BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2105/L ĐTBXH-VP
V/v trả lời kiến nghị cử tri kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII

Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2011

Kínhgửi: Ban Dân nguyện thuộc Ủy banThường vụ Quốc hội

Trả lời Côngvăn số 134/BDN ngày 18 tháng 5 năm 2011 củaBan Dân nguyện về việc trả lời ýkiến, kiến nghị của cử tri, kỳ họpthứ 9, Quốc hội khóa XII, Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội xinbáo cáo như sau:

1. Đề nghịNhà nước tiếp tục có những cơchế, chính sách ưu tiên khuyếnkhích các doanh nghiệp, chủ sử dụng laođộng tuyển dụng nhiều lao động nữ(Cử tri tỉnh Lạng Sơn – KN số 32).

Hiện nay, phápluật lao động đã có mộtchương quy định riêng cho lao độngnữ, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 23/CP ngày 18/4/1996 quy định chitiết và hướng dẫn thi hành mộtsố điều của Bộ luật Lao độngvề những quy định riêng đối vớilao động nữ, Bộ Lao động -Thươngbinh và Xã hội đã ban hành Thôngtư số 03/L ĐTBXH-TT ngày 13/01/1997, Bộ Tàichính đã ban hành Thông tư số 79/1997/TT-BTC ngày 06/11/1997, trong đó quy địnhnhiều chính sách đối với doanh nghiệpsử dụng nhiều lao động nữ như cho vayvốn với lãi suất thấp từ quỹquốc gia về việc làm; trường hợpkhó khăn về tài chính không tựgiải quyết việc điều chuyển laođộng nữ đang làm các công việcthuộc danh mục cấm sử dụng lao độngnữ sang làm công việc khác thíchhợp thì doanh nghiệp được lập dựán xin kinh phí hỗ trợ một lần từquỹ quốc gia về việc làm; đượcưu tiên sử dụng một phần trong tổngsố vốn đầu tư hàng năm của doanhnghiệp để chi cho việc cải thiệnđiều kiện làm việc cho lao độngnữ; được xét giảm thuế; giảmthuế lợi tức với mức giảm khôngthấp hơn các khoản chi phí thêm dosử dụng nhiều lao động nữ mà doanhnghiệp tính được; được hạchtoán vào chi phí hợp lệ các khoảnchi thêm đối với lao động nữ …

Tuy nhiên, chínhsách hiện hành vẫn chưa khuyếnkhích được doanh nghiệp sử dụngnhiều lao động nữ, vì vậy trong quátrình nghiên cứu sửa đổi Bộluật Lao động, Bộ Lao động -Thươngbinh và Xã hội cùng với các Bộ,ngành cũng đang nghiên cứu đưavào những quy định cụ thể hơnđể bảo vệ lao động nữ vàkhuyến khích doanh nghiệp sử dụng nhiềulao động nữ.

2. Hiện nay, tranhchấp giữa người sử dụng lao độngvà người lao động trong việc thựchiện hợp đồng lao động diễn rangày một nhiều. Trong khi đó chưa cóquy định cụ thể cho phép người laođộng dừng việc tập thể nếu ngườisử dụng lao động vi phạm pháp luậtlao động với người lao động sau khihòa giải không thành cho phù hợpvới điều kiện hiện nay. Bên cạnhđó, Chủ tịch công đoàn ởcác doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoàinhà nước là người của chủsử dụng lao động, họ ăn lươnggiới chủ, làm chuyên môn cho chủ sửdụng lao động, điều đó cónghĩa là họ làm để phục vụgiới chủ, không thể đại diện chongười lao động được. Bởi vậy,cán bộ công đoàn cơ sởđứng ra tổ chức, lãnh đạođình công bảo vệ người laođộng là không khả thi. Đề nghịChính phủ cần có những giải phápcụ thể để giải quyết vấn đềtrên (Cử tri tỉnh Hải Dương – KNsố 34).

Về quan hệ laođộng, hiện nay Nhà nước đã banhành Bộ luật Lao động quy địnhquyền và nghĩa vụ của người laođộng, người sử dụng lao độngvà đại diện người lao độnglà công đoàn cơ sở. Tổ chức côngđoàn cơ sở có trách nhiệm bảovệ quyền và lợi ích cho người laođộng, đại diện cho người laođộng tham gia vào quá trình thươnglượng tập thể. Tuy nhiên, trên thựctế nhiều doanh nghiệp chưa có tổ chứccông đoàn hoặc có tổ chức côngđoàn cơ sở nhưng không đạidiện bảo vệ quyền lợi cho người laođộng, dẫn đến tranh chấp lao độngvà đình công không theo trình tựquy định của pháp luật.

Để nâng cao vaitrò, năng lực của tổ chức côngđoàn cơ sở trong doanh nghiệp nhằmtừng bước giải quyết vấn đề nêutrên, đề nghị cử tri kiến nghịvới Tổng liên đoàn Lao động ViệtNam có các giải pháp tăng cườngnăng lực cho các tổ chức côngđoàn cơ sở; kiến nghị các cơquan chức năng ở địa phương tăngcường công tác tuyên truyền, phổbiến pháp luật lao động đếnngười lao động và người sửdụng lao động, tăng cường kiểm tra,thanh tra để hạn chế tranh chấp laođộng và đình công.

Về phía Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội sẽtiếp tục phối hợp với các Bộ,ngành nghiên cứu sửa đổi trìnhQuốc hội Bộ luật Lao động, tăngcường quản lý nhà nước về laođộng trong đó chú trọng từ côngtác tuyên truyền, phổ biến phápluật lao động đến thanh tra, kiểm traviệc thực hiện pháp luật lao động,xây dựng các thiết chế hỗ trợphát triển quan hệ lao động.

3. Văn bảnhướng dẫn về mức lương cơ bảntại khu vực doanh nghiệp rất chậm. KhiChính phủ đã công bố mứclương cơ bản áp dụng tại khu vực doanhnghiệp nhưng chậm hướng dẫn cácháp dụng nên doanh nghiệp vẫn ápdụng theo mức lương cơ bản cũ. Khicó văn bản hướng dẫn (thườnglà cách 5,6 tháng) lại yêu cầu ápdụng mức lương cơ bản từ thờiđiểm Nghị định của Chính phủcó hiệu lực làm các doanh nghiệprất khó khăn trong việc bố trí nguồnkinh phí để nâng mức lương cơbản cho người hưởng lương. Đềnghị Chính phủ khi ban hành Nghịđịnh về nâng mức lương cơ bảnthì phải có văn bản hướng dẫnáp dụng ngay (Cử tri tỉnh Cao Bằng– KN số 42).

Theo quy định củaBộ luật Lao động, thì việc điềuchỉnh tiền lương là trách nhiệmcủa doanh nghiệp và theo thỏa thuận giữangười lao động và người sửdụng lao động. Chính phủ chỉ quyđịnh mức lương tối thiểu vùng(không quy định mức lương cơ bản) làmức sàn thấp mà người sử dụnglao động thỏa thuận tiền lương vàtrả lương cho người lao động khôngđược thấp hơn mức này.

Từ năm 2008đến nay, Chính phủ đã điềuchỉnh mức lương tối thiểu vùng ápdụng từ ngày 01/01 hàng năm phù hợpvới năm tài chính của doanh nghiệp.Để thuận lợi cho doanh nghiệp chuẩn bịphương án sản xuất, bố trínguồn trả lương, Chính phủ đãcông bố vào tháng 10 để ápdụng vào ngày 01/01 năm sau.

Sau khi Chính phủ banhành Nghị định điều chỉnh mứclương tối thiểu vùng, Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hộiđều ban hành Thông tư hướng dẫn thựchiện ngay. Việc cử tri phản ánh cóthể là do các địa phương triểnkhai tập huấn cho các doanh nghiệp triển khaichậm. Vì vậy, một mặt cử tri cầnđề nghị với Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngcần có kế hoạch triển khai ngay. Mặtkhác, trên giác độ quản lýnhà nước, Bộ Lao động-Thương binhvà Xã hội sẽ trao đổi, yêu cầuỦy ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương có trách nhiệm triểnkhai trên địa bàn quản lý.

4. Hiện nay, theochế độ tiền lương đối với khuvực doanh nghiệp thì mức chênh lệchtiền lương tối thiểu vùng đốivới doanh nghiệp trong nước giữa Vùng I sovới vùng III, IV là chưa thật sự hợplý. Đề nghị Chính phủ xem xét,điều chỉnh (Cử tri tỉnh ĐiệnBiên – KN số 45).

Theo lộ trìnhđiều chỉnh tiền lương tối thiểugiai đoạn 2008 – 2012, Chính phủ sẽđiều chỉnh tăng dần mức lương tốithiểu và điều chỉnh bất hợp lýgiữa các vùng. Hiện nay mức lươngtối thiểu vùng IV gắn với mứclương tối thiểu chung (mức lươngnày để tính các mức lương trongkhu vực hành chính và phụ thuộcvào khả năng ngân sách nhànước), dẫn đến chênh lệch mứclương tối thiểu giữa các vùng,nhất là vùng I so với vùng III, vùngIV. Chính phủ đã giao cho Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội vàcác Bộ, ngành liên quan nghiên cứutách tiền lương tối thiểu vùng IV rakhỏi tiền lương tối thiểu chung, từđó điều chỉnh mức lương tốithiểu giữa các vùng cho phù hợp.

5. Cử tri phảnánh hiện nay đời sống của côngnhân lao động trong các khu công nghiệp– khu chế xuất gặp rất nhiều khókhăn, với đồng lương thấp trong khigiá cả thị trường ngày càngtăng, thiếu thốn cả về vật chấtlẫn tinh thần. Đề nghị Nhà nướccần có chính sách tiền lươngphù hợp, quan tâm hơn đến đờisống vật chất, tinh thần để ngườilao động có điều kiện ổnđịnh cuộc sống (Cử tri thànhphố Hồ Chí Minh – KN số 46).

Thực hiện lộtrình của Đề án cải cáchchính sách tiền lương, bảo hiểmxã hội và trợ cấp ưu đãi ngườicó công giai đoạn 2008 – 2012, hàngnăm Chính phủ điều chỉnh mứclương tối thiểu nhằm thực hiện 2mục tiêu: bảo đảm tiền lươngthực tế của người lao động vàthực hiện thống nhất mức lươngtối thiểu giữa các loại hình doanhnghiệp.

Thực hiện Nghịquyết số 83/NQ-CP ngày 05/6/2011 của Chínhphủ, hiện nay Bộ Lao động - Thương binhvà Xã hội đang tính toán trìnhChính phủ phương án điều chỉnhmức lương tối thiểu vùng cho cácnăm tiếp theo nhằm thực hiện các mụctiêu nêu trên.

Tuy nhiên, việctrả lương, điều chỉnh tiềnlương là trách nhiệm của doanh nghiệpvà theo thỏa thuận giữa người lao độngvà người sử dụng lao động. Vì vậy,trong điều kiện chỉ số giá sinh hoạttăng, đời sống của người laođộng gặp khó khăn, đề nghịcử tri kiến nghị với Ủy ban Nhân dânThành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thựchiện các giải pháp đã đặt ratại Thông báo số 318/TB-VP ngày 20/5/2011của Văn phòng Ủy ban Nhân dân Thànhphố Hồ Chí Minh về nội dung kết luậncủa Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thànhphố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân tạibuổi làm việc với các doanh nghiệpđể giải quyết những khó khăn,vướng mắc khi triển khai thực hiệnNghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủnhằm giảm bớt khó khăn cho người laođộng.

6. Cử tri tiếptục kiến nghị Nhà nước cần quantâm và có chính sách điềuchỉnh lương hưu hợp lý cho cánbộ quân đội nghỉ hưu trướcnăm 1975 sao cho tương đương vớinhững người tham gia quan đội nghỉ saunăm 1975. Vì lương, phụ cấp củacác đối tượng này chênh lệchquá cao tạo ra sự bất bình đẳng (Cửtri tỉnh Thái Bình – KN số 9).

Theo quy định củaLuật Bảo hiểm xã hội (BHXH) “mứchưởng BHXH được tính trên cơsở mức đóng, thời gian đóngBHXH”, mức lương hưu hàng tháng củangười lao động được tínhtrên cơ sở thời gian đóng BHXH vàmức tiền lương, tiền công thánglàm căn cứ tính đóng BHXH. Đốivới những người có cùng thời giancông tác như nhau thì tiền lươnghưu cao hơn hay thấp hơn sẽ phụ thuộcvào mức tiền lương, tiền côngtháng làm căn cứ đóng bảo hiểmxã hội.

Việc điềuchỉnh lương hưu phụ thuộc vào mứclương hưu hiện hưởng và trêncơ sở mức tăng của chỉ số giásinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Từnăm 2008 đến nay, Chính phủ đãthực hiện 5 lần điều chỉnh lươnghưu và trợ cấp bảo hiểm xã hộihàng tháng, theo đó lương hưu củangười nghỉ hưu đã được điềuchỉnh tăng thêm 85% so với mức lương hưucủa tháng 12/2007 nhằm đảm bảođời sống của người nghỉ hưu.Như vậy, với việc điều chỉnhlương hưu trong thời gian qua đãđảm bảo được nguyên tắcđiều chỉnh, từng bước phù hợpvới sự phát triển kinh tế - xã hộiđất nước và mặt bằng chínhsách xã hội chung.

Việc khắc phụcsự chênh lệch lương hưu giữa cácthời kỳ cũng đã được Chínhphủ chỉ đạo thực hiện, tuy nhiênkhông thực hiện triệt đểđược vì mức đóng BHXH mỗithời kỳ khác nhau dẫn đến mứclương hưu được hưởng cũngkhác nhau.

7. Đề nghịChính phủ xem xét tăng chế độtrợ cấp hàng tháng đối vớicán bộ hưu trí xã, phường côngtác trong giai đoạn từ năm 1950 đếnnăm 1980, có thời gian công tác liêntục từ 15 năm trở lên (Cử tritỉnh Lạng Sơn – KN số 20).

Việc nghiên cứu,xem xét tăng chế độ trợ cấphàng tháng đối với cán bộxã, phường công tác trong giai đoạn từnăm 1950 đến năm 1980 thuộc thẩm quyềncủa Bộ Nội vụ. Đề nghị Ban Dânnguyện chuyển nội dung kiến nghị củacử tri đến Bộ Nội vụ để đượcxem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

8. Đề nghịChính phủ nâng tỷ lệ phần trămlương hưu từ 75% lên 85% (Cử tritỉnh Cà Mau – KN số 22).

Theo quy định củaLuật Bảo hiểm xã hội, mức lươnghưu hằng tháng của người lao độngđủ điều kiện theo quy định đượctính bằng 45% mức bình quân tiềnlương, tiền công tháng đóng bảohiểm xã hội tương ứng vớimười lăm năm đóng bảo hiểmxã hội, sau đó cứ thêm mỗi nămđóng bảo hiểm xã hội thìtính thêm 2% đối với nam và 3%đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.Việc tăng lên 85% là không thực hiệnđược nếu không tăng mức đóngBHXH hàng tháng lên và nâng sốtháng đóng BHXH lên.

Kinh nghiệm củahầu hết các nước trên thế giớicho thấy tỷ lệ hưởng lương hưucơ bản (BHXH bắt buộc) của cácnước thường dao động từ khoảng 50%đến 65% tùy thuộc vào điều kiệnkinh tế và khả năng cân đối quỹbảo hiểm xã hội của từng quốc gia,phần cao hơn có được dướihình thức quỹ hưu trí bổ sung.

9. Lương hưucủa lực lượng quân đội thấp,không phù hợp với thực tế, đềnghị ngành chức năng xem xét và cóchủ trương nâng mức lương hưucủa cán bộ công tác trong ngànhquân đội (Cử tri tỉnh An Giang vàTiền Giang – KN số 23).

Theo quy định củaLuật BHXH “mức hưởng BHXH đượctính trên cơ sở mức đóng, thờigian đóng BHXH”, mức lương hưuhàng tháng của người lao độngđược tính trên cơ sở thời gianđóng BHXH và mức tiền lương, tiềncông tháng làm căn cứ tínhđóng BHXH. Đối với những ngườicó cùng thời gian công tác như nhauthì tiền lương hưu cao hơn hay thấphơn sẽ phụ thuộc vào mức tiềnlương, tiền công tháng làm căncứ đóng bảo hiểm xã hội.Lương hưu được điều chỉnhtrên cơ sở mức tăng của chỉ số giásinh hoạt và tăng trưởng kinh tế.

Thực hiện quyđịnh nêu trên của Luật Bảo hiểmxã hội, từ năm 2008 đến nay, Chínhphủ đã thực hiện 5 lần điềuchỉnh lương hưu và trợ cấp bảohiểm xã hội hàng tháng, theo đólương hưu của người nghỉ hưu(kể cả lực lượng vũ trang) đãđược điều chỉnh tăng thêm 85% sovới mức lương hưu của tháng 12/2007.Theo số liệu báo cáo của Bảo hiểmxã hội Việt Nam, hiện nay mức lươnghưu bình quân của lực lượng vũ tranglà gần 4,5 triệu đồng/tháng, trong khi mứclương hưu bình quân của cán bộ,công chức, viên chức và người laođộng (khối dân sự) bình quânchỉ gần 2,3 triệu đồng/tháng.

Hằng năm, theo lộtrình cải cách tiền lương, căncứ vào kết quả tăng trưởng kinhtế và tăng trưởng của Quỹ bảohiểm xã hội, Bộ Lao động-Thươngbinh và Xã hội đề nghị Chínhphủ tiếp tục điều chỉnh tăng dầnlương hưu.

10. Đề nghịChính phủ chỉ đạo việc chi trảphụ cấp khu vực một lần trướcđây đã thu để đóng bảohiểm xã hội (Cử tri tỉnh LâmĐồng – KN số 24).

Trước ngày01/01/2007, theo quy định của Điều lệBảo hiểm xã hội ban hành kèm theoNghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 củaChính phủ thì người lao độngcó hưởng phụ cấp khu vực thì trongtiền lương tháng làm căn cứđóng BHXH bao gồm cả phụ cấp khu vực.

Từ ngày 01/01/2007trở đi, theo quy định của Luật BHXH vàcác văn bản hướng dẫn thực hiệnthì: tiền lương, tiền công thángđóng BHXH của người lao động tham giaBHXH bắt buộc không bao gồm phụ cấp khuvực; người lao động nghỉ việcđủ điều kiện hưởng lươnghưu hoặc hưởng bảo hiểm xã hộimột lần kể từ ngày 01/01/2007 trở đisẽ không có khoản phụ cấp khu vựctrong lương hưu hàng tháng, nếutrước thời điểm nghỉ hưu đãcó thời gian đóng bảo hiểm xãhội bao gồm phụ cấp khu vực, thì ngoàihưởng lương hưu hoặc bảo hiểmxã hội một lần theo quy định cònđược hưởng trợ cấp một lầntương ứng với thời gian và sốtiền phụ cấp khu vực đã đóng bảohiểm xã hội. Riêng đối vớingười đang hưởng phụ cấp khu vựctrong lương hưu hàng tháng từtrước ngày 01/01/2007 mà vẫn cư trútại nơi có phụ cấp khu vực thìđược hưởng phụ cấp khu vực theomức hiện hưởng.

Như vậy, với cácquy định trên đã thực hiện nguyêntắc hưởng trên cơ sở mứcđóng của bảo hiểm xã hội, quyđịnh chuyển tiếp về chính sáchđối với đối tượng thụhưởng trước ngày Luật Bảo hiểmxã hội có hiệu lực, đảm bảođược quyền lợi của người laođộng đã có thời gian đóngbảo hiểm xã hội có bao gồm phụ cấpkhu vực nghỉ việc hưởng chế độbảo hiểm xã hội từ ngày LuậtBảo hiểm xã hội có hiệu lực.

11. Cử tri cho rằngmặc dù Chính phủ đã thực hiệnviệc cải cách tiền lương, nhưnglộ trình tăng lương còn nhiều vấnđề bất hợp lý: tăng lươngchậm hơn nhiều so với tăng giá tiêudùng, những người nghỉ hưu cóvị trí công tác như nhau, nhưngngười nghỉ hưu trước năm 1995 nhậnlương ở mức thấp hơn nhiều so vớinhững người nghỉ hưu từ năm 1995trở về sau. Đề nghị Chính phủ xemxét, có lộ trình tăng lương hợplý, điều chỉnh mức lương hưuđối với những người nghỉ hưutrước năm 1995 một cách phù hợpđể họ ổn định cuộc sống (Cửtri tỉnh Bến Tre – KN số 25).

Theo quy định củaLuật BHXH là “mức hưởng BHXHđược tính trên cơ sở mứcđóng, thời gian đóng BHXH”, mứclương hưu hàng tháng của ngườilao động được tính trên cơsở thời gian đóng BHXH và mức tiềnlương, tiền công tháng làm căncứ tính đóng BHXH. Đối vớinhững người có cùng thời gian côngtác như nhau thì tiền lương hưu caohơn hay thấp hơn sẽ phụ thuộc vàomức tiền lương, tiền công thánglàm căn cứ đóng bảo hiểm xãhội.

Việc khắc phụcsự chênh lệch lương hưu giữa cácthời kỳ cũng đã được Chínhphủ chỉ đạo thực hiện, tuy nhiênkhông thực hiện triệt đểđược vì mức đóng BHXH mỗi thờikỳ khác nhau dẫn đến mức lương hưuđược hưởng cũng khác nhau.

Trong thời gian qua, Chínhphủ đã điều chỉnh tăng tiền lươnghưu, việc điều chỉnh lương hưu phụthuộc vào mức lương hưu hiện hưởngvà trên cơ sở mức tăng của chỉsố giá sinh hoạt và tăng trưởng kinhtế. Từ năm 2008 đến nay, Chính phủđã thực hiện 5 lần điều chỉnhlương hưu và trợ cấp bảo hiểmxã hội hàng tháng, theo đólương hưu của người nghỉ hưuđã được điều chỉnh tăngthêm 85% so với mức lương hưu củatháng 12/2007 nhằm đảm bảo đời sốngcủa người nghỉ hưu (chỉ số giásinh hoạt giai đoạn 2008 – 2010 tăng 43,51%).

Hiện nay, Chínhphủ đang triển khai đánh giá sơkết việc thực hiện Đề án Cảicách chính sách tiền lương, bảohiểm xã hội và trợ cấp ưuđãi người có công giai đoạn 2008– 2012 để xây dựng Đề áncải cách cho thời gian tới.

12. Hiện nay, mộtsố đối tượng nghỉ hưu trướcnăm 1992 lương rất thấp, việc cảicách tiền lương theo tỷ lệ phần trămlà chưa công bằng, người hưởngmức lương cao thì được tăng cao hơn,người hưởng mức lương thấpthì tăng không đáng kể. Đềnghị Chính phủ chỉ đạo nghiêncứu khắc phục tình trạng này theohướng không nên quy định tănglương theo tỷ lệ phần trăm mà tănglương theo số tiền cụ thể ápdụng cho mọi đối tượng. Ví dụquy định tăng lương hưu cho mỗiđối tượng một khoản tiền như nhau(1.000.000 đồng, 2.000.000 đồng, …) (Cửtri thành phố Đà Nẵng – KN số 26).

Theo quy định củaLuật BHXH là “mức hưởng BHXHđược tính trên cơ sở mứcđóng, thời gian đóng BHXH”, mứclương hưu hàng tháng của ngườilao động được tính trên cơsở thời gian đóng BHXH và mức tiềnlương, tiền công tháng làm căncứ tính đóng BHXH. Như vậy, đốivới những người có cùng thời giancông tác như nhau thì tiền lươnghưu cao hơn hay thấp hơn sẽ phụ thuộcvào mức tiền lương, tiền côngtháng làm căn cứ đóng bảo hiểmxã hội. Lương hưu đượcđiều chỉnh trên cơ sở mức tăngcủa chỉ số giá sinh hoạt, tăngtrưởng kinh tế và mức lương hưucủa từng người, không thể điềuchỉnh tăng lên đồng loạt một mứcđược.

Từ năm 2008đến nay, Chính phủ đã thực hiện5 lần điều chỉnh lương hưu vàtrợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng,theo đó lương hưu của ngườinghỉ hưu đã được điềuchỉnh tăng thêm 85% so với mức lươnghưu của tháng 12/2007 nhằm đảm bảođời sống của người nghỉ hưu. Tuynhiên, từ cuối năm 2010 và nhữngtháng đầu năm 2011, chỉ số giátiêu dùng tăng cao ảnh hưởng lớnđến đời sống của người vềhưu. Để giảm bớt khó khăn chongười về hưu có mức lương hưuthấp, bên cạnh việc điều chỉnhtăng thêm, 13,7% mức lương hưu, trợcấp bảo hiểm xã hội hàng tháng,Bộ Lao động-Thương binh và Xãhội phối hợp với Bộ Tài chính,Bộ Nội vụ trình Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 471/Q Đ-TTg ngày 30/3/2011 trợ cấp khó khănđột xuất từ 100.000 đồng – 250.000đồng/người.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Ủy ban CVĐXH Quốc hội;
- Ủy ban VHGDTNTNNĐ Quốc hội;
- Chủ nhiệm VPQH;
- Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP;
- Trưởng đoàn ĐBQH 63 tỉnh, thành phố;
- Bộ LĐTBXH: Các Thứ trưởng, Vụ BHXH, Vụ LĐTL;
- Lưu VP, TKTH (2).

BỘ TRƯỞNG




Nguyễn Thị Kim Ngân