BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1994 TCT/CS
V/v thuế đối với chi phí môi giới

Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2003

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Khánh Hoà

Trả lời công văn số 63 CT/NV ngày 17/1/2003 của Cục thuế tỉnh Khánh Hoà hỏi về chính sách thuế đối với chi phí hoa hồng môi giới mà doanh nghiệp trả lời cho cá nhân không kinh doanh, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm 11, Mục III, Phần A Thông tư số 18/2002/TT-BTC ngày 20/2/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2001/NĐ-CP ngày 4/6/2001 và Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN quy định: “Chi hoa hồng môi giới” được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế nhưng phải có chứng từ hợp pháp.

Trường hợp doanh nghiệp chi trả hoa hồng môi giới cho cá nhân không kinh doanh không có hoá đơn, chứng từ thì việc thanh toán hoa hồng môi giới phải được căn cứ vào hợp đồng và bản thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp và cá nhân làm môi giối. Giám đốc doanh nghiệp duyệt chi và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của khoản chi này.

Căn cứ vào điểm 2.2.4, Mục I Thông tư số 05/2002/TT-BTC ngày 17/01/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2001/NĐ-CP ngày 23/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì thu nhập từ dịch vụ môi giới của người không kinh doanh thuộc khoản thu nhập không thường xuyên. Doanh nghiệp chi trả có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân trước khi thanh toán tiền hoa hồng môi giới cho các cá nhân. Doanh nghiệp chi trả không được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với khoản thuế thu nhập cá nhân nộp thay đó.

Tổng cục thuế thông báo để Cục thuế được biết và thực hiện./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Thị Cúc