BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1804/LĐTBXH-LĐVL
V/v về chính sách đối với người lao động ở doanh nghiệp cổ phần hoá

Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 2003

Kính gửi: Sở Tài chính - Vật giá tỉnh Kiên Giang

Trả lời công văn số 535/CV-TC ngày 05/5/2003 của Quý Sở về việc ghi ở trích yếu, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Thời gian được tính để mua cổ phần ưu đãi hơn là thời gian thực tế làm việc cho các doanh nghiệp Nhà nước, cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo hệ số và theo bảng lương nhà nước quy định). Các trường hợp mà Quý Sở hỏi là những đối tượng hưởng sinh hoạt phí theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ không được mua cổ phần ưu đãi. Đối với cán bộ hoặc bộ đội đã về hưu sau đó ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp và đang làm việc tại thời điểm cổ phần hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và điểm 4 điểm 7 mục I (những quy định chung) Thông tư số 15/2002/TT-LĐTBXH ngày 23/10/2002 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn chính sách đối với người lao động khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thì chỉ được tính thời gian ký hợp đồng lao động tại doanh nghiệp đó để mua cổ phần ưu đãi.

2. Tiêu chí xác định là người lao động nghèo trong doanh nghiệp cổ phần hoá được quy định tại điểm 5 mục I (những quy định chung) Thông tư số 15/2002/TT-LĐTBXH nêu ở phần trên.

Đề nghị Quý Sở nghiên cứu kỹ văn bản hướng dẫn cho doanh nghiệp và giải quyết chính sách đối với người lao động./.

TL. BỘ TRƯỞNG
BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG-VIỆC LÀM




Nguyễn Đại Đồng