BỘ THƯƠNG MẠI--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2331 TM/TCCB
V/v Thực hiện Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2001

Kính gửi:Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp

Phúc đáp văn bản số 42/ĐMDN ngày 30/5/2001 củaBan Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp về báo cáo tình hình thực hiệnChỉ thị số 20/1998/CT-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thương mạixin báo cáo như sau:

Thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TTg của Thủ tướngChính phủ ngày 01/6/1998 Bộ Thương mại đã trình Thủ tướng Chính phủ phương ánsắp xếp và đổi mới doanh nghiệp trực thuộc Bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội vàTP. Hồ Chí Minh. Đến tháng 10/1998 Bộ Thương mại đã trình Thủ tướng Chính phủphê duyệt phương án tổng thể sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp trực thuộc Bộ quảnlý trên phạm vi cả nước.

I. Về sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp;

a) Sắp xếp doanh nghiệp:

Trong những năm qua Bộ Thương mại đã tích cựcsắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp thuộc Bộ, cụ thể là: đã nghiên cứu trìnhThủ tướng Chính phủ cho thành lập Công ty Petecinter tại Liên bang Nga để buônbán trao đổi hàng hoá với nước Nga và các nước Đông Âu; thành lập một số côngty chuyên doanh thuộc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam như: Công ty xuất nhậpkhẩu Tổng hợp, Công ty xăng dầu tỉnh Quảng Ngãi, Công ty Hoá dầu, Công ty Gas(trên cơ sở tách các Xí nghiệp Gas từ các Công ty Xăng dầu khu vực).

Đã sáp nhập một số doanh nghiệp hoạt động sảnxuất kinh doanh kém hiệu quả như: Nhập Công ty Nông thổ sản 3 vào Công ty Xuấtnhập khẩu - Dịch vụ - Thương mại; Công ty Vật tư Tổng hợp Khánh Hòa vào Công tyXuất nhập khẩu 3; Công ty Vật tư Tổng hợp Bà Rịa - Vũng Tàu vào Công ty Xăngdầu Bà Rịa - Vũng Tàu; chuyển một số chi nhánh Công ty nhập vào các Công tythương nghiệp địa phương.

Từ năm 1998 đến năm 2000 Bộ Thương mại đã cùngvới Bộ Tài chính xét cấp cho một số doanh nghiệp được 13 tỷ đồng vốn và điêuđộng vốn, đất, nhà của những doanh nghiệp thuận lợi về vốn cho 19 doanh nghiệpcó khó khăn về tài chính với giá trị trên 26 tỷ đồng.

b) Về tiến độ thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước:

- Trước năm 1999 thực hiện chuyển được 1 doanhnghiệp trực thuộc Bộ thành công ty cổ phần.

- Năm 1999 thực hiện chuyển được 5 doanh nghiệpthành công ty cổ phần.

- Năm 2000 thực hiện chuyển đổi được 7 doanhnghiệp thành công ty cổ phần.

- 5 tháng đầu năm 2001 mới chuyển được 1 doanhnghiệp thành công ty cổ phần và đang tiến hành thẩm định giá trị các doanhnghiệp trong danh sách cổ phần hoá của năm 2001.

Các doanh nghiệp được cổ phần hoá từ năm 1999tới nay có 1 công ty trực thuộc Bộ còn đều là các đơn vị trực thuộc các Tổngcông ty, Công ty thuộc Bộ Thương mại.

c) Về cơ chế quản lý:

Đã xây dựng và ban hành “Quy chế giải quyếtnhững kiến nghị của các doanh nghiệp thuộc Bộ” về các lĩnh vực: xuất nhập khẩu,kế hoạch, kinh doanh, tài chính, tổ chức cán bộ... để cho doanh nghiệp có hànhlang pháp lý thông thoáng trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.

II. Mấy nhận xét tổng quát và kiến nghị:

a) Mấy nhận xét:

- Việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp ngànhthương mại trong những năm qua đã có tác động tích cực đối với công tác quản lývà sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ngành thương mạiđã luôn góp phần bảo đảm nhu cầu về vật tư, nguyên nhiên liệu, máy móc, thiếtbị phụ tùng , hàng hoá phục vụ sản xuất phát triển và nâng cao đời sồng củanhân dân trong nước.

- Các doanh nghiệp đã có sự chuyển đổi về tổchức và phương thức quản lý kinh doanh, từng bước thích ứng với cơ chế mới.Nhiều doanh nghiệp đã chú ý đầu tư, tổ chức sản xuất, tạo ra hàng hoá xuất khẩuvà tiêu dùng trong nước, là lực lượng kinh tế của Nhà nước trong việc điều hoàcung cầu, góp phần ổn định giá cả.

- Đã kết hợp giữa sản xuất với kinh doanh, giữakinh doanh xuất nhập khẩu gắn với kinh doanh trên thị trường nội địa, phươngthức kinh doanh xuất nhập khẩu được vận dụng một cách đa dạng, linh hoạt và cóhiệu quả, như tạm nhập tái xuất, liên doanh liên kết, gia công, đổi hàng, có tỷtrọng cao trong bán lẻ ở một ngành hàng thiết yếu, đóng góp nhiều cho ngân sách.

- Theo báo cáo của các doanh nghiệp, có thể cònthiếu chính xác song số doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, số doanhnghiệp kinh doanh kém hiệu quả có giảm, cụ thể như sau:

- Năm 1998 có 80,5% doanh nghiệp kinh doanh cóhiệu quả, còn 19,5% doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả trên tổng số 72 doanhnghiệp.

- Năm 1999 có 89% doanh nghiệp kinh doanh cóhiệu quả, còn 11% doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả trên tổng số 72 doanhnghiệp.

- Năm 2000 có 91% doanh nghiệp kinh doanh cóhiệu quả, còn 8,9% doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả trên tổng số 72 doanhnghiệp.

b) Tồn tại:

- Thương nghiệp nhà nước có số lượng lớn nhưngquy mô nhỏ, vốn ít, hoạt động trải rộng trên nhiều ngành hàng, nhiều địa bàntrên phạm vi cả nước.

- Thiếu vốn là tình trạng phổ biến của các doanhnghiệp nhà nước. Riêng các doanh nghiệp thương mại chỉ được cấp một số tài sảncố định và hàng hoá theo kế hoạch Nhà nước giao để thực hiện việc phân phối cấpphát hàng thời bao cấp, vốn lưu động quá ít, chủ yếu là vay ngân hàng và huyđộng từ các nguồn khác.

- Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cònthấp so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng ngành hàng, vì thiếuvốn đổi mới công nghệ và thiết bị...

c) Kiến nghị:

1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một việcmới, khó khăn phức tạp, đặc thù của loại hình doanh nghiệp thương mại thuần tuýlà sản phẩm không cụ thể như các doanh nghiệp sản xuất... nhiều doanh nghiệpthương mại còn lúng túng trong quá trình xử lý công nợ, trong việc xây dựngphương án công ty cổ phần. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính ưu tiên xử lýcông nợ tồn đọng ở các doanh nghiệp khi tiến hành triển khai cổ phần hoá.

2. Việc thẩm định giá trị doanh nghiệp còn chậm,làm cho doanh nghiệp được cổ phần hoá phải chờ đợi kết quả (nhất là xác địnhgiá trị doanh nghiệp khi giảm vốn), rồi mới làm tiếp được các bước sau.

Đề nghị Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứugiảm bớt các thủ tục trong khâu thẩm định giá trị doanh nghiệp. Nên giao chocác Bộ, ngành quyết định giá trị doanh nghiệp nhà nước dưới mức 20 tỷ và đượcxác định mức vốn giảm ở các doanh nghiệp dưới mức 500 triệu đồng Việt Nam.

3. Trong quá trình thực hiện cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước có một số doanh nghiệp có những vướng mắc, trong đó có quy địnhtại Khoản 2 - Điều 13 của Pháp lệnh chống tham nhũng”... cán bộ lãnh đạo, cánbộ quản lý nghiệp vụ của doanh nghiệp, vợ, chồng, bố, mẹ, con của họ làm việctại doanh nghiệp đó chỉ được mua cổ phần không vượt quá mức cổ phần bình quâncủa các cổ đông...” trong Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chínhphủ quy định diện hẹp hơn” ...chỉ được mua cổ phần giá ưu đãi không vượt quámức cổ phần bình quân của các cổ đông trong doanh nghiệp”.

Đề nghị Chính phủ có hướng dẫn chỉ đạo cụ thể rõhơn. Nên có chính sách cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý doanh nghiệp đượchưởng tiêu chuẩn như những người lao động bình thường để có tác động thúc đẩynhanh thực hiện các bước cổ phần hoá doanh nghiệp.

4. Trong Điều 8 và 9 của Luật phá sản doanhnghiệp quy định: Doanh nghiệp muốn được Toà án xét việc tuyên bố phá sản doanhnghiệp thì cần có đơn của tổ chức công đoàn hoặc đại diện tập thể người laođộng và chủ doanh nghiệp (Tổng giám đốc, giám đốc). Đây là một quy định khókhăn đối với việc tuyên bố phá sản một doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, vì ngườilao động không thể tự mình ký đơn phá sản doanh nghiệp để mất việc làm.

Đề nghị Chính phủ có hướng dẫn thực hiện nhữngđiều trên thông thoáng hơn, dễ thực hiện hơn.

KT/BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI
THỨ TRƯỞNG




Mai Văn Dâu