BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 2258 TCT/NV5
V/v thu hồi thuế GTGT hàng xuất khẩu

Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 2003

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Đồng Nai

Trả lời công văn số 818/CT-ĐTNN ngày 3/6/2003 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai về việc xử lý đối với số thuế GTGT đã hoàn, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ vào khoản 2, Điều 1 Nghị định số 76/2002/NĐ-Chính phủ ngày 13/9/2002 của Chính phủ, Điểm 1.1, Mục III Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2002 của Bộ Tài chính thì hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% (không phần trăm) phải có đầy đủ các hồ sơ, chứng từ chứng minh là hàng thực tế đã xuất khẩu. Việc thanh toán đối với hàng hoá xuất khẩu để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% (không phần trăm) phải thực hiện qua ngân hàng. Phương thức và chứng từ thanh toán qua ngân hàng thực hiện theo quy định tại công văn số 1186/NHNN-QLNH ngày 01/11/2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Theo các quy định trên đây, thì trường hợp Công ty I.S.A xuất khẩu hàng hoá nhưng không đòi được tiền do người mua hàng là Công ty nước ngoài đã phá sản thì giá trị số hàng này không đủ điều kiện được áp dụng thuế GTGT theo quy định trên. Do đó, đề nghị Cục thuế thu hồi lại khoản tiền thuế GTGT đã hoàn tương ứng với toàn bộ giá trị lô hàng này, số thuế GTGT đầu vào của lô hàng xuất khẩu không đòi được tiền nói trên hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN với điều kiện Công ty phải có đầy đủ hồ sơ giấy tờ chứng minh về việc không thu hồi được tiền bán hàng này.

Tổng cục thuế trả lời để cục thuế biết và thực hiện./.

KT TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Văn Huyến