BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
---------------

Số: 2234 TCT/CS
V/v Chi phí tiền lương

Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2001

Kính gửi:Cục thuế TP. Đà Nẵng

Trả lời Công văn số 2576/CT-TTr ngày 27 tháng 4năm 2001 của Cục thuế hỏi về việc chi phí tiền lương để xác định thu nhập chịuthuế TNDN; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1/ Về chi phí tiền lương, tiền công đối vớidoanh nghiệp nhà nước: Công văn số 1125 TCT/NV2 ngày 21/3/2000 của Tổng cụcThuế hướng dẫn quyết toán thuế năm 1999 và Công văn số 687 TCT/NV2 ngày6/3/2001 của Tổng cục Thuế hướng dẫn quyết toán thuế năm 2000 đã hướng dẫn rõtiền lương tính vào chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế không vượtquá đơn giá tiền lương do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt được xây dựng theoNghị định số 28/CP ngày 28/3/1997 của Chính phủ về đổi mới quản lý tiền lương,thu nhập trong các DNNN và khối lượng công việc hoàn thành trong năm. Về nguyêntắc quỹ tiền lương chỉ được dùng cho mục đích trả lương không dùng vào mục đíchkhác. Vì vậy, trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện đúng các quy định về xâydựng mức lao động, có đơn giá tiền lương được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt,chi phí tiền lương được xác định trên cơ sở đơn giá tiền lương được duyệt vàokhối lượng công việc đã hoàn thành, đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinhdoanh nhưng chưa chi hết thì phần chưa chi hết không phải đưa vào thu nhập chịuthuế TNDN.

2/ Về chi phí tiền lương, tiền công đối với cơsở kinh tế ngoài quốc doanh: Việc xác định chi phí tiền lương để xác định thunhập chịu thuế TNDN được căn cứ vào hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao độngtập thể. Trường hợp phát hiện tiền lương thực trả thấp hơn mức lương theo hợpđồng lao động thì chỉ được tính vào chi phí theo lương thực trả. Việc hợp đồnglao động có đúng theo quy định của pháp luật lao động hay không, đề nghị Cụcthuế làm việc với cơ quan quản lý chuyên ngành về lao động của địa phương để cókết luận chính xác.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế được biết vàthực hiện.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Văn Huyến