot: A production unit as defined by mutual agreement between theprocessor and the USDC Seafood Inspection Program consisting of processedproduct of the same type, style, and size which has been produced underconditions as nearly uniform as possible. The quantity of product in a“lot” may not exceed that quantity which is produced during a specificproduction shift(không vượt quá một ca sản xuất)

Quy định của Australia (AGuideline to Compliance with the Export Control Fish & Fish Products,Orders 2005): “A ‘lot’, when used in relation to processed food, means aquantity of processed food of the same type, processed or packed underessentially the same conditions, during a particular period of time intervalnot generally exceeding 24 hours, and usually from a particularprocessing or packing line or other identifiable processing or packing line.”

Quy định của Canada (FishInspection Program Sampling Policy); “A lot of fresh fish refersto a shipment or part of a shipment of fish which has been processed in thesame manner by the same producer in a 24-hour period”.

Như vậy, quy định “Lô hàng sảnxuất” nêu tại Thông tư 48 phù hợp thông lệ quốc tế (tương tự quy định của Australiavà Canada là trong vòng không quá 24h) và thuận lợi hơn so với quy định củaUSDC Hoa Kỳ (tính theo ca sản xuất). Quy định “Lô hàng sản xuất” nêu tại Thôngtư 48 là hoàn toàn phù hợp thông lệ quốc tế và có cơ sở khoa học.Do đó, kiến nghị của VASEP về việc bỏ quy định này là không phù hợp.

6.5. Về ý kiến cho rằng “sốmẫu lưu kho cho việc thẩm tra của Cục NAFIQAD là lớn”:

Theo quy định tại khoản 2, Điều 27Thông tư 48, cơ quan kiểm tra, chứng nhận thống nhất với doanh nghiệp về kếhoạch lấy mẫu thẩm tra. Do vậy, để hạn chế mẫu lưu kho, các doanh nghiệp cần chủđộng cung cấp thông tin kịp thời cho Trung tâm vùng kế hoạch sản xuất và xuấtkhẩu để sớm thống nhất kế hoạch lấy mẫu thẩm tra.

6.6. Đề nghị “trả lại GCNcho DN theo đường bưu điện hoặc nhằm thực hiện đúng các quy định hiện hành vềviệc cấp & trả giấy của cơ quan nhà nước, hỗ trợ tối đa cho DN”:

Cục đã và đang gửi Giấy chứng nhậnATTP cho cơ sở theo đường bưu điện theo đúng quy định hiện hành về cấp và trảgiấy chứng nhận của cơ quan nhà nước. Một số trường hợp doanh nghiệp phản ánhkhông nhận được và Cục đã phải cấp và gửi lại Giấy chứng nhận. Do việc chuyểnphát văn bản theo đường bưu điện có thể bị thất lạc hoặc thời gian kéo dài, nêntheo đề nghị của một số cơ sở, Cục đã thực hiện gửi Giấy chứng nhận ATTP theohình thức khác như chuyển phát nhanh, thư bảo đảm (chi phí do doanh nghiệp chitrả), hoặc cung cấp cho người/đơn vị đại diện được cơ sở ủy quyền đến Cục lấytrực tiếp. Đây hoàn toàn xuất phát từ đề nghị chủ động của doanh nghiệp, khôngphải là yêu cầu từ phía Cục.

Trân trọng./.


Nơi nhận:

- Như trên;
-
Bộ trưởng (để b/c);
-
TT. Vũ Văn Tám (để b/c);
- Vụ Pháp chế; Tổng cục Thủy sản;
- PCT. Ngô Hồng Phong;

-
Lưu: VT, CL1.

CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Như Tiệp

PHỤ LỤC:

SO SÁNH QUY ĐỊNH TẠITHÔNG TƯ 48 VỚI CÁC NƯỚC

1. Về biểu mẫu kiểm tra (so với quy định của EU):

Biểu mẫu của Việt Nam và EU cùng có 4 mức lỗi lànhẹ (Mi), nặng (Ma), nghiêm trọng (Se) và tới hạn (Cr).

So sánh cụ thể biểu mẫu kiểm tra điều kiện bảo đảmATTP của VN và EU (so sánh loại hình phổ biến nhất là cơ sở chế biến thủy sảnđông lạnh):

Về mức lỗi của chỉ tiêu đánh giá:

Mức lỗi

Số lượng chỉ tiêu

Việt Nam (tại TT48)

EU

Mi

26

13

Ma

107

84

Se

95

99

Cr

21

47

Nhận xét, qua bảng so sánh trên cho thấy số chỉtiêu đánh giá mức lỗi cao nhất (Cr) của Thông tư 48 ít hơn so với quy định củaEU (VN: 21 chỉ tiêu, EU: 47 chỉ tiêu);

Như vậy, quy định của VN nhẹ hơn so với EU,cụ thể: khả năng cơ sở bị lỗi Cr và xếp hạng 4 (không đạt yêu cầu) theo Thôngtư 48 thấp hơn nhiều so với loại D (không đạt yêu cầu) của EU.

2. So sánh mức đánh giá sai lỗi cụ thể (so vớiqny định của EU):

Nhóm chỉ tiêu

Ví dụ một số chỉ tiêu cụ thể

Thông tư 48

EU

Bố trí mặt bằng nhà xưởng, trang thiết bị

Không có khả năng hiện thực lây nhiễm cho sản phẩm

Ma, Se, Cr

Se, Cr

Nn

Nhẵn, phẳng, có độ dốc thích hợp/ dễ làm vệ sinh, khử trùng

Mi, Ma

Ma, Se

Tường

Dễ làm vệ sinh khử trùng

Ma

Mi, Ma, Se

Cửa

Dễ làm vệ sinh khử trùng

Mi, Ma

Mi, Ma, Se

Bn

Mi, Ma

Mi, Ma

Hệ thống thông gió

Đủ công suất/không có sự ngưng tụ hơi nước

Ma, Se

Mi, Ma, Se

Hệ thống chiếu sáng

Đủ ánh sáng và có chụp bảo vệ

Ma, Se

Ma, Se

Phương tiện rửa và khử trùng tay công nhân

Đủ slượng

Ma, Se

Ma, Se

Không dùng vòi nước vận hành bằng tay

Ma, Se

Se

Có xà phòng nước

Ma, Se

Se

Có dụng cụ làm khô tay phù hợp

Ma, Se

Se

Dụng cụ làm vệ sinh nhà xưởng, trang thiết bị

Đầy đủ, chuyên dùng

Ma, Se

Ma, Se

Nước thải

Hệ thống thoát nước đủ khả năng thoát nước thải

Ma, Se

Ma, Se, Cr

Cht thải

Thùng chứa phế liệu có vật liệu và cấu trúc thích hợp

Ma, Se

Ma, Se

Hệ thống cung cấp nước

An toàn vệ sinh

Cr

Cr

Đủ nước để sử dụng

Ma, Se

Se

Hệ thống cung cấp nước đá

An toàn vệ sinh

Se, Cr

Cr

Bảo quản nước đá hợp vệ sinh

Ma, Se

Ma, Se

Khu vực vệ sinh công nhân

Đủ slượng

Mi, Ma

Cr

Bố trí thích hợp (không thông với khu vực chế biến,...)

Ma, Se

Se, Cr

Bảo hộ lao động

Bảo hộ lao động đủ số lượng

Ma, Se

Ma, Se

Có phòng thay bảo hộ lao động

Se

Ma, Se

Hóa chất, phụ gia

Được phép sử dụng, rõ nguồn gốc

Se, Cr

Se, Cr

Hệ thống cấp đông mạ băng

Thiết bị đủ công suất để hạ nhiệt độ theo quy định

Ma, Se

Se

Kho lạnh

Duy trì ở nhiệt độ thích hợp

Ma, Se

Se, Cr

Có nhiệt kế tự ghi

Se

Se

Môi trường xung quanh

Không ảnh hưởng vào nhà máy

Mi, Ma

Ma, Se

Điều kiện bảo đảm của hệ thống QLCL

Cán bộ QLCL phải được cập nhật thường xuyên kiến thức về QLCL

Ma, Se

Se

Thực hiện chương trình QLCL

Duy trì điều kiện vệ sinh nhà xưởng

Ma, Se

Se

Thực hiện vệ sinh công nhân đúng cách

Ma, Se

Se, Cr

Kiểm soát sức khỏe công nhân đúng cách

Se, Cr

Cr

Thực hiện đúng cách việc giám sát tại điểm kiểm soát tới hạn (kiểm soát hiệu quả các thông số tới hạn)

Se, Cr

Cr

Thực hiện đầy đủ, kịp thời hành động sửa chữa khi thông số giám sát bị vi phạm

Ma, Se, Cr

Cr

H

Hồ sơ đầy đủ

Ma, Se

Se

Hồ sơ đủ độ tin cậy

Se, Cr

Cr

Theo bảng so sánh nêu trên, có 35 chỉ tiêu trongbiểu mẫu của Việt Nam và EU tương đồng/trùng nhau, trong đó:

- 9/35 chỉ tiêu của Thông tư 48 có mức đánh giá caonhất thấp hơn (nhẹ hơn) so với EU.

- 26/35 chỉ tiêu trong biểu mẫu của Thông tư 48 cómức đánh lỗi cao nhất tương đương với EU, tuy nhiên trong đó có 16/35 chỉtiêu trong Thông tư 48 cho phép đánh giá ở mức lỗi nhẹ hơn EU.

Như vậy, mức đánh giá của Thông tư 48 nhẹ hơnso với quy định của EU.

3. So sánh về xếp loại cơ sở (so với quy định củaEU):

- Về xếp loại cơ sở: Việt Nam và EU cùng phân thành4 loại (Thông tư 48 phân loại là 1, 2, 3, 4; quy định của EU phân loại thành A,B, C, D), cụ thể:

Xếp hạng

Việt Nam (tại TT48)

EU

1 / A (rt tốt)

Mi ≤ 11 - Ma, Ma ≤ 5, Se = 0, Cr = 0

Mi ≤ 6, Ma ≤ 5, Se = 0, Cr = 0

2 / B (tốt)

Mi11, Ma = 0, Se = 0, Cr = 0

Mi = NA, Ma 6, Se = 1, Cr = 0

Mi = NA, Ma = 7, Se = 0, Cr = 0

Mi ³ 7, Ma = 6 ¸ 10, Se = 1¸2, Cr = 0

3 /C (đạt yêu cầu)

Mi = NA, Ma ≤ 10, Se ≤ 2, Cr = 0

Mi = NA, Ma = 11, Se ≤ 1, Cr = 0

Mi = NA, Ma 11, Se = 3¸4, Cr=0

4 / D (không đạt)

Cr 1 ; Mi, Ma, Se = NA;

Se3 ; Mi, Ma, Cr = NA;

Ma 11; Mi, Se, Cr = NA;

Mi = NA, Ma = NA, Se 5, Cr = 1

Theo bảng phân loại như trên: Xếp loại cơ sở củaViệt Nam chặt hơn so với EU, tuy nhiên do biểu mẫu đánh giá của Việt Nam nhẹ hơnEU (ít lỗi Cr, Se hơn so với EU) nên việc xếp loại như trên là hoàn toàn phùhợp logic. Mặt khác, do biểu mẫu của EU nhiều lỗi Cr hơn nên tỷ lệ/xác suất cơsở không đạt (xếp loại D) của EU sẽ cao hơn so với quy định của Việt Nam (như đãnêu tại mục a ở trên).

Như vậy, đánh giá chung thì quy định tại Thôngtư 48 không nghiêm ngặt hơn so với EU như phản ánh của VASEP.

4. Về tần suất kiểm tra cơ sở (so với quy địnhcủa EU):

Xếp hng

Tần suất kiểm tra tại TT48

Tần suất kiểm tra theo quy định của EU

1 (A)

1 năm/lần

3 tháng/lần

2 (B)

1 năm/ln

1-2 lần/tháng

3 (C)

6 tháng/ln

Hàng tuần

4 (D)

Theo thời hạn khắc phục của cơ quan kiểm tra nhưng không quá 3 tháng

Kiểm tra liên tục đến khi doanh nghiệp lên hạng; không được phép xuất khẩu

Ghi chú

Đối với cơ sở mới được công nhận: Tần suất kiểm tra định kỳ của EU là hàng tuần hoặc 2 tuần/lần trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm (kể cả cơ sở xếp loại A, B).

Nhận xét: Qua bảng so sánh trên có thể thấy quyđịnh về tần suất của EU rất chặt chẽ và cao hơn rất nhiều so với quy địnhtai Thông tư 48.

Như vậy, quy định tại Thông tư 48 hiện nay lànhẹ hơn so với quy định của EU.

5. So sánh chế độ lấy mẫu thẩm tra ATTP thủy sảnxuất khẩu với các nước (Hoa Kỳ, Canada, Thái Lan)

TT

Quc gia

Nội dung quy định

1

Hoa Kỳ (Policies, Procedures and Requirements for the Approval of Facilities and Systems - USDC)

- Số lượng sản phẩm tối thiểu được thẩm tra phụ thuộc vào tổng số sản phẩm được sản xuất kể từ lần thẩm tra trước (Thời gian giữa các lần thẩm tra sản phẩm liên tiếp không vượt quá 1 tuần sản xuất).

- Đối với mỗi sản phẩm được thẩm tra, lựa chọn ngẫu nhiên tối thiểu 25% tổng số các lô được sản xuất kể từ lần thẩm tra trước đó

2

Canada (Fish products inspection manual, Canadian Food Inspection Agency)

- Đối với cơ sở đã được công nhận: kiểm tra tối thiểu 10% tổng số lô hàng đăng ký chứng nhận.

- Đối với cơ sở chưa được công nhận: lấy mẫu 100% số lô hàng đăng ký chứng nhận.

3

Thái Lan

(Qui trình kiểm tra Thủy sản xuất khẩu của Bộ phận Thanh tra và Quản lý chất lượng Thủy sản (FIQD) - Tổng Cục Thủy sản Thái Lan (DOF))

- Cơ sở trong danh sách “đặc quyền”:

Cơ sở loại 1: lấy mẫu thẩm tra 3 tháng 1 lần

Cơ sở loại 2: lấy mẫu thẩm tra 2 tháng 1 lần

- Cơ sở không có tên trong danh sách “đặc quyền”: Lấy mẫu thẩm tra từng lô hàng

4

Việt Nam (Thông tư 48)

Sản phẩm theo mức rủi ro

Chế độ thẩm tra

Đặc biệt

Hạng 1

Hạng 2

Sản phẩm rủi ro thấp

2%

10%

20%

Sản phẩm rủi ro cao

5%

15%

25%

Như vậy, tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra phụ thuộc mức nguycơ của sản phẩm (cao, thấp) và phân loại điều kiện bảo đảm ATTP của doanhnghiệp (đặc biệt, hạng 1, hạng 2). So với thông lệ quốc tế, đối với các doanhnghiệp “đặc biệt”, tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra rất thấp, chỉ là 2% đối với sản phẩmnguy cơ thấp và 5% đối với sản phẩm nguy cơ cao; đối với các doanh nghiệp khác,tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra thấp nhất là 10% đối với sản phẩm nguy cơ thấp (tươngứng với mức tối thiểu của Canada) và cao nhất là 25% (tương ứng mức tối thiểucủa Hoa Kỳ).