BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2285/BGDĐT-GDTH
V/v Tổ chức Tuần lễ toàn cầu hành động Giáo dục cho mọi người năm 2011

Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2011

Kính gửi: Giám đốc các Sở Giáo dục và Đào tạo

Trong khuôn khổ Chiến dịch toàn cầuvì giáo dục, Tuần lễ toàn cầu hành động Giáo dục cho mọi người (GDCMN) là một sựkiện thường niên được tổ chức vào tuần đầu tiên của tháng 5 trên phạm vi toàncầu. Năm 2011, Tuần lễ toàn cầu hành động GDCMN tại Việt Nam sẽ diễn ra từ ngày2-8/5/2011 với chủ đề: “Giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi” được BộGiáo dục và Đào tạo cùng Liên minh Chiến dịch toàn cầu vì Giáo dục ở Việt Namphát động với các mục tiêu chính:

- Nâng cao nhận thức và sự quan tâmcủa xã hội về tầm quan trọng của việc đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tươnglai.

- Vận động để Chính phủ, cácban/ngành và toàn xã hội quan tâm và hành động hỗ trợ giáo dục cho mọi người,đặc biệt là cho phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi.

Để các sở giáo dục và đào tạo tổchức tốt Tuần lễ toàn cầu hành động GDCMN, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn nhưsau:

1. Hoạt động cụ thể tại địa phương:

Các sở giáo dục và đào tạo chỉ đạocác cơ sở giáo dục tích cực tham gia hưởng ứng Tuần lễ toàn cầu hành động GDCMNnăm 2011 với chủ đề là: “Giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi” dướihình thức tọa đàm hoặc tổ chức theo “Kế hoạch bài giảng - Câu chuyện lớn” (cótài liệu tham khảo đính kèm). Thành phần tham dự gồm có các đồng chí lãnh đạođịa phương cùng các ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm,các cơ quan thông tấn báo chí nhằm nâng cao nhận thức và sự quan tâm của toànxã hội về việc giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi.

Sau khi kết thúc tuần lễ các sở giáodục và đào tạo tập hợp mỗi cơ sở giáo dục một câu chuyện hoặc một trường hợp điểnhình về trẻ em gái hoặc phụ nữ thiệt thòi đã thay đổi cuộc sống và góp phần vàoxã hội của họ như thế nào nhờ giáo dục và gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhữngcâu chuyện được chọn đưa vào Câu chuyện lớn sẽ được nhận giải thưởng (giấychứng nhận và tiền thưởng của Ban tổ chức).

2. Công tác tuyên truyền:

Các sở giáo dục và đào tạo chỉ đạocông tác tuyên truyền cho Tuần lễ toàn cầu hành động GDCMN với khẩu hiệu “Giáodục cho phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi – Đó là quyền cần thực hiện tốt!” bằngcác hình thức như tranh cổ động, băng rôn, phù hiệu đeo trong ngày tổ chức sựkiện tại các sở giáo dục và đào tạo, các trường và những nơi công cộng khác.

3. Thời gian tổ chức: Tuần lễ toàncầu hành động Giáo dục cho mọi người sẽ diễn ra từ ngày 2 đến 8 tháng 5 năm2011. Các tỉnh, thành phố có thể chọn các hình thức tổ chức linh hoạt và phùhợp với điều kiện cụ thể của địa phương.

4. Kinh phí cho các hoạt động củaTuần lễ toàn cầu hành động GDCMN được lấy từ ngân sách địa phương.

Kết thúc Tuần lễ toàn cầu hành độngGDCMN, các sở giáo dục và đào tạo báo cáo kết quả thực hiện và gửi về Bộ Giáodục và Đào tạo (qua Văn phòng Ban điều phối quốc gia Giáo dục cho mọi người),Phòng 601A nhà A, điện thoại/fax: 04 36230740 - số 49 Đại Cồ Việt, Hà Nội trướcngày 15/6/2011.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Các Thứ trưởng;
- VP Bộ, Các Vụ: GDMN, GDTH, GDTrH, GDTX, GDDT, CTHSSV, KHTC, HTQT (để phối hợp thực hiện);
- Ban điều phối GDCMN;
- Lưu VT, GDTH.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Vinh Hiển

Tuần lễ toàn cầu hành động 2011: KẾHOẠCH BÀI GIẢNG ‘CÂU CHUYỆN LỚN’

 “Giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gáithiệt thòi - Đó là quyền, cần thực hiện tốt!”

MỤC TIÊU

Để thảo luận hiện trạng là có trẻ emvà người lớn chưa bao giờ có cơ hội được đi học và trong số đó là phụ nữ và trẻem gái.

Để nâng cao nhận thức và khuyếnkhích học sinh nhìn ra thế giới dưới quan điểm của giới.

Để thảo luận về những cam kết củacác nhà lãnh đạo và thực tế đã thực hiện những cam kết này

Để minh chứng cho việc học sinh cóthể gửi đi những thông điệp như một phần trong nỗ lực của toàn cộng đồng thếgiới.

Vào cuối buổi học, người học có thể:

Hiểu về lợi ích mang lại từ hoạtđộng giáo dục dành cho trẻ em gái.

Trân trọng sự khác biệt trong cáchsống của các trẻ em khác ở mọi nơi trên thế giới

Hiểu được những điều cần thiết đểgiúp cho các trẻ em gái có thể đến trường cũng như những rào cản khiến các emkhông thể đi học.

PHẦN A

MỤC A: GIỚI THIỆU (5 phút)

Giáo viên giải thích rằng trẻ emtrên toàn thế giới đang cùng đồng hành với một số những phụ nữ tiêu biểu củathế giới trong Bài học về Câu chuyện Lớn cùng với hàng triệu phụ nữ và trẻ emkhông có cơ hội đến trường.

Giáo viên sẽ hỏi cả lớp xem liệu cácem có biết hiện tại trên toàn thế giới có bao nhiêu người không được đi học v àtrong đó bao nhiêu người là phụ nữ và trẻ em gái hay không.

Giáo viên có thể chia sẻ các thôngtin cơ bản sau:

72 triệu trẻ em toàn thế giới hiệnđang thất học

Trong số đó, 54 phần trăm (tươngđương khoảng 39 triệu) là trẻ em gái; và

Hai phần ba người lớn mù chữ là phụnữ.

Một trẻ em gái không được đi học sẽcó xu hướng:

Kết hôn sớm

Có những đứa con suy dinh dưỡng vàcon có thể chết vì bệnh tật; và

Nghèo đói.

Giáo viên có thể hỏi học sinh liệucác em có biết bất kỳ phụ nữ hoặc trẻ em gái nào tiêu biểu hay không. Nhữngngười đó có đi học hay khhông?

MỤC B – VAI TRÒ GIỚI VÀ GIÁO DỤC

Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ranhững hoàn cảnh mà ở đó làm tăng sự khác biệt giữa trẻ em trai và trẻ em gái vàgây ra những tác động tiêu cực đối với việc học tập của các em.

Giáo viên hỏi về tầm quan trọng củacác cơ hội học tập cho nữ giới ở các nước đang phát triển.

 (Ở những lớp cao hơn có thể thảoluận về Công ước về Quyền Trẻ em). Tóm tắt:

Công ước về Quyền Trẻ em (CRC) đượcthông qua năm 1989 và đây là một văn bản luật quốc tế đầu tiên mang tính ràngbuộc quốc tế đã đề cập đến các quyền con người một cách đầy đủ.

Công ước đã nêu cụ thể những quyềncơ bản của con người mà trẻ em ở bất kỳ nơi đâu đều có bất kể địa vị, tôn giáo,chủng tộc, v.v. Những quyền này bao gồm: quyền được sống; quyền được phát triểnhết tiềm năng; quyền được bảo vệ chống lại sự xâm hại, ngược đãi và lạm dụng;quyền được tham gia đầy đủ vào các sinh hoạt văn hóa xã hội và gia đình. Bốn nguyêntắc cơ bản của Công ước là không phân biệt đối xử; hết lòng vì lợi ích tốt nhấtcho trẻ em; quyền được sống, được tồn tại và phát triển; và tôn trọng ý kiếncủa trẻ.

Công ước đã gần như được công nhậntrên toàn thế giới, với sự phê chuẩn của 194 quốc gia.

Thông qua việc chấp thuận thực hiệnnhững nghĩa vụ đưa ra trong Công ước về Quyền trẻ em (dù phê chuẩn hay tánthành Công ước), chính phủ các quốc gia đã cam kết sẽ bảo vệ và đảm bảo cácquyền của trẻ em- và họ cũng đồng ý chịu trách nhiệm giải trình về cam kết nàytrước cộng đồng quốc tế.

Giáo viên chia sẻ một số kiến thứcvà thảo luận về địa lý, sự khác biệt văn hóa và điều kiện sống của trẻ em ởnhững quốc gia kém phát triển nhất.

Giáo viên hỏi học sinh là theo cácem cần làm gì để tăng cường hơn nữa những cơ hội học tập bình đẳng cho nữ giớivà nam giới.

Liên hệ hiểu biết tại Việt Nam, nơi mà trẻ em đặc biệt là trẻ em gái có ít cơ hội tới trường.

Giáo viên đề nghị học sinh nêu tênmột số công việc mà các em biết và hỏi các em xem những công việc này thường donam hay/và nữ giới làm.

Giáo viên hỏi các học sinh về nhữngcông việc mà các em thường làm ở nhà. Có những việc nào thường hay làm bởi namhoặc nữ không. Sự phân công như vậy có là công bằng chưa?

Giáo viên hỏi học sinh rằng các emcảm thấy thế nào nếu bố mẹ bảo các em không đi học nữa vì có nhiều việc nhà cầnlàm.

Giáo viên hỏi học sinh là tại saohọc tập lại quan trọng và lý do vì sao một số bạn, nhất là bạn gái, lại khôngđi học.

Một số trả lời có thể là:

Một số trẻ em sống ở những vùng cóxung đột hoặc chịu ảnh hưởng của thiên tai;

Taị Việt Nam trẻ em ghèo vùng sâuvùng xa khó khăn.

Theo một số văn hóa, trẻ em gáikhông được ưu tiên khi điều kiện tài chính cho giáo dục hạn chế;

Trẻ em gái có thể bị buộc phải thôihọc, kết hôn sớm để các em dành thời gian cho công việc nhà

Một số trẻ em sống ở xa trường họcvà việc đi lại tới trường khá nguy hiểm nên các em được giữ ở nhà. Đặc biệt,trẻ em gái có thể trở thành mục tiêu của bạo lực và làm dụng;

Nghèo đói: một số trẻ em bị buộcphải đóng góp vào thu nhập của gia đình thông qua việc đi làm;

Các em không có tiền để mua sách vàđồng phục;

Các em không có tiền để đóng họcphí;

Không có đủ trường học dành cho mọitrẻ em; và

Không có đủ giáo viên.

MỤC C – CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM GÌ (10Phút)

Giáo viên hỏi học sinh là theo cácem thì điều gì có thể giúp cho các trẻ em gái được đi học dễ dàng hơn.

Giáo viên hỏi học sinh là những việccác em đã đóng góp: như sách vở, quần áo, đồ dùng học tập…giúp các bạn đặc biệtlà các bạn gái thiệt thòi để các bạn được đi học.

Một số câu trả lời có thể:

Tăng cường sự hỗ trợ của chính phủđối với giáo dục của trẻ em gái ở các nước đang phát triển

Cung cấp các công trình vệ sinh dànhcho trẻ em gái để bảo vệ sự riêng tư cá nhân của các em

Tháo bỏ những khuôn mẫu trong minhhọa mà thường làm cho trẻ em gái ở thế thua kém hơn;

Xóa bỏ học phí và các chi phí ẩnkhác trong giáo dục; và

Khuyến khích trẻ em trai và nam giớitham gia vận động cho giáo dục dành cho trẻ em gái và phụ nữ.

Giáo viên hỏi cả lớp những câu hỏisau. Nếu gặp một chính trị gia, các em có thể hỏi những câu hỏi sau:

Có bao nhiêu trẻ em không đi họctrên thế giới?

Khi nói đến giáo dục thì nhóm dân sốnào là thiệt thòi nhất?

Nêu tên của một người phụ nữ nổitiếng đã được đi học

Nêu một số lý do vì sao học tập làquan trọng

Cần phải làm gì để cải thiện giáodục cho trẻ em trai và trẻ em gái?

MỤC D- HỌAT ĐỘNG (30 Phút)

Giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩvề lý do vì sao giáo dục cho trẻ em gái là quan trọng. Thông qua tranh vẽ/minhhọa, yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi, “Giáo dục cho trẻ em gái hữu ích với tấtcả chúng ta như thế nào?”

Đề nghị tham khảo thêm thông tin chitiết về thể lệ cuộc thi vẽ tranh. (Cuộc thi vẽ tranh là tự nguyện. Hoạt độngnày có thể được thực hiện mà không nhất thiết nhằm tham gia cuộc thi, ví dụ trẻem và trường học có thể giữ lại những tranh vẽ).

Một số câu trả lời ví dụ như:

Một trẻ em gái được đi học sẽ trưởngthành một phụ nữ có giáo dục và thường có sức khỏe tốt hơn, tự chủ về kinh tếvà con cái của người đó sẽ có khả năng đi học cao hơn;

Một phụ nữ được đi học sẽ chăm sócsức khỏe cho bản thân và con em họ tốt hơn; và

Tảo hôn có thể được ngăn ngừa và sựlây lan bệnh tật như AIDS sẽ giảm đi.

Giáo viên yêu cầu cả lớp tưởng tượngxem cuộc sống của các em sẽ ra sao nếu các trẻ em gái không bao giờ được đihọc?

Giáo viên để cho 2-3 học sinh nói vềtác động của việc không được đi học.

Giáo viên đưa ví dụ về lợi ích củahọc tập đối với mọi người, bao gồm cả trẻ em gái. Một số ví dụ như:

Những người được đi học thường khỏemạnh hơn vì họ sẽ đưa ra những lựa chọn có lợi cho sức khỏe hơn trong cuộc sốngvà họ cũng tiếp cận được với thông tin về lối sống khỏe mạnh.

Giáo dục chống lại nạn đói. Phụ nữđược học tập sẽ có khả năng có những đứa con được hưởng sự nuôi dưỡng tốt hơn

Giáo dục giúp cứu các sinh mạng củacon người. Một đứa trẻ sinh ra bởi một bà mẹ được học tập sẽ có cơ hội sống tới5 tuổi lớn gấp 2 lần.

Giáo dục giúp ngăn chặn đói nghèo

Giáo viên sẽ hỏi cả lớp xem liệu cócông bằng không khi không phải tất cả phụ nữ và trẻ em gái đều được đi học.