BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------

Số: 2061/TCT-CS
V/v thuế GTGT đối với nghiệp vụ tư vấn tài chính và dịch vụ xuất khẩu

Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2010

Kínhgửi: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh.

Trả lời công văn số 1974/CT-TTHTngày 06/4/2010 của Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh về thuế GTGT đối với nghiệpvụ tư vấn tài chính của Công ty chứng khoán và dịch vụ xuất khẩu, Tổng cục Thuếcó ý kiến như sau:

1. Về thuế GTGT đối với nghiệpvụ tư vấn tài chính của Công ty chứng khoán:

Tại điểm 8.b, mục II, phần AThông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về thuế GTGT hướngdẫn:

"Kinh doanh chứng khoán baogồm: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứngkhoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứngkhoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, dịch vụ tổ chức thị trường của cácsở hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán, các hoạt động kinh doanh khác theo quyđịnh của pháp luật về chứng khoán" thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Tại khoản 19 Điều 6 Luật chứngkhoán quy định:

"Kinh doanh chứng khoán làviệc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán tự doanh chứng khoán, bảo lãnhphát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lýquỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán".

Căn cứ Điều 42, Mục 6, Chương VQuy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy chếtổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán quy định:

"Quy định về nghiệp vụ tưvấn tài chính:

Ngoài các nghiệp vụ được cấpphép, công ty chứng khoán được phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn tài chính baogồm:

- Tư vấn tái cơ cấu tài chínhdoanh nghiệp, thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn quản trị công ty cổ phần;

- Tư vấn chào bán, niêm yếtchứng khoán;

- Tư vấn cổ phần hóa, xác địnhgiá trị doanh nghiệp;

- Tư vấn tài chính khác phù hợpvới quy định pháp luật".

Tại điểm 3 mục II phần B Thôngtư số 129/2008/TT-BTC nêu trên hướng dẫn: mức thuế suất 10% áp dụng đối vớihàng hoá, dịch vụ không được quy định tại mục II, phần A, Điểm 1, 2 Mục II,phần B Thông tư này.

Căn cứ hướng dẫn trên và trên cơsở nghiên cứu ý kiến của Uỷ ban chứng khoán nhà nước tại văn bản số 1218/UBCK-PTTT ngày 29/4/2010, nghiệp vụ tư vấn tài chính không thuộc phạm vinghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật về thuế GTGT vàpháp luật vê chứng khoán. Do đó, nghiệp vụ tư vấn tài chính (trong đó có nghiệpvụ tư vấn phát hành, niêm yết chứng khoán) áp dụng thuế suất thuế GTGT là 10%.

2. Về thuế GTGT đối với dịchvụ xuất khẩu:

T'ừ ngày 1/1/2009, trường hợpcác doanh nghiệp Việt Nam thực hiện cung ứng dịch vụ trực tiếp cho tổ chức ởnước ngoài thì dịch vụ cung ứng được xác định là dịch vụ xuất khẩu áp dụng thuếsuất 0% với điều kiện tổ chức ở nước ngoài là tổ chức không có cơ sở thường trútại Việt Nam, không phải là người nộp thuế GTGT tại Việt Nam (cơ sở thường trúđược xác định theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuếthu nhập cá nhân, quy định tại văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiệnHiệp định tránh đánh thuế hai lần), không có quy định dịch vụ xuất khẩu cungcấp cho tổ chức ở nước ngoài được áp dụng thuế suất 0% phải đáp ứng điều kiệnđược tiêu dùng ngoài Việt Nam.

Tổng cục Thuế trả lời để CụcThuế thành phố Hồ Chí Minh biết./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Vũ Thị Mai