BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1953 TCT/VN7
V/v thuế chuyển quyền SDĐ

Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2003

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Đồng Tháp

Trả lời công văn số 311 CT/NV ngày 15/5/2003 của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp về việc chuyển quyền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ quy định tại Điểm 5, Mục I, Thông tư số 104/2000/TT-BTC ngày 23/10/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 8/6/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất quy định:

“3. Các trường hợp thuộc diện không chịu thuế:

- Chuyển quyền sử dụng đất giữa cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại (hoặc ngược lại) trong đó người chuyển quyền sử dụng đất phải có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải có sổ hộ khẩu ghi rõ mối quan hệ với người có quyền sử dụng đất, hoặc giấy khai sinh để xác định các mối quan hệ ông bà với cha mẹ; cha mẹ với các con hoặc các giấy tờ pháp lý chứng minh khác”.

Căn cứ vào quy định trên đây, trường hợp bố, mẹ chuyển quyền sử dụng đất cho con riêng của vợ hoặc chồng, nếu bố, mẹ có chung quyền sử dụng đất và con riêng của bố hoặc mẹ có đủ các quy định trên, thì không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Trường hợp ông nội, bà nội chuyển quyền sử dụng đất cho cháu nội (là con riêng của vợ), ông ngoại, bà ngoại chuyển quyền sử dụng đất cho cháu ngoại (là con riêng của chồng), đây là những mối quan hệ không cùng huyết thống thì phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Cục thuế phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và các hồ sơ có liên quan để giải quyết việc miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất theo đúng quy định.

Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Đồng Tháp biết và thực hiện./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương